Trang chủ › Milinda & Apadāna
Milinda & Apadāna
Milindapañha · Apadāna · 849 bài kinh
Milinda Vấn Đáp · Milindapañha
248 bài
1Phần Mở ĐầuMIL1 · 31 đoạnPhần mở đầu của Milindapañha: mấy bài kệ giới thiệu cuộc đối thoại giữa vua Milinda và ngài Nāgasena, mô tả kinh thành Sāgalā trù phú — nơi câu chuyện diễn ra — và chia toàn bộ tác phẩm thành sáu phần, từ Sự Liên Hệ Trong Quá Khứ đến các phẩm câu hỏi của đức vua.2Sự Liên Hệ Trong Quá Khứ
MIL2 · 337 đoạnKể lại nghiệp xưa nối kết hai nhân vật: vị sa-di bị cán chổi đánh đã phát hai lời nguyện về oai lực và tài ứng đối, người thầy cũng phát nguyện gỡ rối mọi câu hỏi của người học trò. Thiên tử Mahāsena vâng lời thỉnh cầu của Tăng đoàn, sinh xuống làm Nāgasena, bảy tuổi xuất gia, hai mươi tuổi đắc quả A-la-hán, rồi được phái đến Sāgalā để đối thoại với vua Milinda — vị vua đã làm câm lặng cả sáu giáo chủ ngoại đạo lẫn trưởng lão Āyupāla.3Tên Gọi và Ví Dụ Cỗ Xe
MIL3.1.1 · 108 đoạnVua Milinda hỏi ngài Nāgasena tên gì và vì sao ngài nói không tìm thấy một con người nào. Ngài Nāgasena lần lượt phân tích thân và năm uẩn, rồi dùng chính ví dụ cỗ xe của nhà vua để chỉ rõ: tên gọi chỉ là cách gọi quy ước nương vào các phần hợp lại, xét theo nghĩa rốt ráo không có một cái ta riêng biệt nào. Nhà vua thán phục tài ứng đối của ngài và trích dẫn bài kệ của Tỷ-kheo-ni Vajirā làm bằng chứng.4Bảy Năm Tu và Ví Dụ Cái Bóng
MIL3.1.2 · 13 đoạnVua Milinda hỏi ngài Nāgasena được bảy năm tu nghĩa là ngài là con số bảy hay con số bảy thuộc về ngài. Ngài Nāgasena chỉ vào bóng của nhà vua trên đất và trong chậu nước: vua là vua, bóng không phải là vua, nhưng nương vào vua mà có bóng. Cũng vậy, bảy là con số đếm các năm nương vào ngài mà có, chứ ngài không phải là con số bảy.5Cách Trò Chuyện của Bậc Trí
MIL3.1.3 · 20 đoạnTrước khi vào các câu hỏi chính, ngài Nāgasena đặt điều kiện: ngài chỉ trò chuyện theo cách của bậc trí, không theo cách của nhà vua. Bậc trí tranh luận có làm rối, có tháo gỡ, có phê bình và phản bác mà không giận; nhà vua thì ai trái ý là phạt. Vua Milinda nhận lời trò chuyện như với một người bạn học và đừng lo sợ, rồi hai bên thử nhau bằng một màn hỏi đáp chưa có câu hỏi mà đã có câu trả lời.6Hơi Thở Không Phải Là Sự Sống
MIL3.1.4 · 52 đoạnVua Milinda hẹn ngày mai trò chuyện ở nội cung và nhất quyết mời ngài Nāgasena cùng bất cứ bao nhiêu vị Tỷ-kheo tùy ý, làm quan Sabbadinna nhiều lần xin giới hạn mười vị phải xấu hổ. Trên đường vào thành Sāgalā, quan Anantakāya hỏi ngài Nāgasena là gì và cho rằng hơi gió ra vào, tức sự sống, là Nāgasena. Ngài chỉ ra người thổi tù và, thổi sáo thở ra không hít lại hơi ấy mà không chết, nên hơi thở ra vào chỉ là thân hành, không phải một linh hồn hay sự sống riêng biệt; nghe xong, Anantakāya xin làm nam cư sĩ.7Mục Đích của Sự Xuất Gia
MIL3.1.5 · 20 đoạnTại nội cung, sau bữa cúng dường trọng thể, vua Milinda hỏi ngài Nāgasena xuất gia vì mục đích gì và mục đích cao nhất là gì. Ngài đáp: xuất gia để nỗi khổ này chấm dứt và không còn khổ nào khác sinh lên, mục đích cao nhất là Niết-bàn không còn chấp thủ. Ngài cũng thành thật phân biệt: không phải ai cũng xuất gia vì mục đích ấy, có người vì sợ vua, sợ cướp, vì nợ nần hay để kiếm sống, và chính ngài lúc nhỏ xuất gia chỉ vì tin các vị Sa-môn sẽ dạy cho mình, về sau mới hiểu rõ mục đích thật.8Ai Tái Sinh, Ai Không Tái Sinh
MIL3.1.6 · 13 đoạnVua Milinda hỏi có ai chết mà không tái sinh không. Ngài Nāgasena đáp ngắn gọn: người còn phiền não thì tái sinh, người đã sạch phiền não thì không tái sinh. Khi nhà vua hỏi đến chính ngài, ngài đáp tùy thuộc vào việc còn chấp thủ hay không: còn chấp thủ thì sẽ tái sinh, hết chấp thủ thì không.9Tác Ý và Tuệ Khác Nhau
MIL3.1.7 · 10 đoạnVua Milinda hỏi người không tái sinh có phải chỉ nhờ tác ý đúng cách hay không. Ngài Nāgasena đáp là nhờ tác ý đúng cách, nhờ tuệ và các pháp tốt lành khác cùng hợp lại. Ngài cũng phân biệt rõ hai điều nhà vua ngỡ là một: tác ý thì loài vật như dê, bò, lạc đà cũng có, còn tuệ thì chúng không có.10Dấu Hiệu của Tác Ý và Tuệ: Ví Dụ Người Gặt Lúa
MIL3.1.8 · 16 đoạnVua Milinda hỏi tác ý và tuệ mỗi thứ có dấu hiệu gì. Ngài Nāgasena đáp: tác ý có dấu hiệu là sự cân nhắc hướng tới, tuệ có dấu hiệu là sự cắt đứt. Ngài dùng ví dụ người gặt lúa: tay trái nắm bó lúa như tác ý nắm lấy tâm, tay phải cầm liềm cắt lúa như tuệ cắt đứt các phiền não.11Giới Là Nền Tảng
MIL3.1.9 · 31 đoạnVua Milinda hỏi các pháp tốt lành khác là gì và giới có dấu hiệu gì. Ngài Nāgasena kể năm pháp là giới, đức tin, tinh tấn, niệm và định, rồi nói giới có dấu hiệu là làm nền tảng cho mọi pháp tốt lành như đất là nền cho hạt giống, cho công việc nặng và cho việc xây thành. Ngài kết bằng hai bài kệ của đức Thế Tôn khen giới là nền tảng, là gốc rễ và là bước đầu của mọi lời dạy.12Đức Tin Làm Tâm Trong Sáng: Ví Dụ Viên Ngọc Lọc Nước
MIL3.1.10 · 20 đoạnVua Milinda hỏi đức tin có dấu hiệu gì. Ngài Nāgasena đáp đức tin có hai dấu hiệu: làm cho trong sáng và bước tới, rồi giảng dấu hiệu thứ nhất: khi đức tin sinh khởi, nó đè nén các pháp che lấp, làm tâm trong và sáng rõ như viên ngọc lọc nước của vị chuyển luân vương làm rong rêu biến mất, bùn lắng xuống và nước trở nên trong vắt. Dấu hiệu bước tới được để dành cho câu hỏi tiếp theo.13Đức Tin Thôi Thúc Bước Tới: Ví Dụ Vượt Sông
MIL3.1.11 · 17 đoạnTiếp theo câu hỏi trước, ngài Nāgasena giảng dấu hiệu thứ hai của đức tin là bước tới: thấy người khác đã giải thoát, người tu hành sinh lòng tin và ra sức bước tới các quả Dự Lưu, Nhất Lai, Bất Lai và A-la-hán. Ngài dùng ví dụ con sông ngập tràn hai bờ: đám đông sợ hãi đứng lại, một người biết sức mình đã bơi qua trước, thấy vậy cả đám đông cũng bơi qua theo; cuối cùng ngài dẫn bài kệ trong Tương Ưng Bộ nói nhờ đức tin mà vượt qua dòng lũ.14Tinh Tấn Là Sự Nâng Đỡ
MIL3.1.12 · 18 đoạnVua Milinda hỏi tinh tấn có dấu hiệu gì. Ngài Nāgasena đáp tinh tấn có dấu hiệu là nâng đỡ: nhờ được tinh tấn chống đỡ, mọi pháp tốt lành không suy giảm. Ngài cho hai ví dụ: cây gỗ chống ngôi nhà sắp đổ và đội quân tăng viện giúp đội quân nhỏ đánh tan đội quân lớn, rồi dẫn lời đức Thế Tôn dạy vị Thánh đệ tử có tinh tấn thì bỏ điều bất thiện, tu tập điều thiện và giữ mình trong sạch.15Niệm: Không Quên và Biết Chọn Lấy
MIL3.1.13 · 37 đoạnVua Milinda hỏi niệm có dấu hiệu gì. Ngài Nāgasena đáp niệm có hai dấu hiệu: không quên và biết nắm lấy. Không quên là giữ cho các pháp tốt xấu không bị lãng quên, như viên quan giữ kho sáng chiều nhắc vua nhớ tài sản của mình; biết nắm lấy là phân biệt pháp nào có lợi thì giữ, pháp nào không có lợi thì bỏ, như vị tướng quân báu biết điều lợi hại cho nhà vua. Ngài kết bằng lời đức Thế Tôn: niệm có ích trong mọi trường hợp.16Định Là Pháp Dẫn Đầu
MIL3.1.14 · 17 đoạnVua Milinda hỏi định có dấu hiệu gì. Ngài Nāgasena đáp định có dấu hiệu là dẫn đầu: mọi pháp tốt lành đều lấy định làm đầu, hướng về định và ngả về định. Ngài cho hai ví dụ: mọi cây xà của ngôi nhà mái nhọn đều tụ về chóp mái, và toàn thể đoàn quân bốn binh chủng đều xoay quanh vị vua khi ra trận; cuối cùng ngài dẫn lời đức Thế Tôn dạy hãy tu tập định, vì người có định thì hiểu biết đúng như thật.17Tuệ Soi Sáng Như Ngọn Đèn
MIL3.1.15 · 17 đoạnVua Milinda hỏi tuệ có dấu hiệu gì. Ngài Nāgasena nhắc lại dấu hiệu đã nói trước là cắt đứt, rồi thêm dấu hiệu thứ hai là soi sáng: khi tuệ sinh khởi, nó xua tan bóng tối vô minh, làm bốn sự thật cao quý hiện rõ và người tu hành thấy mọi thứ là vô thường, khổ, vô ngã. Ngài dùng ví dụ ngọn đèn mang vào ngôi nhà tối: đèn vào thì bóng tối tan, các hình sắc hiện rõ.18Nhiều Pháp Khác Nhau, Cùng Diệt Phiền Não
MIL3.1.16 · 14 đoạnCâu hỏi cuối của Đại Phẩm: vua Milinda hỏi các pháp tốt lành tuy khác nhau có cùng làm thành một việc duy nhất không. Ngài Nāgasena đáp đúng vậy, tất cả cùng làm một việc là diệt các phiền não, như đoàn quân gồm voi, ngựa, xe và bộ binh tuy khác nhau nhưng cùng làm một việc là chiến thắng quân địch trên chiến trường. Câu hỏi này khép lại Đại Phẩm với mười sáu câu hỏi.19Sự Tiếp Nối của Các Pháp: Không Phải Người Ấy, Không Phải Người Khác
MIL3.2.1 · 32 đoạnVua Milinda hỏi người tái sinh là chính người cũ hay một người khác. Ngài Nāgasena đáp: không phải chính người ấy, cũng không phải người khác, như đứa trẻ và người lớn nương vào cùng một thân, như ngọn đèn cháy suốt đêm và như sữa thành sữa chua, bơ đặc, bơ trong.20Người Không Còn Tái Sinh Có Biết Mình Không Tái Sinh Không
MIL3.2.2 · 17 đoạnVua Milinda hỏi người không còn tái sinh có biết mình sẽ không tái sinh không. Ngài Nāgasena đáp là có: khi nhân và duyên của tái sinh đã dừng lại thì biết, như người nông dân không cày gieo nữa thì biết kho lúa sẽ không đầy lại.21Trí và Tuệ: Cái Đã Thấy Rõ Thì Không Mất
MIL3.2.3 · 50 đoạnCuộc đối thoại phân biệt chỗ còn mê mờ và chỗ không còn mê mờ của người đã có trí, tuệ. Tuệ làm xong việc rồi diệt, nhưng điều đã được tuệ làm rõ là vô thường, khổ, vô ngã thì không mất, như thư đã viết xong dù đèn đã tắt, và như năm quyền dập tắt các ô nhiễm trong tâm.22Cảm Thọ của Người Không Còn Tái Sinh
MIL3.2.4 · 26 đoạnVua Milinda hỏi người không còn tái sinh có còn cảm nhận khổ không. Ngài Nāgasena đáp: còn khổ thuộc về thân vì nhân của nó chưa dừng, không còn khổ thuộc về tâm vì nhân của nó đã dừng; bậc A-la-hán không ham sống, không ham chết, tỉnh giác chờ thời điểm chín muồi như lời kệ của trưởng lão Sāriputta.23Thọ Lạc Là Thiện, Bất Thiện Hay Không Xác Định
MIL3.2.5 · 22 đoạnVua Milinda cho rằng cảm thọ dễ chịu không thể vừa là thiện vừa là khổ. Ngài Nāgasena phá lập luận ấy bằng ví dụ khối sắt nóng và cục băng lạnh đều làm bỏng được, rồi giảng theo Vi Diệu Pháp về sáu nhóm sáu cảm thọ, gộp thành một trăm lẻ tám cảm thọ.24Cái Gì Tái Sinh: Danh và Sắc
MIL3.2.6 · 57 đoạnNgài Nāgasena dạy danh và sắc tái sinh, nhưng không phải chính danh và sắc này: nghiệp làm với danh và sắc này đưa tới một danh và sắc khác, nên không thoát khỏi nghiệp ác. Các ví dụ về xoài, lúa, mía, lửa cháy ruộng, đèn cháy làng, cô bé được hỏi cưới và hũ sữa thành sữa chua làm rõ điều ấy.25Ngài Nāgasena Có Tái Sinh Nữa Không
MIL3.2.7 · 14 đoạnVua Milinda hỏi riêng ngài Nāgasena có tái sinh nữa không. Ngài từ chối trả lời thẳng và nhắc lại điều đã nói: nếu còn nắm giữ thì tái sinh, nếu không còn nắm giữ thì không tái sinh, như người đã được vua ban thưởng mà còn nói vua không đền đáp gì là không đúng.26Danh và Sắc Nương Nhau Mà Sinh
MIL3.2.8 · 14 đoạnVua Milinda hỏi trong danh và sắc, cái gì là danh, cái gì là sắc, và vì sao chúng không tái sinh riêng lẻ. Ngài Nāgasena đáp: phần thô là sắc, các pháp tinh tế thuộc về tâm là danh; chúng nương vào nhau và sinh lên cùng nhau, như mầm trứng và quả trứng của con gà mái.27Thời Gian: Khoảng Nào Có, Khoảng Nào Không
MIL3.2.9 · 17 đoạnVua Milinda hỏi dòng thời gian dài là gì và mọi khoảng thời gian có thật không. Ngài Nāgasena đáp: quá khứ, tương lai và hiện tại là các khoảng thời gian; khoảng của những pháp đã diệt thì không còn, khoảng của những pháp còn cho quả và đưa tới tái sinh thì có, còn chúng sinh đã nhập Niết-bàn thì không còn khoảng thời gian nữa.28Cội Nguồn của Thời Gian Là Vô Minh
MIL3.3.1 · 10 đoạnVua Milinda hỏi cội nguồn của thời gian quá khứ, tương lai và hiện tại. Ngài Nāgasena đáp cả ba đều có cội nguồn là vô minh, và kể trọn chuỗi duyên khởi từ vô minh tới già chết, kết luận điểm đầu tiên của toàn bộ khối khổ này không thấy được.29Điểm Đầu Tiên Không Thấy Được
MIL3.3.2 · 29 đoạnNgài Nāgasena cho ba ví dụ về việc điểm đầu tiên của dòng thời gian không thấy được: hạt giống và trái nối nhau, gà và trứng nối nhau, và vòng tròn vẽ trên đất cùng các vòng quay của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý mà đức Thế Tôn đã nói.30Có Điểm Đầu Tiên Thấy Được, Có Điểm Không
MIL3.3.3 · 19 đoạnVua Milinda hỏi điểm đầu tiên là cái nào và có phải mọi điểm đầu tiên đều không thấy được. Ngài Nāgasena đáp: điểm đầu tiên của vô minh thì không thấy được, còn điểm đầu tiên của cái sinh thành rồi tan rã thì thấy được, và kết luận bằng ví dụ cái cây: các uẩn là những hạt giống của toàn bộ khối khổ.31Các Pháp Sinh Lên và Diệt Đi Theo Duyên
MIL3.3.4 · 11 đoạnVua Milinda hỏi có những pháp được tạo thành nào sinh lên không. Ngài Nāgasena kể chuỗi từ mắt và hình sắc tới già chết khi các duyên có mặt, và kể ngược lại: khi các duyên vắng mặt, toàn bộ khối khổ này diệt mất.32Không Có Gì Chưa Từng Có Mà Sinh Lên
MIL3.3.5 · 42 đoạnNgài Nāgasena khẳng định không có pháp được tạo thành nào chưa từng có mà sinh lên; mọi thứ sinh lên từ những gì đã có, qua các ví dụ về ngôi nhà, hạt giống, người thợ gốm, đàn vīṇā, bộ gỗ đánh lửa, viên ngọc bắt nắng và tấm gương.33Không Tìm Được Một Người Biết Bên Trong
MIL3.3.6 · 38 đoạnVua Milinda nêu ý kiến có một sự sống ở bên trong nhìn, nghe, ngửi, nếm, chạm và biết qua bất cứ cửa nào nó muốn, như người trong lâu đài nhìn qua bất cứ cửa sổ nào. Ngài Nāgasena lần lượt phá ý kiến ấy bằng các câu hỏi về năm cửa, về ông Dinna và về mật không vào miệng, rồi giảng theo Vi Diệu Pháp: các pháp sinh lên do duyên qua sáu cửa và ở đây không tìm được một người biết nào cả.34Nhãn Thức Sinh Trước, Ý Thức Sinh Sau
MIL3.3.7 · 50 đoạnNgài Nāgasena giải thích ý thức sinh lên cùng nơi với nhãn thức và các thức khác, không do ra lệnh cho nhau, mà vì tính xuôi xuống như nước mưa, vì cùng một cửa như thành một cửa, vì đã quen đi như xe bò, và vì đã thực hành quen như người thợ mới thành thạo.35Đặc Tính của Xúc Là Chạm Vào
MIL3.3.8 · 22 đoạnTiếp nối câu hỏi về ý thức, ngài Nāgasena dạy mọi pháp lấy xúc làm đầu đều sinh cùng nơi với ý thức, và xúc có đặc tính là chạm vào, qua ba ví dụ: hai con dê húc nhau, hai bàn tay vỗ vào nhau và hai cái chập chõa đánh vào nhau.36Đặc Tính của Thọ Là Cảm Nhận và Trải Nghiệm
MIL3.3.9 · 11 đoạnNgài Nāgasena dạy thọ có đặc tính là cảm nhận và là trải nghiệm, qua ví dụ người được vua ban thưởng rồi hưởng năm thứ vui thích, và người làm việc tốt, sau khi chết sinh lên cõi trời rồi hưởng các vui thích của cõi trời.37Đặc Tính của Tưởng Là Nhận Ra
MIL3.3.10 · 13 đoạnNgài Nāgasena dạy tưởng có đặc tính là nhận ra: nó nhận ra màu xanh, vàng, đỏ, trắng và đỏ tía, như viên quan giữ kho của vua vào kho, nhìn thấy các đồ vật của vua rồi nhận ra từng thứ.38Đặc Tính của Tư Là Quyết Định và Tạo Thành
MIL3.3.11 · 15 đoạnNgài Nāgasena dạy tư có đặc tính là quyết định trong tâm và là tạo thành, qua hai ví dụ ngược nhau: người pha thuốc độc cho mình và người khác cùng uống thì cùng khổ và cùng đi cõi khổ, người pha món bổ dưỡng cho mình và người khác cùng uống thì cùng dễ chịu và cùng đi cõi trời.39Đặc Tính của Thức Là Nhận Biết
MIL3.3.12 · 15 đoạnNgài Nāgasena dạy thức có đặc tính là nhận biết, qua ví dụ người giữ thành ngồi ở ngã tư giữa thành thấy người đến từ bốn phía, và qua việc nhận biết hình sắc, âm thanh, mùi, vị, vật chạm và các pháp bằng thức qua sáu cửa.40Đặc Tính của Tầm Là Áp Vào
MIL3.3.13 · 10 đoạnNgài Nāgasena dạy tầm có đặc tính là áp vào, đặt tâm vào đối tượng, như người thợ mộc áp thanh gỗ đã chuẩn bị kỹ vào chỗ nối.41Đặc Tính của Tứ Là Rà Đi Rà Lại
MIL3.3.14 · 12 đoạnNgài Nāgasena dạy tứ có đặc tính là rà đi rà lại, giữ tâm ở trên đối tượng, qua ví dụ cái đĩa đồng bị đánh vào rồi còn vang ngân tiếp: sự đánh vào là tầm, tiếng vang tiếp theo là tứ. Đây là câu hỏi cuối của phẩm thứ ba, phẩm có mười bốn câu hỏi.42Câu Hỏi về Việc Phân Tách Xúc, Thọ và Các Pháp Đi Cùng
MIL3.4.1 · 13 đoạnVua Milinda hỏi có thể tách riêng xúc, thọ, tưởng, tác ý, thức, tầm và tứ — những pháp đã hợp lại thành một khối — để chỉ rõ từng pháp không. Ngài Nāgasena trả lời là không thể, như không thể tách riêng từng vị trong một món nước chấm đã nêm chung, dù mỗi pháp vẫn hiện ra theo đặc tính riêng của nó.43Câu Hỏi về Cách Nhận Biết Muối
MIL3.4.2 · 18 đoạnNgài Nāgasena gài vua Milinda vào một vòng hỏi đáp về muối: muối được nhận biết bằng lưỡi chứ không phải bằng mắt, muối không thể được mang đến một mình tách khỏi tính nặng của nó, và cái cân cân được là tính nặng chứ không phải chính muối. Qua đó, vua thấy rõ mỗi pháp chỉ được biết qua lĩnh vực riêng của nó.44Câu Hỏi về Năm Căn Sinh Ra do Nhiều Nghiệp Khác Nhau
MIL3.4.3 · 12 đoạnVua Milinda hỏi năm căn — mắt, tai, mũi, lưỡi và thân — sinh ra do nhiều nghiệp khác nhau hay do một nghiệp duy nhất. Ngài Nāgasena đáp là do nhiều nghiệp khác nhau, như nhiều loại hạt giống gieo trên cùng một thửa ruộng thì cho ra nhiều loại quả khác nhau.45Câu Hỏi về Sự Khác Nhau của Nghiệp
MIL3.4.4 · 13 đoạnVua Milinda hỏi vì sao con người không ai giống ai về tuổi thọ, sức khỏe, sắc đẹp, quyền lực, của cải, dòng họ và trí tuệ. Ngài Nāgasena đáp rằng vì nghiệp của mỗi người khác nhau, như vị của cây khác nhau vì hạt giống khác nhau, và dẫn lời đức Phật dạy chúng sinh là chủ và là kẻ thừa hưởng nghiệp của mình.46Câu Hỏi về Việc Tinh Tấn từ Trước
MIL3.4.5 · 37 đoạnVua Milinda hỏi vì sao phải tinh tấn ngay từ trước, thay vì chờ đến đúng lúc mới cố gắng, trong khi mục đích xuất gia là để nỗi khổ này diệt hẳn và nỗi khổ khác không sinh lên. Ngài Nāgasena trả lời bằng ba ví dụ — đào giếng trước khi khát, trồng lúa trước khi đói, luyện binh trước khi ra trận — và bài kệ của đức Phật về người đánh xe bò đi lạc vào đường gồ ghề.47Câu Hỏi về Lửa Địa Ngục Nóng Dữ Dội
MIL3.4.6 · 42 đoạnVua Milinda không tin hai điều: lửa địa ngục làm tan chảy ngay tảng đá lớn, nhưng chúng sinh trong địa ngục bị nung nấu nhiều ngàn năm lại không bị tiêu tan. Ngài Nāgasena dùng ba ví dụ song song — các loài thú cái ăn đá sỏi, các loài thú dữ ăn xương thịt, và những người phụ nữ mảnh mai ăn món cứng — trong đó thức ăn vào bụng thì tan ra, còn bào thai trong bụng lại không tan, vì sức mạnh của nghiệp.48Câu Hỏi về Đất Tựa trên Nước
MIL3.4.7 · 10 đoạnVua Milinda không tin lời dạy rằng mặt đất lớn tựa trên nước, nước tựa trên gió, gió tựa trên hư không. Ngài Nāgasena không tranh luận dài, mà lấy nước bằng một chiếc bình đựng nước và chỉ cho vua thấy nước trong bình được gió nâng đỡ như thế nào, để vua tự hiểu nước kia cũng được nâng đỡ như thế ấy.49Câu Hỏi về Sự Diệt Tận Là Niết-bàn
MIL3.4.8 · 11 đoạnVua Milinda hỏi sự diệt tận có phải là Niết-bàn không, và ngài Nāgasena khẳng định đúng như vậy. Người phàm bám chặt vào các xứ trong và ngoài nên bị cuốn trôi trong sinh, già và chết; vị đệ tử thánh không bám chặt, nên khát ái diệt, và theo đó chấp thủ, hữu, sinh cùng toàn bộ khối khổ đều diệt theo.50Câu Hỏi về Việc Đạt Được Niết-bàn
MIL3.4.9 · 8 đoạnVua Milinda hỏi có phải mọi người đều đạt được Niết-bàn không. Ngài Nāgasena đáp là không: chỉ người nào thực hành đúng đường — biết rõ điều cần biết rõ, hiểu thấu điều cần hiểu thấu, bỏ đi điều cần bỏ đi, tu tập điều cần tu tập và chứng ngộ điều cần chứng ngộ — người ấy mới đạt được Niết-bàn.51Câu Hỏi về Việc Biết Niết-bàn Là An Lạc
MIL3.4.10 · 16 đoạnVua Milinda hỏi người chưa đạt Niết-bàn làm sao biết Niết-bàn là an lạc. Ngài Nāgasena đáp bằng ví dụ người tay chân chưa từng bị chặt vẫn biết chặt tay chân là đau đớn, vì nghe tiếng than khóc của người đã bị chặt; cũng vậy, nghe lời những người đã thấy Niết-bàn, người ta biết Niết-bàn là an lạc. Đây là câu hỏi cuối của Phẩm Niết-bàn.52Câu Hỏi về Việc Có Đức Phật hay Không
MIL3.5.1 · 18 đoạnVua Milinda suy luận rằng vì ngài Nāgasena và các vị thầy của ngài đều chưa từng thấy đức Phật, nên không có đức Phật. Ngài Nāgasena lật lại chính lý luận ấy bằng con sông Ūhā trên dãy Himalaya mà vua và cha của vua cũng chưa từng thấy, và vua phải thừa nhận sông ấy vẫn có — cũng vậy, đức Thế Tôn vẫn có.53Câu Hỏi về Đức Phật Là Bậc Cao Nhất Không Ai Hơn
MIL3.5.2 · 13 đoạnVua Milinda hỏi làm sao ngài Nāgasena biết đức Phật là bậc cao nhất, không ai hơn, khi chưa từng thấy Ngài. Ngài đáp như người chưa từng thấy biển vẫn biết biển rộng lớn và sâu thẳm khi thấy năm con sông lớn không ngừng đổ vào mà biển không vơi cũng không đầy; ngài biết đức Phật cao nhất khi nhìn vào các vị đệ tử lớn của Ngài đã nhập Niết-bàn.54Câu Hỏi về Cách Biết Đức Phật Là Bậc Cao Nhất
MIL3.5.3 · 12 đoạnVua Milinda hỏi có thể biết được đức Phật là bậc cao nhất, không ai hơn hay không. Ngài Nāgasena đáp là có thể, như người ta vẫn biết đến vị thầy dạy chữ Tissa đã mất từ lâu nhờ chữ viết ông để lại; người nào thấy Pháp, người ấy thấy đức Thế Tôn, vì Pháp do chính Ngài giảng dạy.55Câu Hỏi về Việc Đã Thấy Pháp
MIL3.5.4 · 8 đoạnVua Milinda hỏi ngài Nāgasena đã thấy Pháp chưa. Ngài không trả lời bằng một khẳng định về mình, mà đáp rằng các đệ tử phải sống trọn đời theo sự chỉ dẫn của đức Phật và theo những điều đức Phật đã quy định — thấy Pháp gắn liền với việc sống theo Pháp.56Câu Hỏi về Tái Sinh mà Không Có Gì Chuyển Qua
MIL3.5.5 · 18 đoạnVua Milinda hỏi có phải không có gì chuyển qua mà vẫn có tái sinh không. Ngài Nāgasena khẳng định đúng như vậy, bằng hai ví dụ: một cây đèn được thắp từ cây đèn khác mà không có cây đèn nào chuyển sang, và câu thơ học từ thầy mà không có câu thơ nào chuyển từ thầy sang học trò.57Câu Hỏi về Người Đã Đạt Đến Tột Cùng của Sự Hiểu Biết
MIL3.5.6 · 9 đoạnVua Milinda hỏi có tìm được một người đã đạt đến tột cùng của sự hiểu biết không. Ngài Nāgasena đáp ngắn gọn: theo ý nghĩa tuyệt đối, không tìm được một người như thế — không có một cái ta cố định nào đứng ra làm chủ sự hiểu biết ấy.58Câu Hỏi về Việc Chuyển Sang Thân Khác
MIL3.5.7 · 16 đoạnVua Milinda hỏi nếu không có chúng sinh nào từ thân này chuyển sang thân khác, sao người ta không thoát khỏi nghiệp ác. Ngài Nāgasena đáp vì vẫn còn tái sinh: như kẻ trộm xoài đáng bị phạt dù trái xoài trộm không phải chính hạt xoài người chủ đã trồng, người làm nghiệp với danh và sắc này thì một danh và sắc khác tái sinh theo nghiệp ấy.59Câu Hỏi về Các Nghiệp Ở Tại Đâu
MIL3.5.8 · 14 đoạnVua Milinda hỏi nghiệp tốt và nghiệp xấu do danh và sắc này tạo ra thì ở tại đâu, và có chỉ ra được không. Ngài Nāgasena đáp các nghiệp ấy đi theo như bóng theo hình, nhưng không thể chỉ ra chỗ này hay chỗ kia, như không thể chỉ ra quả của một cây chưa ra quả đang ở chỗ nào trên cây.60Câu Hỏi về Người Sắp Tái Sinh Có Biết Trước Không
MIL3.5.9 · 12 đoạnVua Milinda hỏi người sắp tái sinh có biết trước rằng mình sẽ tái sinh không. Ngài Nāgasena đáp là có, như người nông dân đã gieo hạt xuống đất, khi mưa thuận hòa thì biết chắc thóc lúa sẽ sinh ra — nhân đã đủ thì quả được biết trước.61Câu Hỏi về Việc Chỉ Ra Đức Phật ở Đâu
MIL3.5.10 · 17 đoạnVua Milinda hỏi có đức Phật không và có thể chỉ ra Ngài ở chỗ này hay chỗ kia không. Ngài Nāgasena đáp đức Thế Tôn đã nhập Niết-bàn không còn dư sót, như ngọn lửa đã tắt không thể chỉ ra ở đâu nữa; nhưng vẫn có thể chỉ ra Ngài qua thân Pháp, vì Pháp chính là do Ngài giảng dạy. Đây là câu hỏi cuối của Phẩm Đức Phật.62Thân Thể Có Đáng Yêu đối với Người Xuất Gia Không?
MIL3.6.1 · 22 đoạnVua Milinda hỏi: nếu thân thể không đáng yêu đối với người xuất gia, sao các vị vẫn chăm sóc nó? Ngài Nāgasena đáp bằng ví dụ vết thương: vua chăm sóc vết thương không phải vì yêu nó, mà để da thịt lành lại; người xuất gia cũng chăm sóc thân như chăm sóc vết thương, không bám víu, để nâng đỡ đời sống Phạm hạnh.63Đức Phật Biết Tất Cả — Sao Điều Học Lại Đặt Ra Dần Dần?
MIL3.6.2 · 14 đoạnVua Milinda hỏi: nếu đức Phật biết tất cả, thấy tất cả, sao Ngài không đặt ra mọi điều học ngay từ đầu mà phải chờ từng trường hợp? Ngài Nāgasena dùng ví dụ thầy thuốc: biết hết mọi vị thuốc nhưng chỉ cho thuốc khi bệnh đã đến lúc cần — đức Phật cũng chỉ đặt điều học khi thời điểm đến.64Ba Mươi Hai Tướng của Bậc Đại Nhân
MIL3.6.3 · 21 đoạnVua Milinda thắc mắc: đức Phật đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhân và tám mươi tướng phụ, trong khi cha mẹ Ngài không có các tướng ấy — con thì phải giống cha mẹ chứ? Ngài Nāgasena đáp bằng hoa sen: sen sinh từ bùn và nước nhưng không giống bùn hay nước về màu, mùi hay vị.65Hành Phạm Hạnh Có Làm Đức Phật Thành Học Trò của Phạm Thiên Không?
MIL3.6.4 · 18 đoạnVua Milinda bắt bẻ: đức Phật sống đời Phạm hạnh, vậy Ngài là học trò của Phạm Thiên sao? Ngài Nāgasena đáp: voi rống giống tiếng sếu không có nghĩa voi là học trò của sếu; hơn nữa Phạm Thiên có trí tuệ — theo lối suy luận của vua, chính Phạm Thiên mới là học trò của đức Thế Tôn.66Sự Tu Lên Bậc Trên của Đức Phật
MIL3.6.5 · 10 đoạnVua Milinda hỏi: thọ giới tu lên bậc trên là việc tốt, vậy đức Phật có ai truyền giới cho không? Ngài Nāgasena đáp: sự tu lên bậc trên của đức Thế Tôn chính là lúc Ngài đạt trí biết tất cả dưới cội Bồ-đề; không ai ban cho Ngài, khác với các đệ tử nhận giới theo điều học Ngài đặt ra.67Nước Mắt Nào Là Thuốc?
MIL3.6.6 · 9 đoạnVua Milinda hỏi: người khóc vì mẹ mất và người khóc vì yêu mến Pháp, nước mắt của ai là thuốc? Ngài Nāgasena đáp: nước mắt nóng và vẩn đục vì tham, sân, si thì không phải thuốc; nước mắt mát và trong sạch vì niềm vui mừng và thiện tâm mới là liều thuốc.68Khác Nhau giữa Người Còn Tham Ái và Người Đã Lìa Tham Ái
MIL3.6.7 · 12 đoạnVua Milinda hỏi người còn tham ái và người đã lìa tham ái khác nhau ở đâu, khi cả hai đều thích món ăn ngon? Ngài Nāgasena đáp: khác ở chỗ dính mắc và mong cầu — người chưa lìa tham ái vừa nếm vị vừa nếm sự tham ái trong vị, người đã lìa tham ái chỉ nếm vị mà thôi.69Tuệ ở Đâu?
MIL3.6.8 · 12 đoạnVua Milinda hỏi tuệ ở tại nơi nào; ngài Nāgasena đáp tuệ không ở tại nơi nào cả. Vua kết luận vậy là không có tuệ — ngài hỏi lại: gió ở tại nơi nào? Vua cũng phải thừa nhận gió không ở đâu cả, nhưng không thể nói không có gió.70Luân Hồi Là Gì?
MIL3.6.9 · 11 đoạnVua Milinda hỏi luân hồi là gì. Ngài Nāgasena giải thích: sinh ở đây, chết ở đây, sinh lên nơi khác, rồi lại chết ở nơi kia và sinh lên nơi khác nữa — như hột xoài gieo xuống thành cây, cây cho trái, trái lại thành cây, không thấy được điểm cuối.71Nhớ Lại Việc Xưa Nhờ Trí Nhớ
MIL3.6.10 · 15 đoạnVua Milinda cho rằng người ta nhớ lại việc xưa bằng tâm chứ không phải bằng trí nhớ (niệm). Ngài Nāgasena hỏi lại: khi vua làm xong một việc rồi quên bẵng, lúc ấy vua không có tâm sao? Vua phải thừa nhận lúc ấy mình vẫn có tâm, chỉ thiếu trí nhớ mà thôi.72Trí Nhớ Tự Sinh Hay Do Được Nhắc?
MIL3.6.11 · 12 đoạnVua Milinda hỏi mọi trí nhớ đều tự sinh hay cũng có trí nhớ được tạo nên nhờ bên ngoài. Ngài Nāgasena đáp: cả hai. Nếu không có trí nhớ do được nhắc nhở và rèn luyện, người học nghề sẽ chẳng cần thầy dạy và các môn học cũng thành vô ích.73Trí Nhớ Sinh Lên Bằng Mười Bảy Cách
MIL3.7.1 · 47 đoạnVua Milinda hỏi trí nhớ sinh lên bằng bao nhiêu cách. Ngài Nāgasena liệt kê mười bảy cách — từ tự nhớ lại, được nhắc nhở, ấn tượng mạnh, niềm vui, nỗi khổ, dấu hiệu giống và khác, chữ viết, tính toán, học thuộc, tu tập nhớ các đời trước, cho đến sách vở, vật gửi gắm và kinh nghiệm đã qua — rồi giải thích từng cách một.74Một Niệm Nhớ Ân Đức Phật lúc Lâm Chung
MIL3.7.2 · 13 đoạnVua Milinda không tin hai điều: người làm ác trăm năm mà lúc chết khởi được một niệm nhớ ân đức Phật thì sinh lên cõi trời; và chỉ một lần giết hại mà đọa địa ngục. Ngài Nāgasena đáp bằng hình ảnh chiếc thuyền: đá nhỏ không thuyền thì chìm, nhưng trăm xe đá đặt trên thuyền vẫn nổi — nghiệp thiện chính là chiếc thuyền ấy.75Tinh Tấn để Diệt Khổ Nào?
MIL3.7.3 · 45 đoạnVua Milinda hỏi: người tu không tinh tấn để diệt khổ quá khứ, tương lai hay hiện tại, vậy tinh tấn để làm gì? Ngài Nāgasena đáp: để khổ này chấm dứt và khổ khác không sinh lên. Rồi ngài lật lại: vua cũng đào hào, luyện quân, đào giếng và cày ruộng từ trước để ngăn nguy cơ, cơn khát và cơn đói tương lai — những thứ hiện giờ chưa hề có.76Cõi Phạm Thiên Xa Bao Nhiêu?
MIL3.7.4 · 19 đoạnVua Milinda hỏi cõi Phạm Thiên cách đây bao xa và không tin chuyện vị Tỷ-kheo có thần thông hiện ra ở đó nhanh như co duỗi cánh tay. Ngài Nāgasena đáp: tảng đá rơi từ cõi ấy phải bốn tháng mới tới đất; còn vua nhớ việc mình làm ở đảo Alasandā cách hai trăm do-tuần — thế là tâm vua đã đi qua hai trăm do-tuần trong chớp mắt.77Tái Sinh Xa hay Gần Đều Cùng Một Lúc
MIL3.7.5 · 26 đoạnVua Milinda hỏi: người chết ở đây sinh lên cõi Phạm Thiên và người sinh lên xứ Kasmīra gần hơn, ai tới trước? Ngài Nāgasena đáp: cùng một lúc — như vua nghĩ đến làng Kalasi xa hai trăm do-tuần và xứ Kasmīra mười hai do-tuần nhanh bằng nhau, và như bóng hai con chim cùng đáp xuống in xuống đất cùng một lúc.78Bảy Giác Chi và Một Chi Đưa đến Giác Ngộ
MIL3.7.6 · 14 đoạnVua Milinda hỏi có bao nhiêu giác chi và nhờ bao nhiêu chi mà giác ngộ. Ngài Nāgasena đáp: có bảy giác chi, nhưng giác ngộ nhờ một chi là trạch pháp giác chi; như gươm trong vỏ không ai cầm thì không cắt được gì, sáu chi còn lại thiếu trạch pháp cũng không đưa đến giác ngộ.79Phước Nhiều Hơn Tội
MIL3.7.7 · 13 đoạnVua Milinda hỏi phước và tội cái nào nhiều hơn. Ngài Nāgasena đáp: phước nhiều hơn, vì người làm ác thì hối hận nên ác không tăng, còn người làm phước thì không hối hận, từ đó vui thích, hỷ, thân yên, an lạc, tâm định và biết rõ như thật nối nhau sinh lên — như người cụt tay chân dâng một nắm hoa sen mà khỏi đọa cõi khổ suốt chín mươi mốt kiếp.80Làm Ác mà Không Biết thì Tội Nặng Hơn
MIL3.7.8 · 12 đoạnVua Milinda hỏi người làm ác mà biết và người làm ác mà không biết, ai tội nhiều hơn. Ngài Nāgasena đáp: người không biết tội nhiều hơn — như người không biết mà cầm cục sắt nóng đỏ thì bị bỏng nặng hơn người biết mà cầm. Vua đùa rằng vậy phải phạt gấp đôi kẻ phạm lỗi vô tình trong triều.81Đi đến Cõi Khác bằng Chính Thân Này
MIL3.7.9 · 14 đoạnVua Milinda hỏi có ai đi đến Uttarakuru hay cõi Phạm Thiên bằng chính thân bốn đại này không. Ngài Nāgasena đáp có, và hỏi lại: vua nhảy lên tám cùi tay bằng cách nào? Vua nói: khởi tâm sẽ rơi xuống chỗ kia thì thân trở nên nhẹ. Vị Tỷ-kheo có thần thông cũng vậy: đặt thân vào tâm rồi bay theo sức của tâm.82Xương Dài Một Trăm Do-tuần
MIL3.7.10 · 11 đoạnVua Milinda không tin có khúc xương dài trăm do-tuần khi cây cối còn không cao như vậy. Ngài Nāgasena hỏi lại: vua đã nghe nói có loài cá ở biển dài năm trăm do-tuần chưa? Nếu có con cá như thế, khúc xương của nó dài đến trăm do-tuần là điều hoàn toàn có thể.83Có Thể Ngưng Hơi Thở Ra Vào
MIL3.7.11 · 15 đoạnVua Milinda hỏi làm sao có thể ngưng hơi thở ra vào. Ngài Nāgasena đáp bằng chuyện tiếng ngáy: tiếng ngáy của người chưa tu tập còn ngưng được khi cong mình lại, huống chi hơi thở của người đã tu tập thân, giới, tâm, tuệ và đã vào tầng thiền thứ tư.84Vì Sao Nước Được Gọi Là Biển?
MIL3.7.12 · 11 đoạnVua Milinda hỏi vì sao nước được gọi là biển (samudda). Ngài Nāgasena đáp bằng cách chơi chữ gốc Pāli: nước có bao nhiêu thì muối (sama) có bấy nhiêu, muối có bao nhiêu thì nước có bấy nhiêu — vì sự bằng nhau ấy mà gọi là biển.85Vì Sao Biển Chỉ Có Một Vị Mặn?
MIL3.7.13 · 8 đoạnVua Milinda hỏi vì sao biển chỉ có một vị là vị mặn. Ngài Nāgasena đáp ngắn gọn: vì nước trong biển đã ở yên đó từ rất lâu, nên toàn bộ nước biển thấm đều một vị mặn.86Vật Vi Tế Nhất và Tuệ Cắt Được Mọi Thứ
MIL3.7.14 · 11 đoạnVua Milinda hỏi vật vi tế nhất có cắt được không và vật gì là vi tế nhất. Ngài Nāgasena đáp: cắt được; Pháp là vi tế nhất, dù không phải pháp nào cũng vi tế; và bất cứ vật gì có thể cắt được thì tuệ đều cắt được, không cần đến lần cắt thứ hai.87Thức, Tuệ và Linh Hồn Khác Nhau Thế Nào?
MIL3.7.15 · 13 đoạnVua Milinda hỏi thức, tuệ và linh hồn trong chúng sinh khác nhau ra sao. Ngài Nāgasena đáp: thức là nhận biết, tuệ là biết rõ, còn linh hồn thì không tìm thấy được — nếu có một linh hồn riêng ở trong thân làm nhiệm vụ thấy nghe, thì khi mắt bị móc ra, nó phải thấy rõ hơn qua khoảng trống lớn hơn, nhưng sự thật không phải vậy.88Việc Khó Đức Phật Đã Làm: Phân Biệt Các Pháp Vô Sắc
MIL3.7.16 · 17 đoạnCâu hỏi cuối của phẩm: đức Thế Tôn đã làm một việc khó làm — phân biệt rõ ràng tâm và các tâm sở không có hình sắc khi chúng cùng hướng về một đối tượng, chỉ ra đâu là xúc, thọ, tưởng, tư và tâm. Ngài Nāgasena ví: việc ấy còn khó hơn nếm một bụm nước biển mà phân biệt được nước của năm con sông đã hòa vào biển.89Hỏi và đáp xong: vua dâng cúng dường và cuộc trở về tu viện
MIL3.8 · 35 đoạnKết thúc phần Các câu hỏi của vua Milinda: ngài Nāgasena hỏi vua có biết giờ giấc không, vua tỏ lòng tin phục, dâng tấm khăn len quý và xin cúng dường bữa ăn hằng ngày cùng các vật hợp phép trong hoàng cung. Ngài nhận lời vì vua khéo giải thích rằng việc nhận cúng dường cũng là bảo vệ cả hai bên khỏi lời đàm tiếu. Đêm ấy, cả vua lẫn ngài đều suy ngẫm lại và cùng xác nhận: mọi câu hỏi đều được hỏi đúng, mọi câu trả lời đều được đáp đúng; sáng hôm sau hai bên gặp lại và nói rõ điều ấy cho nhau nghe.90Tám nơi cần tránh khi bàn luận
MIL4.1 · 48 đoạnMở đầu các Câu hỏi đối chọi: vua Milinda, sau khi suy ngẫm suốt đêm, nhận ra trong lời dạy của Đức Phật có ba cách nói — giảng giải, liên hệ và theo bản chất — và lo rằng đời sau sẽ tranh cãi về các câu hỏi khó nếu không hiểu rõ. Vua giữ tám đức tính trong bảy ngày như một người tu, rồi đến xin ngài Nāgasena một cuộc bàn luận riêng tư. Điều đầu tiên vua nêu ra là tám nơi cần tránh khi bàn luận, cùng lý do từng nơi làm hỏng cuộc bàn luận.91Tám hạng người làm hỏng cuộc bàn luận
MIL4.2 · 17 đoạnVua Milinda nêu tám hạng người hễ tham gia bàn luận là làm hỏng vấn đề đang bàn: người nặng tham ái, sân hận, si mê, ngã mạn, người tham lam, lười biếng, người suy nghĩ một chiều và người ngu dốt. Ngài Nāgasena hỏi từng hạng có lỗi gì, vua giải thích: mỗi người làm hỏng cuộc bàn luận chính bằng sức mạnh của thói quen tâm tính chi phối mình.92Chín hạng người làm lộ điều bí mật
MIL4.3 · 20 đoạnVua Milinda nêu chín hạng người không giữ được điều bí mật đã bàn: ngoài các tính tham ái, sân hận, si mê còn có người nhút nhát, người coi trọng vật chất, người phụ nữ có hiểu biết còn nông cạn dễ thay đổi, người nghiện rượu, người bán nam bán nữ tính tình không dứt khoát và trẻ con hay lao chao. Điểm chung của chín hạng này là tâm nông nổi, dao động, không đứng vững, nên điều bí mật nhanh chóng bị lộ ra.93Tám điều kiện giúp trí tuệ chín muồi
MIL4.4 · 17 đoạnVua Milinda nêu tám điều kiện làm cho trí tuệ tiến triển và chín muồi: tuổi tác tăng trưởng, danh tiếng tăng trưởng, học hỏi đặt câu hỏi, sống chung với bậc thầy, chú tâm đúng cách, bàn luận trao đổi, thân cận phục vụ với lòng thương mến, và sống ở xứ sở thích hợp. Ai có đủ các điều kiện này, trí tuệ của người ấy được bừng mở, trở nên sáng rõ.94Hai mươi lăm đức tính của vị thầy
MIL4.5 · 8 đoạnVua Milinda tự nhận mình đã hội đủ điều kiện của một người học trò xứng đáng: biết giữ bí mật, trí tuệ đã chín muồi nhờ tám điều kiện. Vua kể đủ hai mươi lăm đức tính mà vị thầy cần có đối với học trò — từ che chở thường xuyên, biết rõ nếp sống của trò, an ủi, nhẫn nại với lỗi lầm, đến tâm từ và không bỏ rơi trò lúc hoạn nạn — rồi thỉnh cầu ngài Nāgasena đối xử với mình bằng các đức tính ấy và giải đáp các câu hỏi đối chọi, để đời sau khỏi tranh cãi.95Mười đức tính của người cư sĩ
MIL4.6 · 10 đoạnNgài Nāgasena nhận lời thỉnh cầu của vua và giảng mười đức tính của người cư sĩ: cùng vui cùng khổ với Tăng đoàn, lấy Pháp làm chủ, vui thích san sẻ, nỗ lực khi thấy Giáo Pháp suy giảm, có thấy biết đúng đắn, giữ gìn thân và lời nói, ưa thích hòa hợp, không giả dối và quy y Tam Bảo. Ngài xác nhận vua có đủ mười đức tính ấy và cho phép vua cứ hỏi một cách thoải mái, mở đường cho các câu hỏi đối chọi tiếp theo.96Câu Hỏi về Việc Không Thọ Nhận Cúng Dường
MIL5.1.1 · 107 đoạnVua Milinda nêu luận điểm hai đầu của các thầy ngoại đạo: nếu đức Phật còn thọ nhận cúng dường thì Ngài chưa nhập Niết-bàn, còn nếu đã nhập Niết-bàn và không thọ nhận gì thì cúng dường Ngài là vô ích. Ngài Nāgasena khẳng định đức Thế Tôn đã nhập Niết-bàn và không thọ nhận, nhưng nhờ xá-lợi và trí tuệ của Ngài làm nền tảng và điều kiện, người thực hành đúng đắn vẫn đạt được ba sự thành tựu — như lửa đã tắt vẫn có thể được nhóm lại từ củi, như gió ngừng thổi vẫn được tạo ra bằng quạt, như hạt giống mọc trên đất dù đất không hề ưng thuận.97Câu Hỏi về Bản Thể Toàn Tri của Đức Thế Tôn
MIL5.1.2 · 98 đoạnVua Milinda hỏi: đức Phật có phải là đấng Toàn Tri không, và nếu trí Toàn Tri phải nhờ hướng tâm mới biết thì sao còn gọi là Toàn Tri? Ngài Nāgasena đáp rằng trí Toàn Tri gắn liền với sự hướng tâm nhưng sự hướng tâm ấy nhanh nhẹn khôn sánh, rồi phân tích bảy loại tâm — từ tâm người phàm nặng nề vì phiền não đến tâm của chư Phật trong sạch và nhẹ nhàng ở mọi nơi — để cho thấy việc cần hướng tâm trong chốc lát không hề làm đức Phật mất danh Toàn Tri, như nhà giàu tạm hết thức ăn nấu sẵn không vì thế mà thành nghèo.98Câu Hỏi về Sự Xuất Gia của Devadatta
MIL5.1.3 · 65 đoạnVua Milinda chất vấn: đức Phật biết trước Devadatta xuất gia sẽ chia rẽ Tăng đoàn và chịu khổ địa ngục một kiếp, sao vẫn cho ông xuất gia — như vậy Ngài còn là bậc bi mẫn và Toàn Tri không? Ngài Nāgasena đáp rằng chính vì lòng bi mẫn và trí Toàn Tri: đức Phật thấy nếu ở ngoài đời, Devadatta sẽ tích lũy nghiệp không giới hạn và khổ đau vô tận qua nhiều trăm ngàn koṭi kiếp, nên cho ông xuất gia để nỗi khổ trở thành có giới hạn — như thầy thuốc làm đau để chữa lành, như người có thế lực xin giảm án tử hình xuống chặt tay chân để giữ mạng sống.99Câu Hỏi về Hiện Tượng Đất Rung Động
MIL5.1.4 · 68 đoạnVua Milinda nêu mâu thuẫn: đức Phật nói chỉ có tám nhân, tám duyên làm đất rung động lớn, nhưng truyền thuyết lại kể mặt đất rung động bảy lần khi vua Vessantara làm cuộc đại bố thí — vậy một trong hai lời phải sai. Ngài Nāgasena giải thích rằng tám nhân là các nguyên nhân thường lệ được đếm kể, còn lần rung động thời Vessantara là việc bất thường, thỉnh thoảng mới xảy ra, nên không tính vào số đếm — như mây trái mùa không tính vào ba loại mây, như chỉ mười sông trong năm trăm sông trên dãy Himavanta được đếm tên; và sức bố thí vô song của Vessantara, làm vì trí Toàn Tri chứ không vì bất cứ lợi lộc nào, nặng đến mức đất không gánh nổi mà rung chuyển.100Câu Hỏi về Sự Bố Thí Mắt của Đức Vua Sivi
MIL5.1.5 · 60 đoạnVua Milinda nêu mâu thuẫn trong câu chuyện vua Sivi: nếu vua đã bố thí cả hai mắt cho kẻ cầu xin thì làm sao thiên nhãn lại sinh ra, vì Kinh nói không có nhân, không có nền tảng thì thiên nhãn không sinh. Ngài Nāgasena đáp rằng nền tảng ở đây chính là sự chân thật: nhờ sức mạnh của hành động chân thật mà mưa rơi, lửa lui, độc tan — và kể chuyện cô kỹ nữ Bandhumatī ở Pāṭaliputta, chỉ nhờ một sự thật duy nhất là phục vụ mọi khách bình đẳng không phân biệt giai cấp, đã làm sông Gaṅgā chảy ngược dòng trước mặt vua Asoka; còn lời Kinh nói về con mắt sinh ra từ sự tu tập, không phải về trường hợp này.101Câu Hỏi về Sự Nhập vào Bào Thai
MIL5.1.6 · 119 đoạnVua Milinda nêu thắc mắc: đức Phật dạy bào thai chỉ thành khi đủ ba yếu tố hội tụ, thế mà bé Sāma và thanh niên Maṇḍavya lại được sinh ra chỉ nhờ chạm ngón tay vào rốn người mẹ. Ngài Nāgasena lần lượt cho nhà vua tự thừa nhận các trường hợp sinh ra qua đường miệng và qua nước tiểu, rồi kể lại việc Thiên chủ Sakka thỉnh cầu Thiên tử đầu thai làm con hai vị đạo sĩ khổ hạnh, và giảng bốn cách nhập thai: do nghiệp, do nguồn gốc, do chủng loại và do lời thỉnh cầu.102Câu Hỏi về Sự Biến Mất của Chánh Pháp
MIL5.1.7 · 52 đoạnVua Milinda hỏi vì sao đức Phật vừa nói Chánh Pháp chỉ còn tồn tại năm trăm năm, vừa nói nếu các Tỷ-kheo sống đúng đắn thì thế gian không thiếu vắng A-la-hán. Ngài Nāgasena phân biệt hai lời nói thuộc hai mặt khác nhau: một bên là giới hạn của Giáo Pháp, một bên là sự làm rõ về việc thực hành, rồi dùng các ví dụ hồ nước được mưa tiếp nối, đống lửa được thêm củi và tấm gương được đánh bóng để cho thấy Giáo Pháp còn tồn tại khi việc thực hành còn được giữ liên tục. Cuối cùng, ngài nêu ba sự biến mất: chứng đắc, thực hành và tướng mạo.103Câu Hỏi về Việc Cắt Đứt Pháp Bất Thiện
MIL5.1.8 · 77 đoạnVua Milinda hỏi: đức Phật đã đốt sạch mọi pháp bất thiện mới đạt tuệ biết tất cả, vậy vì sao thân Ngài vẫn chịu đau đớn và bệnh tật, nếu mọi cảm thọ đều do nghiệp? Ngài Nāgasena đáp rằng cảm thọ sinh lên do tám nguyên nhân — gió, mật, đàm, ba thứ hợp lại, thời tiết thay đổi, sinh hoạt không điều độ, tác động từ bên ngoài và quả của nghiệp — nên không phải cảm thọ nào cũng do nghiệp; việc chân đức Phật bị mảnh đá cắt chỉ thuộc loại tác động từ bên ngoài, và ngài dẫn lời đức Phật dạy ông Sīvaka để chứng minh.104Câu Hỏi về Việc Không Còn Gì Cần Làm Thêm Nữa
MIL5.1.9 · 29 đoạnVua Milinda hỏi: nếu mọi việc đức Như Lai cần làm đều đã hoàn tất dưới gốc cây Bồ-đề, vì sao Ngài vẫn thiền tịnh ba tháng — thiền tịnh chẳng phải chỉ dành cho người còn việc phải làm sao? Ngài Nāgasena đáp rằng các đức Như Lai thiền tịnh vì nhớ lại đức tính tốt đẹp của thiền tịnh, vì thiền tịnh có hai mươi tám đức tính tốt, và vì bốn lý do như sự an lạc trong đời sống và con đường trọn vẹn của bậc Thánh — chứ không phải vì còn việc phải làm hay để bồi đắp thêm.105Câu Hỏi về Việc Cho Thấy Năng Lực của Thần Thông
MIL5.1.10 · 31 đoạnVua Milinda hỏi: đức Phật nói Ngài có thể sống trọn một kiếp nhờ bốn nền tảng thần thông đã tu tập, vậy sao Ngài lại giới hạn chỉ còn ba tháng nữa là nhập Niết-bàn? Ngài Nāgasena giải thích kiếp nói ở đây là kiếp tuổi thọ, và đức Phật nói như vậy để nêu rõ năng lực của thần thông chứ không phải để khoe năng lực của mình — như nhà vua khen tốc độ của con ngựa quý mà không cần cho nó chạy trình diễn; hơn nữa đức Phật không hề ham muốn bất cứ cõi sống nào.106Câu Hỏi về Các Điều Nhỏ Nhặt và Tiểu Tiết
MIL5.2.1 · 29 đoạnVua Milinda hỏi: đức Phật nói Ngài thuyết Pháp sau khi đã hiểu biết tận tường, vậy sao còn dặn Tăng đoàn sau khi Ngài qua đời có thể bỏ các điều học nhỏ nhặt và tiểu tiết? Ngài Nāgasena giải thích lời dặn ấy là phép thử lòng đệ tử — như Chuyển Luân Vương thử các con bằng chuyện buông đất biên địa — và xác định hai loại điều học ấy chính là tội dukkaṭa (làm sai trái) và dubbhāsita (nói sai trái).107Câu Hỏi về Câu Trả Lời Nên Được Đình Chỉ
MIL5.2.2 · 49 đoạnVua Milinda hỏi: đức Phật nói nơi Pháp của Ngài không có nắm tay nắm chặt của vị thầy, vậy sao Ngài im lặng trước câu hỏi của trưởng lão Māluṅkyaputta — vì không biết hay vì che giấu? Ngài Nāgasena chỉ ra bốn cách trả lời câu hỏi, và câu hỏi của Māluṅkyaputta thuộc loại nên gác lại: những câu hỏi siêu hình không có căn cứ để làm sáng tỏ, nên chư Phật không trả lời.108Câu Hỏi về Việc Sợ Hãi hay Không Sợ Hãi Sự Chết
MIL5.2.3 · 79 đoạnVua Milinda hỏi: đức Phật nói tất cả đều sợ chết, vậy sao vị A-la-hán lại vượt qua mọi sợ hãi — và vì sao chúng sinh địa ngục, khổ đến cùng cực, vẫn sợ chết khi lìa địa ngục? Ngài Nāgasena giải thích chữ ‘tất cả’ ở đây đặt vị A-la-hán ra ngoài, chỉ ra năm cách tiếp nhận ý nghĩa của một lời dạy, rồi cho thấy sợ chết là bản chất của kẻ chưa thấy Sự Thật — như người bệnh sợ dao mổ dù muốn lành bệnh.109Câu Hỏi về Sự Thoát Khỏi Cái Bẫy của Thần Chết
MIL5.2.4 · 67 đoạnVua Milinda hỏi: đức Phật nói không nơi nào trên trời, dưới biển hay trong khe núi thoát được bẫy của Thần Chết, vậy sao Ngài còn chỉ ra các bài hộ trì? Ngài Nāgasena giải thích hộ trì chỉ che chở người còn tuổi thọ, đã trưởng thành và không bị nghiệp ngăn cản — như nước chỉ giúp cây lúa còn non — và nêu ba lý do khiến hộ trì mất tác dụng: chướng ngại của nghiệp, chướng ngại của phiền não và không có lòng tin.110Câu Hỏi về Sự Chướng Ngại
MIL5.2.5 · 57 đoạnVua Milinda hỏi: đức Như Lai được khen là vị nhận được nhiều bốn vật dụng, vậy sao Ngài vào làng Pañcasālā khất thực lại ra về với bình bát trống — phải chăng sức của Ma Vương mạnh hơn sức của đức Phật? Ngài Nāgasena phân bốn loại chướng ngại và chỉ rõ Ma Vương chỉ lén gây chướng ngại ở loại ‘chưa nhìn thấy’, còn bốn đức tính của đức Như Lai — lợi lộc đã dành sẵn, hào quang, trí tuệ Toàn Tri và mạng sống — thì không ai ngăn cản được.111Câu Hỏi về Việc Có Nhiều Tội
MIL5.2.6 · 21 đoạnVua Milinda hỏi: các ngài nói người sát sinh trong khi không biết thì tội nặng hơn, vậy sao trong Luật đức Phật lại nói người không biết thì không phạm tội? Ngài Nāgasena giải thích ở đây có khác biệt về ý nghĩa: có loại tội mà việc thoát tội tùy thuộc vào sự nhận biết, có loại không — và câu ‘người không biết thì không phạm tội’ chỉ nói về loại thứ nhất.112Câu Hỏi về Việc Quản Trị Hội Chúng Tỷ-kheo
MIL5.2.7 · 27 đoạnVua Milinda hỏi: đức Phật nói Ngài không hề nghĩ ‘Ta sẽ quản trị hội chúng Tỷ-kheo’, vậy sao Ngài lại nói về đức Phật Metteyya rằng ‘vị ấy sẽ quản trị hội chúng Tỷ-kheo gồm nhiều ngàn vị, như Ta hiện nay quản trị hội chúng gồm nhiều trăm vị’? Ngài Nāgasena giải thích ‘quản trị’ ở đây chỉ là cách nói theo ước lệ: đức Như Lai là chỗ nương tựa của chúng sinh như trái đất và đám mây mưa, nhưng không hề mong mỏi ‘họ là của ta’, vì tà kiến về bản ngã đã dứt sạch.113Câu Hỏi về Việc Hội Chúng Không Bị Chia Rẽ
MIL5.2.8 · 22 đoạnVua Milinda hỏi: các ngài nói đức Như Lai có hội chúng không bị chia rẽ, vậy sao năm trăm Tỷ-kheo lại bị Devadatta chia rẽ cùng một lúc? Ngài Nāgasena giải thích sự chia rẽ ấy do sức của kẻ chia rẽ gây ra — có kẻ chia rẽ thì mẹ con, bạn bè, cả thuyền gỗ và cây trái cũng bị tách lìa — còn đức Như Lai được gọi là có hội chúng không bị chia rẽ vì chưa từng có hội chúng nào rạn nứt do cách hành xử của chính Ngài.114Câu hỏi về Giáo Pháp cao nhất
MIL5.3.1 · 34 đoạnVua Milinda nêu mâu thuẫn: Đức Phật nói Giáo Pháp là cao nhất, vậy sao người cư sĩ đã chứng Nhập Lưu lại phải cúi lạy vị Tỷ-kheo còn phàm phu? Ngài Nāgasena giải thích: vị Tỷ-kheo mang hai mươi pháp làm nên Sa-môn cùng hai dấu hiệu xuất gia, đang tiến gần đến phẩm vị A-la-hán và là người giữ, dạy lại truyền thống, nên xứng đáng được kính trọng; địa vị Tỷ-kheo lớn đến mức cư sĩ chứng A-la-hán phải xuất gia hoặc nhập Niết-bàn ngay trong ngày.115Câu hỏi về sự mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh
MIL5.3.2 · 46 đoạnVua Milinda hỏi: nếu đức Như Lai chỉ mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh, sao khi nghe bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửa, khoảng sáu mươi vị Tỷ-kheo lại hộc máu nóng? Ngài Nāgasena đáp: đức Như Lai giảng Pháp không ưa ghét ai; người thực hành đúng thì giác ngộ, người thực hành sai thì tự hại mình vì việc làm của chính mình, như thuốc bất tử hay thức ăn vẫn có thể làm chết người dùng sai cách.116Câu hỏi về việc cho thấy vật được che giấu sau lớp vải
MIL5.3.3 · 47 đoạnVua Milinda hỏi: Đức Phật dạy giữ gìn thân là tốt lành, sao Ngài lại cho Bà-la-môn Sela thấy tướng mã âm tàng? Ngài Nāgasena đáp: Ngài chỉ dùng thần thông cho riêng người đang hoài nghi thấy một hình bóng tương ứng để người ấy giác ngộ, như cảm thọ bệnh chỉ người bệnh tự cảm nhận; đức Như Lai biết cách dùng đúng phương tiện cho từng người, như thầy thuốc dùng đúng thuốc cho từng người bệnh.117Câu hỏi về bản chất của lời nói gay gắt
MIL5.3.4 · 34 đoạnVua Milinda hỏi: trưởng lão Sāriputta nói lời nói của đức Như Lai hoàn toàn trong sạch, sao Ngài lại gọi trưởng lão Sudinna là kẻ rồ dại bằng lời gay gắt? Ngài Nāgasena đáp: cách gọi ấy đúng với bản chất — người chưa chứng ngộ bốn Sự Thật thì tư cách làm người còn rồ dại — và lời của Như Lai dù gay gắt vẫn đầy lòng thương xót, có lợi ích, như thuốc mạnh của thầy thuốc hay lời nghiêm khắc của người cha.118Câu hỏi về bản chất không có suy tư của cây cối
MIL5.3.5 · 28 đoạnVua Milinda hỏi: Đức Phật nói cây cối không có tâm tư, sao cây phandana lại trò chuyện với Bhāradvāja? Ngài Nāgasena đáp: cây tự nó không trò chuyện; vị thiên ngụ ở cây mới trò chuyện, và gọi đó là cây trò chuyện chỉ là cách gọi của thế gian, như gọi xe chở lúa là xe lúa hay gọi việc khuấy sữa đông là khuấy bơ; đức Như Lai cũng dùng cách gọi của thế gian để giảng Pháp.119Câu hỏi về quả lớn của phần thí thực
MIL5.3.6 · 50 đoạnVua Milinda hỏi: sao bữa ăn của thợ rèn Cunda — bữa ăn làm Đức Phật bệnh nặng cận tử — lại được nói là có quả lớn ngang bằng bữa ăn trước khi Ngài thành đạo? Ngài Nāgasena đáp: món ăn không có lỗi; bệnh tăng nặng vì thân Ngài đã suy yếu và tuổi thọ đã cạn, như lửa được thêm củi thì bùng lên; hai bữa ăn lớn về quả là nhờ năng lực Ngài thể nhập thuận nghịch chín tầng chứng đạt theo tuần tự trong hai ngày ấy.120Câu hỏi về sự cúng dường đức Phật
MIL5.3.7 · 26 đoạnVua Milinda hỏi: sao Đức Phật vừa bảo ngài Ānanda đừng bận rộn với việc cúng dường thân Ngài, vừa dạy cúng dường xá-lợi của bậc đáng cúng dường sẽ được sinh lên cõi trời? Ngài Nāgasena đáp: lời dặn ấy chỉ dành cho những người con của đấng Chiến Thắng, vì việc của họ là quán xét các hành, giữ bốn Niệm Xứ và chiến đấu với phiền não; còn cúng dường là việc của chư Thiên và loài người còn lại, như hoàng tử lo học binh pháp còn dân thường lo trồng trọt, buôn bán.121Câu hỏi về việc bị thương bởi mảnh đá ở bàn chân
MIL5.3.8 · 36 đoạnVua Milinda hỏi: nếu mặt đất tự nâng chỗ lõm, hạ chỗ cao dưới bước chân Đức Phật, sao mảnh đá lại không tránh bàn chân Ngài? Ngài Nāgasena đáp: mảnh đá không rơi tự nhiên mà do Devadatta lăn đá mưu hại; hai khối đá đã trồi lên hứng tảng đá lớn, nhưng mảnh vỡ văng ra lăn lóc không theo hướng nhất định — như nước lọt qua kẽ tay — nên rơi trúng bàn chân Ngài.122Câu hỏi về vị Sa-môn cao quý hạng nhất
MIL5.3.9 · 25 đoạnVua Milinda hỏi: Đức Phật nói do cạn kiệt lậu hoặc mới thành Sa-môn, lại nói người đủ bốn pháp — nhẫn nhịn, ăn uống hạn chế, dứt bỏ thỏa thích, không sở hữu gì — đã được đời gọi là Sa-môn, trong khi người chưa dứt lậu hoặc vẫn có đủ bốn pháp ấy. Ngài Nāgasena đáp: lời sau nói theo đức hạnh từng người, lời trước mới là trọn vẹn; giữa tất cả những người đang tu để lắng yên phiền não, vị đã cạn kiệt lậu hoặc là hạng nhất, như hoa nhài giữa các loài hoa, gạo sāli giữa các loại hạt.123Câu hỏi về việc nói lời ca ngợi
MIL5.3.10 · 28 đoạnVua Milinda hỏi: Đức Phật dạy các Tỷ-kheo đừng vui mừng khi được ca ngợi, sao trước lời ca ngợi của Bà-la-môn Sela, Ngài lại vui vẻ tự tuyên dương mình là Pháp vương cao nhất? Ngài Nāgasena đáp: lời dạy trước nói về bản chất thật của Giáo Pháp; còn lần tự tuyên dương ấy không vì lợi lộc, danh vọng hay phe nhóm, mà vì lòng thương xót, để Sela và ba trăm thanh niên Bà-la-môn được hiểu thấu Giáo Pháp.124Câu hỏi về sự không hãm hại và sự trấn áp
MIL5.3.11 · 40 đoạnVua Milinda hỏi: Đức Phật dạy sống không hãm hại sẽ được yêu mến, sao lại dạy trấn áp kẻ đáng trấn áp, nâng đỡ kẻ đáng nâng đỡ — mà trấn áp nghe như chặt tay, giết chết? Ngài Nāgasena đáp: trấn áp ở đây trước hết là trấn áp tâm bất thiện, tác ý sai và người thực hành sai; còn kẻ trộm cướp bị tử hình là do việc làm của chính kẻ ấy, không phải do các đức Như Lai chấp thuận, và người chỉ dạy đúng Giáo Pháp không mắc lỗi gì trong việc ấy.125Câu hỏi về việc đã giải tán các vị Tỷ-kheo
MIL5.3.12 · 25 đoạnVua Milinda hỏi: Đức Phật nói Ngài không giận dữ, sao Ngài lại giải tán hai trưởng lão Sāriputta và Moggallāna cùng hội chúng — giận thì giận chưa dứt, vui mà giải tán thì vô cớ? Ngài Nāgasena đáp: việc ấy không do giận dữ; như người tự vấp ngã trên mặt đất vô tư, như xác chết tự bị biển cả vô tư đẩy ra, các vị ấy bị giải tán vì lỗi lầm của chính mình, và Ngài giải tán vì mong muốn điều tốt đẹp và sự giải thoát cho họ.126Câu Hỏi Về Quả Thành Tựu Của Nghiệp
MIL5.4.1 · 30 đoạnVua Milinda nêu mâu thuẫn: trưởng lão Mahāmoggallāna là bậc đứng đầu về thần thông, vậy sao lại bị đánh bằng gậy đến chết? Ngài Nāgasena đáp rằng thần thông và quả của nghiệp đều là điều không thể nghĩ bàn, nhưng quả của nghiệp mạnh hơn hẳn — khi nghiệp đã chế ngự một người, các năng lực còn lại không còn cơ hội chen vào, như quyền vua vượt trên thân quyến của kẻ phạm tội và lửa rừng vượt trên ngàn lu nước.127Câu Hỏi Về Pháp Và Luật Được Che Giấu Hay Không
MIL5.4.2 · 39 đoạnVua Milinda hỏi: Đức Phật nói Pháp và Luật do Ngài công bố thì mở bày, sáng chói, không bị che giấu — vậy sao việc tụng đọc giới bổn Pātimokkha và toàn bộ Tạng Luật lại bị đóng kín? Ngài Nāgasena đáp rằng phần ấy chỉ đóng kín đối với người ngoài, sau khi đã vạch ranh giới, vì ba lý do: theo truyền thống của các đức Như Lai đời trước, vì kính trọng Pháp, và vì kính trọng địa vị Tỷ-kheo.128Câu Hỏi Về Tính Chất Nặng Nhẹ Của Lời Nói Dối
MIL5.4.3 · 28 đoạnVua Milinda hỏi vì sao cùng là cố ý nói dối mà nơi thì phạm tội pārājika mất hẳn tư cách Tỷ-kheo, nơi thì chỉ phạm tội nhẹ cần sám hối trước mặt một vị. Ngài Nāgasena dùng ngay cách xử phạt của nhà vua để trả lời: cùng một cú đấm, đấm người thường thì phạt một đồng tiền, đấm nhà vua thì bị chặt tay chân, tịch thu nhà cửa — nặng nhẹ là tùy theo sự việc.129Câu Hỏi Về Quy Luật Tự Nhiên Đối Với Đức Bồ Tát
MIL5.4.4 · 22 đoạnVua Milinda hỏi: nếu cha mẹ của vị Bồ Tát đã được xác định ngay từ trước, thì vì sao vị Bồ Tát ở cõi trời Tusita còn phải quán xét gia tộc trong tám điều quán xét lớn? Ngài Nāgasena đáp rằng cả hai đều đúng: cha mẹ đã được xác định, và vị ấy quán xét để biết cha mẹ mình thuộc dòng Sát-đế-lỵ hay Bà-la-môn — như tám hạng người, từ thương buôn đến thầy thuốc, đều phải nhìn trước điều chưa đến.130Câu Hỏi Về Việc Tự Kết Liễu Bản Thân
MIL5.4.5 · 28 đoạnVua Milinda hỏi: Đức Phật cấm tự kết liễu bản thân, vậy sao Ngài lại thuyết Pháp nhằm cắt đứt hẳn sinh, già, bệnh, chết và ca ngợi người vượt qua chúng? Ngài Nāgasena phân biệt hai lý do: Ngài ngăn cấm vì người có giới là thuốc giải, là chiếc thuyền, là người dẫn đường cho chúng sinh, không nên để bị hủy hoại; Ngài khuyến khích vì sinh, già, bệnh, chết và vô số nỗi khổ của luân hồi cần được vượt qua bằng sự chứng ngộ, chứ không phải bằng cái chết của thân.131Câu Hỏi Về Lợi Ích Của Việc Tu Tập Tâm Từ
MIL5.4.6 · 42 đoạnVua Milinda hỏi: Đức Phật nói người tu tập tâm từ thì lửa, thuốc độc và vũ khí không chạm đến được — vậy sao cậu bé Sāma, người sống với tâm từ, lại bị vua Pīḷiyakkha bắn bằng mũi tên tẩm độc? Ngài Nāgasena đáp rằng sự che chở ấy là đức tính của việc tu tập tâm từ, không phải của con người: nó chỉ có mặt trong khoảnh khắc người ấy thật sự nhập vào tâm từ, còn Sāma, ngay lúc đang nhấc vò nước, đã xao lãng tâm từ — như áo giáp chỉ đỡ tên khi đang mặc trên người.132Câu Hỏi Về Thiện Và Bất Thiện Bằng Nhau Hay Khác Nhau
MIL5.4.7 · 50 đoạnVua Milinda dẫn ra hàng loạt kiếp sống trong đó Devadatta — người thuần đen — ngang bằng hoặc cao hơn vị Bồ Tát thuần trắng về dòng dõi và danh vọng, rồi hỏi thiện và bất thiện có quả bằng nhau không. Ngài Nāgasena đáp là không: Devadatta cũng từng bố thí, xây cầu và nhà phước xá nên hưởng thành tựu, còn sự chống đối của ông đối với vị Bồ Tát thì cho quả ngay trong từng kiếp; và việc hai người gặp nhau chỉ là thỉnh thoảng trong dòng luân hồi, như mọi chúng sinh đều gặp cả người ưa lẫn người không ưa.133Câu Hỏi Về Hoàng Hậu Amarā
MIL5.4.8 · 41 đoạnVua Milinda nêu mâu thuẫn giữa bài kệ nói rằng người phụ nữ nào cũng có thể làm điều xấu khi có thời cơ, chỗ kín đáo và người mời mọc vừa ý, với chuyện bà Amarā, vợ của Mahosadha, ở nhà một mình khi chồng đi xa mà vẫn không làm điều xấu dù được mời mọc bằng một ngàn đồng. Ngài Nāgasena đáp rằng Amarā, khi xét kỹ, đã không thật sự có cả ba điều ấy: nàng không thấy thời cơ vì sợ bị chê trách, sợ địa ngục và kính trọng chồng; không có chỗ nào thật kín đáo trước phi nhân, chư Thiên và chính lương tâm mình; và không ai mời mọc sánh được với người chồng đầy đủ hai mươi tám đức tính.134Câu hỏi về sự không sợ hãi của bậc Lậu Tận
MIL5.4.9 · 32 đoạnVua Milinda nêu chỗ trái nhau: đức Thế Tôn nói các vị A-la-hán đã xa lìa sợ hãi và run rẩy, nhưng khi con voi Dhanapālaka lao về phía Ngài, năm trăm bậc Lậu Tận lại tản ra khắp nơi, chỉ trừ trưởng lão Ānanda. Trưởng lão Nāgasena giải thích: các vị ấy không hề sợ — nhân gây ra sợ hãi đã bị các ngài cắt đứt tận gốc, như đất và đỉnh núi vốn không có nhân để sợ. Các ngài tránh đi vì thấy lợi ích: để đức hạnh của Ānanda được tỏ rõ và con voi được thuần phục trước mặt đức Thế Tôn.135Câu hỏi về tính toàn tri của đức Như Lai
MIL5.4.10 · 23 đoạnVua Milinda hỏi: nếu đức Như Lai là bậc toàn tri thì sao Ngài lại đổi ý, tha thứ cho Tăng đoàn sau khi nghe các ví dụ về hạt giống và con bê non — nếu không biết các ví dụ ấy thì Ngài không toàn tri, nếu biết mà vẫn giải tán Tăng đoàn thì Ngài thiếu lòng thương. Trưởng lão Nāgasena đáp: các ví dụ ấy vốn do chính đức Như Lai đã dạy, như người vợ dùng tài sản của chồng làm chồng vui, người thợ cạo dùng lược vàng của vua chải tóc cho vua; Ngài hài lòng vì thấy đệ tử khéo vận dụng lời dạy của chính Ngài.136Câu hỏi về sự thân thiết
MIL5.5.1 · 40 đoạnVua Milinda thấy hai lời dạy trái nhau: một bên đức Phật nói sợ hãi sinh ra từ sự thân thiết, bụi bặm sinh ra từ nhà ở, người tu phải không nhà không thân thiết; một bên Ngài lại khuyên xây trú xá đẹp và mời các bậc học rộng đến ở. Trưởng lão Nāgasena phân biệt: lời dạy không nhà không thân thiết là lời nói đúng bản chất dành cho người tu tự quán xét như con nai rừng; còn việc xây trú xá là vì hai lợi ích — người cúng dường được phước giải thoát và các Tỷ-kheo có chỗ gặp gỡ cho người muốn đến thăm dễ gặp — nhưng người tu không được biến trú xá thành nhà riêng của mình.137Câu hỏi về việc hạn chế bao tử
MIL5.5.2 · 34 đoạnVua Milinda thắc mắc: đức Phật dạy phải chừng mực trong ăn uống, nhưng chính Ngài lại nói có khi Ngài ăn đầy bát, thậm chí nhiều hơn. Trưởng lão Nāgasena giải thích lời dạy chừng mực là lời nói đúng bản chất dành cho người còn phiền não — người ăn uống không chừng mực có thể làm đủ mọi ác nghiệp như Devadatta; còn đức Như Lai, bậc đã làm xong việc cần làm, thanh khiết như ngọc ma-ni không cần mài giũa, thì không còn bị việc ăn uống ràng buộc hay làm chướng ngại.138Câu hỏi về sự ít bệnh của đức Thế Tôn
MIL5.5.3 · 33 đoạnVua Milinda hỏi: nếu đức Phật là bậc vô thượng, sao Ngài lại nói trưởng lão Bakkula là đệ tử ít bệnh nhất, trong khi chính thân Ngài nhiều lần sinh bệnh? Trưởng lão Nāgasena giải thích: một đệ tử có thể vượt trội ở một khía cạnh riêng lẻ — như hạnh chuyên đứng kinh hành hay chỉ ăn một lần ngồi — còn đức Thế Tôn là vô thượng trên toàn bộ cương vị của một bậc Giác Ngộ: giới, định, tuệ, giải thoát, mười lực và các pháp của Phật. Riêng sự ít bệnh của Bakkula là quả của lời nguyện từ đời trước, khi vị ấy làm đạo sĩ, chữa bệnh cho đức Phật Vipassī và chư tăng.139Câu hỏi về vị làm sinh khởi con đường
MIL5.5.4 · 34 đoạnVua Milinda bắt bẻ: đức Phật nói Ngài làm sinh khởi con đường chưa từng có, nhưng cũng nói Ngài chỉ thấy lại con đường cổ xưa chư Phật trước đã đi — hai lời mâu thuẫn nhau chăng? Trưởng lão Nāgasena giải thích: con đường vốn có sẵn nhưng đã bị vùi lấp, che khuất khi không còn người chỉ dạy; đức Phật nhìn thấy nó bằng tuệ nhãn và làm cho nó có người đi lại, nên gọi là ‘làm sinh khởi’ — như viên ngọc ma-ni xuất hiện lại nhờ vị Chuyển Luân Vương mới, như người mẹ được gọi là người sinh đẻ đứa con vốn đang hiện hữu, hay người khai phá đất rừng được gọi là chủ đất.140Câu hỏi về Lomasakassapa
MIL5.5.5 · 35 đoạnVua Milinda hỏi: đức Phật nói xưa kia Ngài vốn có bản tính không làm hại chúng sinh, nhưng cũng nói kiếp làm ẩn sĩ Lomasakassapa Ngài đã giết hàng trăm sinh mạng để tế lễ — sao lại mâu thuẫn? Trưởng lão Nāgasena giải thích: việc ấy không phải do bản tính của Bồ-tát, mà do một phút mất tự chủ khi vừa nhìn thấy công chúa Candavatī, tâm bị tham ái làm cho tán loạn như kẻ điên; tội do người mất trí gây ra thì nhẹ và có thể tha thứ, cũng như nhà vua chỉ đánh đòn rồi đuổi kẻ điên phạm tội. Sau khi tỉnh táo lại, Lomasakassapa lại xuất gia và chứng năm thắng trí.141Câu hỏi về Chaddanta và Jotipāla
MIL5.5.6 · 26 đoạnVua Milinda hỏi: kiếp làm voi chúa Chaddanta, Bồ-tát dù đang đau đớn vẫn tôn kính tấm y ca-sa của kẻ thợ săn; sao kiếp làm thanh niên Jotipāla, đã là người trí tuệ chín muồi, Ngài lại mắng nhiếc đức Phật Kassapa? Trưởng lão Nāgasena giải thích: Jotipāla sinh trong gia tộc Bà-la-môn không có đức tin, bị môi trường gia đình làm cho mù quáng — như thuốc trường sinh để gần thuốc độc hóa đắng, nước mát để gần lửa hóa nóng. Về sau, khi đến gần và biết ân đức của Phật, Jotipāla xuất gia, chứng các thắng trí và sinh lên cõi Phạm Thiên.142Câu hỏi về Ghaṭīkāra
MIL5.5.7 · 27 đoạnVua Milinda hỏi: nhà của người thợ gốm Ghaṭīkāra mất mái mà ba tháng không bị mưa dột, sao cốc liêu của đức Phật Kassapa lại dột? Trưởng lão Nāgasena giải thích: mái nhà Ghaṭīkāra được chư thiên che chở vì quả lành của vị ấy — người có giới hạnh, phụng dưỡng cha mẹ mù, hoan hỷ khi cỏ nhà mình được lấy lợp cốc liêu cho Phật. Còn đức Phật để cốc liêu dột là vì thương số đông: Ngài không tự hóa hiện vật dụng, để chư thiên và nhân loại có dịp cúng dường mà thoát khổ, và để không ai chê trách Ngài phô diễn phép lạ để mưu sinh.143Câu hỏi về lời nói là Bà-la-môn và là vua
MIL5.5.8 · 35 đoạnVua Milinda thắc mắc: một người không thể vừa là Bà-la-môn vừa là vua, sao đức Phật lại tự xưng cả hai? Trưởng lão Nāgasena giải thích các danh xưng này không theo giai cấp sinh ra mà theo phẩm chất: đức Phật là ‘Bà-la-môn’ vì đã loại bỏ mọi pháp ác, vượt qua nghi ngờ, thoát khỏi ô nhiễm, gìn giữ truyền thống chư Phật và an trú trong thiền lạc; Ngài là ‘vua’ vì cai trị mười ngàn thế giới bằng Giáo Pháp, giương chiếc lọng trắng của sự giải thoát, ban ân huệ giải thoát cho người làm hài lòng Ngài và loại bỏ kẻ phá giới khỏi Giáo Pháp.144Câu hỏi giảng về vật thực do việc ngâm nga các bài kệ
MIL5.5.9 · 62 đoạnVua Milinda hỏi: đức Phật nói Ngài không thọ dụng vật thực kiếm được bằng cách ngâm nga bài kệ, nhưng Ngài lại giảng về bố thí trước tiên, khiến người nghe dâng cúng — như vậy đệ tử chẳng phải đang ăn ‘vật thực do ngâm nga’ sao? Trưởng lão Nāgasena giải thích: giảng về bố thí là bước đầu làm mềm tâm người nghe như cho trẻ đồ chơi trước khi dạy việc, như thầy thuốc cho uống dầu trước khi cho thuốc xổ — đó không phải là gợi ý xin xỏ. Bài này phân tích kỹ hai loại ‘yêu cầu’ đáng chê trách và không đáng chê trách, bằng thân và bằng lời nói, và kết bằng việc chư thiên luôn rắc dưỡng chất cõi trời vào bát của đức Phật khi Ngài thọ thực.145Câu hỏi về trạng thái không nỗ lực trong việc thuyết giảng Giáo Pháp
MIL5.5.10 · 28 đoạnVua Milinda hỏi: đức Phật tu tập bốn a-tăng-kỳ kiếp để cứu độ số đông, sao khi thành tựu trí Toàn Tri Ngài lại nghiêng về không thuyết Pháp — phải chăng vì sợ hãi, yếu kém hay chưa toàn tri? Trưởng lão Nāgasena giải thích: đó không phải thối lui, mà là sự trầm ngâm của bậc thầy thuốc trước căn bệnh nặng — thấy Giáo Pháp quá thâm sâu còn chúng sinh thì bám chặt tà kiến, Ngài suy nghĩ cách nào để họ thấu triệt được. Hơn nữa, việc chờ Phạm Thiên thỉnh cầu mới thuyết Pháp là quy luật của chư Phật, để nhờ uy thế của Phạm Thiên mà cả thế gian hướng về Giáo Pháp.146Câu hỏi về trạng thái không có thầy của vị thầy
MIL5.5.11 · 48 đoạnVua Milinda hỏi: đức Phật nói ‘Ta không có thầy, không ai ngang bằng’, nhưng cũng nói Āḷāra Kālāma là thầy của Ngài — mâu thuẫn chăng? Trưởng lão Nāgasena giải thích: trước khi giác ngộ, Bồ-tát có năm vị thầy về pháp thế gian — tám vị Bà-la-môn xem tướng lúc sơ sinh, Bà-la-môn Sabbamitta dạy học, vị Thiên nhân làm Ngài chấn động mà xuất gia, Āḷāra Kālāma dạy thiền Vô Sở Hữu và Uddaka Rāmaputta dạy thiền Phi Tưởng Phi Phi Tưởng. Nhưng về pháp xuất thế gian và trí Toàn Tri, Ngài tự ngộ, không có thầy nào hướng dẫn.147Câu hỏi về việc hai vị Phật không sinh lên (cùng lúc)
MIL6.1.1 · 48 đoạnVua Milinda hỏi: tất cả chư Phật đều giảng cùng một Giáo Pháp, vậy sao hai vị Phật không thể xuất hiện cùng một lúc — hai nguồn sáng chẳng phải tốt hơn một sao? Trưởng lão Nāgasena đưa nhiều lý do: mười ngàn thế giới chỉ nâng đỡ được ân đức của một vị Phật như chiếc thuyền chỉ chở được một người; hai vị Phật cùng lúc sẽ khiến hội chúng tranh cãi chia phe ‘Phật của chúng tôi, Phật của các người’; các danh xưng ‘cao cả nhất, không ai sánh bằng’ sẽ thành sai; và theo quy luật tự nhiên, cái gì vĩ đại nhất trong thế gian — như quả đất, biển cả, núi Sineru — thì chỉ có một.148Câu hỏi về việc dâng cúng tấm vải của bà Gotamī
MIL6.1.2 · 46 đoạnVua Milinda hỏi: sao đức Phật lại bảo dì mẫu Gotamī dâng tấm vải bà tự tay làm cho Tăng Đoàn thay vì cho chính Ngài — phải chăng Tăng Đoàn đáng cúng dường hơn cả Phật? Trưởng lão Nāgasena giải thích: Ngài làm vậy vì lợi ích lâu dài, để sau khi Ngài tịch diệt Tăng Đoàn vẫn được tôn kính — như người cha tuyên dương đức tính của con trước mặt vua. Như cha mẹ chăm sóc con không làm con cao hơn cha mẹ, việc trao tấm vải không làm Tăng Đoàn cao hơn đức Phật, bậc đáng cúng dường tối thượng không ai sánh bằng.149Câu hỏi về việc thực hành đúng đắn
MIL6.1.3 · 27 đoạnVua Milinda hỏi: đức Phật ca ngợi sự thực hành đúng đắn của cả người tại gia lẫn vị xuất gia, và cả hai đều thành tựu như nhau — vậy xuất gia, giữ giới, hành các hạnh đầu-đà có ích gì, sao không cứ hưởng lạc mà đạt an lạc? Trưởng lão Nāgasena trả lời: đúng là chỉ người thực hành đúng đắn mới là hạng nhất, xuất gia mà không thực hành thì còn xa rời đời sống Sa-môn; nhưng đời sống xuất gia có vô lượng ân đức không đo lường được, và nhờ ít ham muốn, biết đủ, viễn ly, vị xuất gia hoàn thành mọi việc cần làm nhanh chóng như mũi tên thẳng bay đúng đích.150Câu hỏi về sự sai trái trong đường lối thực hành
MIL6.1.4 · 28 đoạnVua Milinda hỏi: đức Bồ-tát đã nhàm chán lối khổ hạnh cực đoan vì nó không đưa đến giác ngộ, sao sau khi thành Phật Ngài vẫn dạy đệ tử tinh tấn theo đường lối ấy? Trưởng lão Nāgasena giải thích: đường lối tinh tấn ấy không sai — cái sai chỉ nằm ở việc cắt đứt hoàn toàn vật thực làm tâm suy yếu; khi ăn uống lại vừa đủ, chính đường lối ấy đưa ngài đến trí Toàn Tri. Như người đi quá nhanh bị thương thì lỗi ở sự quá sức chứ không ở mặt đất, người mặc áo bẩn không giặt thì lỗi ở người chứ không ở nước.151Câu hỏi về việc trở lại đời sống tại gia tầm thường
MIL6.1.5 · 94 đoạnVua Milinda đề nghị: Giáo Pháp quá cao quý, chỉ nên cho người tại gia xuất gia sau khi đã được hướng dẫn đến một quả vị chắc chắn không thối lui, kẻo kẻ xấu xuất gia rồi hoàn tục làm dân chúng chê bai Giáo Pháp là rỗng tuếch. Trưởng lão Nāgasena bác bỏ: như hồ nước không có lỗi khi người lấm lem không chịu tắm, thầy thuốc không có lỗi khi bệnh nhân không chịu chữa, Giáo Pháp không có lỗi khi người xuất gia không chịu thực hành. Hơn nữa, người hoàn tục còn phô bày năm ân đức của Giáo Pháp — vĩ đại, trong sạch, không dung kẻ ác, khó thấu triệt, đòi nhiều thu thúc — như hoa nhài sâu rụng không làm bụi nhài bị xem thường.152Câu hỏi về sự nhận biết cảm thọ của vị A-la-hán
MIL6.1.6 · 31 đoạnVua Milinda hỏi: vị A-la-hán cảm nhận đau khổ của thân nhưng không của tâm — vậy ngài không làm chủ được thân mình sao, thua cả con chim làm chủ cái tổ? Trưởng lão Nāgasena trả lời: có mười pháp luôn đi theo thân trong mọi kiếp sống — lạnh, nóng, đói, khát, đại tiểu tiện, buồn ngủ, già, bệnh, chết — không ai ra lệnh được cho chúng, như chúng sinh sống nương trên trái đất nhưng không ra lệnh cho trái đất. Phàm nhân đau cả thân lẫn tâm vì tâm chưa tu tập như con bò bị sợi cỏ yếu giữ; vị A-la-hán buộc tâm vào cột trụ của định nên thân có thể quằn quại mà tâm vẫn vững như thân cây cổ thụ khi cành lá lay động trong gió.153Câu hỏi về chướng ngại của sự chứng ngộ
MIL6.1.7 · 42 đoạnVua Milinda hỏi về một người tại gia từng phạm tội cực nặng rồi xuất gia mà không hề biết tội của mình, tâm hoàn toàn an tịnh, không ăn năn — sao người ấy vẫn không thể chứng ngộ? Trưởng lão Nāgasena giải thích: vấn đề không nằm ở sự ăn năn mà ở điều kiện — điều kiện đưa đến chứng ngộ của người ấy đã bị cắt đứt bởi tội lỗi ấy, như hạt giống tốt không nảy mầm trên đá cứng, như gậy vồ không đứng được giữa không trung, như lửa không cháy trong nước. Việc ác làm ra dù vô tình vẫn tạo chướng ngại, như thuốc độc ăn vào dù không biết vẫn giết người, như lửa và rắn độc vẫn hại người không hay biết.154Câu hỏi về giới hạnh tồi
MIL6.1.8 · 31 đoạnVua Milinda hỏi: người tại gia phá giới và vị Sa-môn phá giới khác nhau ở đâu, quả báo có giống nhau không? Trưởng lão Nāgasena chỉ ra vị Sa-môn phá giới vẫn hơn người tại gia phá giới ở mười đức tính — còn tôn kính Tam Bảo và bạn đồng tu, còn học hỏi, nghe pháp, còn giữ tư cách trước hội chúng, còn biết giấu điều ác vì sợ chê trách — và bởi mười lý do, sự cúng dường cho vị ấy vẫn được trong sạch về phía thí chủ, như nước đặc vẫn rửa sạch bùn, nước sôi vẫn dập được lửa, thức ăn vô vị vẫn xua được cơn đói.155Câu hỏi về việc có sinh mạng và sự sống của nước
MIL6.1.9 · 53 đoạnVua Milinda hỏi: nước đun trên lửa kêu tí tách — có phải nước có sự sống, đang vui đùa hay đang bị hành hạ? Một số ngoại đạo tin nước có sinh mạng, trách các Sa-môn dùng nước nóng là hại sinh linh. Trưởng lão Nāgasena chứng minh nước không có sinh mạng hay chúng sinh: tiếng kêu chỉ do sức nóng của lửa, như nước trong hồ cạn dần vì gió nắng mà không kêu, như nước trong lu yên lặng còn nước biển động vì gió, như cái trống không có sinh linh mà vẫn kêu khi có người đánh. Nếu nước thật có sự sống, nó đã phải kêu cả khi bị voi hút, tàu ép hay cá nuốt — nhưng nó không kêu.156Câu hỏi về pháp không chướng ngại
MIL6.2.1 · 31 đoạnVua Milinda hỏi: nếu bốn quả thánh là ‘pháp không chướng ngại’, sao chư tăng còn đọc tụng chín thể loại kinh điển, bận rộn với công trình, bố thí, cúng dường — chẳng phải đó là những việc gây chướng ngại sao? Trưởng lão Nāgasena trả lời: tất cả những việc ấy đều nhằm đạt pháp không chướng ngại. Người căn cơ trong sạch từ trước chứng ngộ trong một khoảnh khắc tâm như người hái trái bằng thần thông; người còn nhiều bụi che thì cần các phương tiện ấy như cần hàng rào cho ruộng lúa, cần thang để hái trái, cần đồ chúng để xong việc. Ngay cả trưởng lão Sāriputta trí tuệ tột đỉnh cũng không thể diệt tận lậu hoặc nếu không nhờ nghe pháp.157Câu hỏi về người tại gia chứng A-la-hán
MIL6.2.2 · 22 đoạnVua Milinda hỏi về trường hợp người tại gia chứng quả A-la-hán mà trong ngày ấy không tìm được thầy truyền giới hay y bát: vị ấy có thể tự xuất gia, hoãn qua ngày, hay chờ một vị A-la-hán khác đến giúp không? Trưởng lão Nāgasena trả lời: tự xuất gia là phạm tội trộm hình tướng, ngày ấy không thể hoãn; nếu không xuất gia được thì vị ấy nhập Niết-bàn ngay trong ngày. Đó không phải lỗi của quả A-la-hán mà là lỗi của ‘hình tướng’ tại gia quá yếu ớt không nâng đỡ nổi phẩm vị ấy — như thức ăn bổ dưỡng vẫn giết người có bao tử yếu không tiêu hóa được, như cọng cỏ bị tảng đá đè nát.158Câu hỏi về sự thất niệm của vị A-la-hán
MIL6.2.3 · 36 đoạnVua Milinda gài bẫy: vị A-la-hán không thất niệm, không thiếu tôn trọng, vậy sao ngài còn phạm tội? Trưởng lão Nāgasena phân biệt hai loại lỗi: lỗi đối với thế gian (mười nghiệp bất thiện) thì bậc thánh không bao giờ phạm; còn lỗi do quy định — như ăn sái giờ, làm tổn thương cây cỏ, đùa giỡn trong nước — là những điều chỉ bị cấm trong giới luật, người tại gia làm không sao, nên vị A-la-hán vì không biết (ngài không phải bậc toàn tri, không biết tên họ người hay đường sá) vẫn có thể vô tình phạm phải. Không biết một quy định nhỏ không phải là thất niệm.159Câu hỏi về vật không có ở thế gian
MIL6.2.4 · 11 đoạnSau khi liệt kê một danh sách dài mọi thứ hiện hữu trong đời — từ chư Phật, vua chúa, ma quỷ, thú vật cho đến kim loại, lúa đậu và mùi hương — vua Milinda hỏi: vậy cái gì KHÔNG có ở thế gian? Trưởng lão Nāgasena trả lời chỉ có ba điều không có: một vật (có tâm hay không có tâm) mà không già không chết; tính thường hằng của các hành; và một ‘chúng sinh’ tồn tại theo nghĩa rốt ráo, tách rời các duyên.160Câu hỏi về vật không sinh ra do nghiệp
MIL6.2.5 · 51 đoạnVua Milinda hỏi vật gì không do nghiệp, nhân hay thời tiết sinh ra. Trưởng lão Nāgasena đáp: hư không và Niết-bàn. Vua phản đối gay gắt: Phật dạy hàng trăm cách để chứng ngộ Niết-bàn, sao nói Niết-bàn không có nhân sinh khởi? Trưởng lão phân biệt: có con đường dẫn đến chứng ngộ (như có đường đi đến núi Hi-mã-lạp, có thuyền qua biển) nhưng không có nhân ‘tạo ra’ Niết-bàn (như không ai mang được ngọn núi hay bờ biển về đây) — vì Niết-bàn không bị tạo tác. Không chỉ ra được bằng mắt tai hay màu sắc hình dạng không có nghĩa là không có: gió cũng không nắm bắt được mà vẫn có thật, và Niết-bàn được nhận biết bằng ý của bậc Thánh thực hành đúng đắn.161Câu hỏi về vật sinh ra do nghiệp
MIL6.2.6 · 12 đoạnVua Milinda xin phân loại dứt khoát: vật gì sinh ra từ đâu? Trưởng lão Nāgasena đáp: mọi chúng sinh có tâm thức sinh ra do nghiệp; lửa và các loài sinh từ hạt giống sinh ra do nhân; đất, núi, nước, gió sinh ra do thời tiết; chỉ hư không và Niết-bàn là không sinh ra do cả ba. Niết-bàn không thể mô tả bằng các phạm trù sinh diệt hay giác quan, nhưng được nhận biết bằng ý thanh tịnh của bậc Thánh thực hành đúng đắn.162Câu hỏi về thây chết của Dạ-xoa
MIL6.2.7 · 12 đoạnVua Milinda hỏi: nếu Dạ-xoa có thật và cũng chết, sao không ai thấy xác chết hay ngửi thấy mùi tử thi của chúng? Trưởng lão Nāgasena đáp: xác của chúng vẫn được nhìn thấy đấy — dưới hình dáng côn trùng, sâu, kiến, châu chấu, rắn, bọ cạp, rết, chim, thú chết mà người đời vẫn gặp hằng ngày mà không nhận ra nguồn gốc của chúng.163Câu hỏi về sự quy định điều học
MIL6.2.8 · 9 đoạnVua Milinda thắc mắc: các thầy thuốc xưa không toàn tri mà viết trọn bộ y thư một lần; đức Phật toàn tri, biết trước sẽ cần hơn 150 điều học, sao không ban hành tất cả một lượt mà đợi chuyện xảy ra, tai tiếng lan rộng mới quy định từng điều? Trưởng lão Nāgasena đáp: Phật biết rõ, nhưng nếu ban hành hết ngay, người đời sẽ hoảng sợ ‘khó quá’ mà không dám xuất gia, mất niềm tin và rơi vào đường khổ. Vì lòng thương, Ngài đợi từng trường hợp xảy ra, giảng cho mọi người thấy rõ lỗi lầm, rồi mới chế định — giới luật ra đời theo nhu cầu thực tế để được chấp nhận và giữ vững.164Câu hỏi về sự chiếu sáng của mặt trời
MIL6.2.9 · 16 đoạnVua Milinda hỏi: mặt trời luôn nắng gắt hay có lúc dịu? Trưởng lão Nāgasena đáp: bản thân mặt trời luôn gắt; sở dĩ có lúc thấy dịu là vì bốn ‘bệnh’ che trở nó — mây mù, sương mù, mây mưa và Rāhu (nhật thực). Vua thán phục: đến mặt trời đầy năng lượng còn có bệnh, huống gì chúng sinh.165Câu hỏi về sự nắng gắt
MIL6.2.10 · 12 đoạnVua Milinda hỏi tại sao nắng mùa lạnh lại gắt hơn nắng mùa nóng. Trưởng lão Nāgasena giải thích theo quan sát tự nhiên: mùa nóng bụi bị gió cuốn lên trời, mây dày, gió mạnh — tất cả hợp lại che chắn tia nắng nên nắng trông dịu; mùa lạnh đất mát, bụi lắng, trời quang, gió nhẹ nên tia nắng trong trẻo và chiếu gắt. Vua tóm lại: mặt trời thoát khỏi các vật che thì gắt, bị che thì không.166Câu hỏi về việc bố thí con của Vessantara
MIL6.3.1 · 128 đoạnVua Milinda chất vấn việc Bồ-tát Vessantara cho cả con và vợ cho vị Bà-la-môn tàn ác — bảy việc ‘khó làm’ nối tiếp nhau đến mức tưởng như tàn nhẫn. Trưởng lão Nāgasena biện hộ nhiều lớp: mọi Bồ-tát đều làm vậy; cho dù làm kẻ khác đau khổ, việc cho vẫn sinh quả lành như người gánh người bệnh đến nơi mong muốn hay vua thu thuế rồi bố thí; ‘cho quá mức’ được bậc trí ca ngợi như mọi tính chất ‘quá mức’ khác trong tự nhiên; phải cho đúng thứ người ta xin, như xin nước thì không thể đưa cơm thay thế; Vessantara cho vì yêu quý Trí Toàn Tri chứ không vì ghét bỏ gia đình — ngài đau đến ứa máu mắt — và ngài biết chắc các con không thể thật sự bị nô lệ hóa: ông nội sẽ chuộc lại, và danh tiếng cùng giới đức của ngài bảo đảm điều đó.167Câu hỏi về việc hành khổ hạnh
MIL6.3.2 · 94 đoạnVua Milinda hỏi: sao chỉ Bồ-tát Gotama hành khổ hạnh mà các Bồ-tát khác không? Trưởng lão Nāgasena đáp: chư Phật chỉ khác nhau ở dòng dõi, thời gian tinh tấn, tuổi thọ và tầm vóc; còn các pháp của Phật thì ngang nhau. Gotama xuất gia khi trí tuệ chưa chín muồi — bị xúc động bởi cảnh hậu cung và lời quyến rũ dối trá của Thiên tử nhà Ma hứa hẹn bánh xe báu — nên phải qua sáu năm khổ hạnh để làm chín muồi trí tuệ; ngài không bao giờ có thể quay lại vì mười trói buộc thế gian (cha mẹ, vợ con, tài sản, danh lợi, quyền uy, năm dục...) đã bị cắt đứt. Việc ngài tự hỏi ‘có con đường khác không’ không phải thất niệm, mà chỉ là một ý nghĩ thoáng qua khi thân thể bị đói khát chế ngự — một trong hai mươi lăm pháp làm yếu tâm.168Câu hỏi về thiện hay bất thiện mạnh hơn
MIL6.3.3 · 49 đoạnVua Milinda không phục nhận định ‘thiện mạnh hơn bất thiện’: kẻ ác bị trừng phạt chặt tay, đóng cọc ngay trong đời này hàng trăm hàng ngàn người, trong khi người làm thiện được quả hiện tiền chỉ đếm được sáu trường hợp, và vua Kosala bố thí vô song mà chẳng nhận được gì ngay. Trưởng lão Nāgasena giải đáp: bất thiện nhỏ nhoi nên chín nhanh như giống lúa một tháng của kẻ làm công; thiện rộng lớn nên chín chậm như lúa sāli năm sáu tháng dành cho vua. Hơn nữa, quả ‘hiện tiền’ của ác phần lớn là hình phạt do vua chúa lập ra theo luật đời — không có luật nào thưởng cho người bố thí, nên thiện ít khi hiện quả ngay; nhưng ở tương lai, thiện mới là cái mạnh hơn hẳn.169Câu hỏi về việc hồi hướng
MIL6.3.4 · 60 đoạnVua Milinda hỏi về tục hồi hướng phước cho người thân đã mất: ai nhận được, ai không? Trưởng lão Nāgasena đáp: người ở địa ngục, cõi trời, loài thú và ba hạng ngạ quỷ không nhận được; chỉ hạng ngạ quỷ sống nhờ vật bố thí của người khác mới nhận được, khi họ nhớ đến. Nếu người thân không nhận được, phước không mất — chính người cho thọ hưởng, như quà biếu không được nhận thì vẫn thuộc về người chủ. Và nghiệp ác thì không hồi hướng được, vì bất thiện ít ỏi như giọt nước chỉ thấm tại chỗ, còn thiện dồi dào như đám mây mưa bao phủ khắp nơi: người làm thiện thì hỷ lạc làm thiện càng tăng trưởng như giếng nước không cạn, người làm ác thì ân hận làm tâm co rút, tiêu tan tại chỗ.170Câu Hỏi Về Giấc Mơ
MIL6.3.5 · 50 đoạnVua hỏi giấc mơ là gì và ai thấy nó. Trưởng lão đáp: giấc mơ là điềm đi vào tầm của tâm; trong sáu nguyên nhân gây mơ, chỉ mơ do điềm báo trước là thật. Giấc mơ chỉ xuất hiện ở chặng giữa của cơn buồn ngủ — giấc ngủ của con khỉ — khi tâm chưa rơi vào luồng tâm hộ kiếp.171Câu Hỏi Về Việc Chết Không Đúng Thời
MIL6.3.6 · 122 đoạnVua lập luận rằng ai chết lúc nào thì đó là thời của người ấy, nên không có chết không đúng thời. Trưởng lão bác bỏ bằng ví dụ trái cây rụng non, bảy hạng người chết khi tuổi thọ còn đó, và tám nguyên nhân chết — chỉ chết do quả của nghiệp mới là đúng thời; hàng loạt ví dụ (lửa bị mưa dập, mũi tên bị chộp, lúa bị sâu, mưa đá) chứng minh cái chết bị yếu tố bất ngờ cắt ngang là chết không đúng thời.172Câu Hỏi Về Điều Kỳ Diệu Ở Bảo Tháp
MIL6.3.7 · 16 đoạnVua hỏi vì sao chỉ một số bảo tháp của các vị đã viên tịch mới có điều kỳ diệu. Trưởng lão đáp: điều kỳ diệu chỉ xảy ra nhờ sự chú nguyện của một trong ba hạng — vị A-la-hán lúc còn sống, chư Thiên, hoặc người có đức tin dâng cúng kèm lời nguyện; không có chú nguyện thì dù là bậc Lậu Tận cũng không có điều kỳ diệu, nhưng vẫn nên tin vị ấy đã khéo viên tịch.173Câu Hỏi Về Sự Lãnh Hội Giáo Pháp
MIL6.3.8 · 40 đoạnTrưởng lão kể mười sáu hạng người dù thực hành đúng đắn cũng không chứng ngộ được Giáo Pháp, từ loài thú, kẻ phạm tội nặng chưa sám hối, đến trẻ dưới bảy tuổi. Riêng với trẻ nhỏ, lý do không phải vì có phiền não mà vì tâm còn yếu, nhỏ, chưa phát triển, không kham nổi giới Niết-bàn vô vi nặng nề và vĩ đại — như giọt nước không làm ướt được trái đất, ngọn lửa nhỏ không soi được thế gian.174Câu Hỏi Về Niết-bàn Thuần Lạc
MIL6.3.9 · 38 đoạnVua cho rằng Niết-bàn bị khổ xen lẫn vì người tu tìm cầu nó phải chịu bao gian khổ, trái ngược với người đời hưởng năm món dục. Trưởng lão phân biệt: gian khổ ấy chỉ là phần đi trước — sự tìm cầu — chứ không phải chính Niết-bàn; như lạc của vương quyền khác với gian khổ chinh chiến để giành vương quyền, và lạc của nghề khác với gian khổ học nghề.175Câu Hỏi Về Hình Thể Và Vị Trí Của Niết-bàn
MIL6.3.10 · 141 đoạnVua không chấp nhận việc Niết-bàn có thật mà không chỉ ra được hình thể; trưởng lão dùng hai ví dụ — đại dương không đếm được nước và sinh vật, chư Thiên vô sắc có thật mà không mô tả được — để chứng minh điều ấy. Sau đó, theo phẩm chất, Niết-bàn được chỉ ra qua 37 phẩm chất mượn từ hoa sen, nước, thuốc, đại dương, thức ăn, hư không, ngọc ma-ni, trầm hương đỏ, bơ tinh và đỉnh núi.176Câu Hỏi Về Sự Chứng Ngộ Niết-bàn
MIL6.3.11 · 50 đoạnVua hỏi người chứng ngộ Niết-bàn thì chứng ngộ cái đã sinh hay tạo ra nó rồi chứng ngộ. Trưởng lão đáp: giới Niết-bàn vốn có sẵn, không thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại; người thực hành đúng đắn chứng ngộ nó bằng trí tuệ theo lời dạy của đức Phật, qua tiến trình quán xét sự vận hành của các hành, thấy sinh già bệnh chết, nhàm chán, rồi tâm lao vào sự không vận hành.177Câu Hỏi Về Nơi Chứa Đựng Niết-bàn
MIL6.3.12 · 33 đoạnVua cho rằng mọi vật đều phải có nơi sinh ra, nên Niết-bàn không có nơi chứa đựng tức là không có thật. Trưởng lão đáp bằng hai ví dụ: lửa không có kho chứa mà vẫn làm ra được bằng cách cọ củi, và bảy báu vật của vua chuyển luân không có nơi chứa mà vẫn tự đến. Còn 'chỗ đứng' để chứng ngộ Niết-bàn chính là giới — đứng vững trong giới thì ở bất cứ nơi đâu cũng chứng ngộ được.178Câu Hỏi Suy Luận
MIL6.4.1 · 347 đoạnVua chất vấn: cả trưởng lão lẫn thầy của ngài đều chưa từng thấy đức Phật, vậy sao tin có Phật? Trưởng lão đáp bằng suy luận: như thấy đồ vật của các vua tiền bối thì biết có vua tiền bối, thấy các pháp đức Phật đã dùng — Bốn Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo — qua hình ảnh thành phố Chánh Pháp với các cửa tiệm hoa, hương, quả, thuốc, châu báu, thì biết đức Phật có thật, dù chưa từng gặp mặt.179Câu Hỏi Về Hạnh Đầu-đà
MIL6.4.2 · 131 đoạnVua nghi ngờ: nếu người tại gia hưởng dục cũng chứng ngộ Niết-bàn được thì hạnh đầu-đà vô ích. Trưởng lão đáp: vô số tại gia đã chứng ngộ, nhưng tất cả họ đều đã tu tập mười ba hạnh đầu-đà trong các kiếp trước; hạnh đầu-đà có 28 đức tính, là nền tảng thanh tịnh không thể thiếu — ai thọ trì với tâm xấu sẽ chịu quả nặng, ai xứng đáng thọ trì sẽ hội đủ ba mươi đức tính cao quý như trưởng lão Sāriputta.180Bảng Liệt Kê Các Ví Dụ
MIL7.1 · 118 đoạnĐức vua hỏi vị Tỷ-kheo cần hội đủ bao nhiêu tính chất để chứng ngộ quả A-la-hán. Trưởng lão Nāgasena mở đầu phần giảng bằng ví dụ bằng một bảng liệt kê: từng vật, từng loài — từ con lừa, con gà trống cho đến vị vua, người thầy thuốc — đóng góp một số tính chất mà hành giả nên học theo, sắp xếp theo bảy phẩm.181Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Lừa
MIL7.2.1 · 15 đoạnĐức vua hỏi tính chất của con lừa mà hành giả nên học. Trưởng lão đáp: con lừa nằm ở đâu cũng được và không nằm nhiều; hành giả cũng vậy, trải mảnh da nằm ở bất cứ nơi nào cũng được và không nên ham nằm. Lời Phật và kệ của trưởng lão Sāriputta được dẫn để chứng minh.182Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Gà Trống
MIL7.2.2 · 44 đoạnNăm tính chất của gà trống được nêu: nghỉ và dậy đúng giờ; ăn phải quán xét trước như gà bới đất; tuy có mắt mà ban đêm như mù — hành giả cũng phải như mù, điếc, câm trước các đối tượng quyến rũ; và bị ném đánh cũng không bỏ chuồng — hành giả không bỏ tác ý đúng đường lối, vốn là ngôi nhà của mình cùng với bốn Niệm Xứ.183Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Sóc
MIL7.2.3 · 14 đoạnCon sóc khi bị kẻ thù tấn công thì phồng đuôi lên thành cây gậy để tự vệ. Hành giả cũng vậy: khi phiền não xông tới, phải làm cho cây gậy Niệm Xứ lớn mạnh lên và dùng chính nó mà đánh lui mọi phiền não, như kệ của trưởng lão Cūḷapanthaka dạy.184Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Beo Cái
MIL7.2.4 · 14 đoạnCon beo cái chỉ đậu thai một lần rồi không tìm đến con đực nữa. Hành giả cũng vậy: thấy rõ chuỗi tái sinh, bào thai, chết và tan rã cùng nỗi sợ luân hồi, nên quyết tâm tác ý rằng mình sẽ không còn nối tiếp sinh ra lần nữa, như lời đức Phật trong bài kinh Dhaniya.185Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Beo Đực
MIL7.2.5 · 29 đoạnHai tính chất của beo đực: ẩn núp nơi rậm rạp để vồ mồi — hành giả lui tới nơi vắng vẻ để sớm làm chủ sáu thắng trí; và không ăn con thú ngã về phía trái — hành giả không dùng bữa ăn có được bằng các cách nuôi mạng sai trái bị đức Phật quở trách, thà bỏ mạng cũng không phá vỡ sự nuôi mạng chân chánh.186Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Rùa
MIL7.2.6 · 31 đoạnNăm tính chất của rùa: sống trong nước — hành giả an trú trong tâm từ rải khắp thế gian; thấy người thì lặn sâu — phiền não đến thì chìm vào đối tượng thiền; ra khỏi nước thì sưởi nắng — sưởi ấm tâm trong nỗ lực đúng đắn; đào đất ở nơi cô quạnh — bỏ lợi lộc tiếng tăm mà ở nơi vắng; và rút các chi vào mai — thu thúc sáu căn, sống có niệm và tỉnh giác.187Câu Hỏi Về Tính Chất Của Cây Tre
MIL7.2.7 · 14 đoạnCây tre nghiêng theo chiều gió, không chống lại cũng không chạy hướng khác. Hành giả cũng vậy: thuận theo lời dạy chín thể loại của đức Phật, đứng vững trong điều được phép và không đáng chê trách, chỉ tìm cầu đời sống Sa-môn — như trưởng lão Rāhula đã nhờ thế vượt khỏi đọa xứ.188Câu Hỏi Về Tính Chất Của Cây Cung
MIL7.2.8 · 14 đoạnCây cung cong đều và mềm mại, không cứng ngắc. Hành giả cũng vậy: hòa hợp nhu thuận với mọi bậc đồng tu — trưởng lão, trung niên hay mới tu — không chống đối, như lời dạy trong Bổn Sanh Vidhura rằng bậc trí uốn mình như cung thì ở đâu cũng sống được.189Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Quạ
MIL7.2.9 · 17 đoạnHai tính chất của quạ: đi lại dè dặt, cẩn thận, đề phòng — hành giả giữ niệm và thu thúc các căn như vậy; và thấy thức ăn thì chia cho đồng loại trước rồi mới ăn — hành giả không hưởng lợi lộc một mình mà chia sẻ với các bạn đồng tu có giới đức.190Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Khỉ
MIL7.2.10 · 23 đoạnHai tính chất của khỉ: chọn cây to tách biệt làm chỗ ở — hành giả nương tựa vị thầy, người bạn lành đầy đủ đức tính tốt; và sống hẳn trên cây — hành giả hướng về rừng, mọi tư thế đều ở trong rừng và thực hành Niệm Xứ tại đó. Cuối bài là phần tóm lược của phẩm Con Lừa.191Câu Hỏi Về Tính Chất Của Dây Bầu
MIL7.3.1 · 18 đoạnDây bầu bám tua vào bất cứ vật gì quanh nó rồi vươn lên. Hành giả cũng vậy: dùng tâm bám chặt vào đối tượng thiền, từ chỗ bám ấy mà tăng trưởng đến quả A-la-hán, quả vị Vô Học, như kệ của trưởng lão Sāriputta dạy.192Câu Hỏi Về Tính Chất Của Cây Sen
MIL7.3.2 · 16 đoạnBa tính chất của sen: sinh trong nước mà không lấm lem — hành giả sống giữa đời mà không nhiễm lợi lộc danh vọng; vươn lên khỏi nước — chế ngự thế gian, đứng vững trong pháp xuất thế; và rung động trước cơn gió nhẹ nhất — nhạy bén thấy nguy hiểm ngay trong phiền não nhỏ nhất.193Câu Hỏi Về Tính Chất Của Hạt Giống
MIL7.3.3 · 22 đoạnHai tính chất của hạt giống: tuy nhỏ mà gieo vào ruộng tốt thì cho nhiều quả — giới thực hành đúng đắn cho toàn bộ quả vị Sa-môn; và gieo vào ruộng đã dọn sạch thì lớn nhanh — tâm thanh tịnh trong nơi vắng, đặt vào thửa ruộng Niệm Xứ, cũng lớn lên nhanh chóng.194Câu Hỏi Về Tính Chất Của Cây Sālā Xinh Đẹp
MIL7.3.4 · 22 đoạnCây sālā xinh đẹp lớn lên ngay trong lòng đất đến hàng trăm cánh tay trước khi vọt lên mặt đất trong một ngày. Hành giả cũng vậy: âm thầm làm đầy đủ bốn quả Sa-môn, bốn tuệ phân tích, sáu thắng trí và toàn bộ pháp Sa-môn ngay trong ngôi nhà trống vắng, như trưởng lão Rāhula bạch với đức Phật.195Câu Hỏi Về Tính Chất Của Chiếc Thuyền
MIL7.3.5 · 17 đoạnBa tính chất của thuyền: ghép nhiều gỗ mà chở nhiều người qua — hành giả kết hợp nhiều pháp để đưa thế gian qua bờ kia; chịu đựng sóng gió và xoáy nước — chịu đựng sóng phiền não, lợi lộc, chê khen, vui khổ; và đi trên biển sâu vô tận — cho tâm đi lại trong sự thấu hiểu bốn sự thật cao quý theo ba vòng mười hai phương diện.196Câu Hỏi Về Tính Chất Của Cái Neo Thuyền
MIL7.3.6 · 17 đoạnHai tính chất của cái neo: giữ chặt thuyền giữa biển động — hành giả neo giữ tâm giữa xung đột của suy tư và sóng tham sân si; và chìm sâu chứ không nổi — hành giả không nổi lên trên lợi lộc danh vọng mà giữ tâm ở mức vừa đủ nuôi sống thân này.197Câu Hỏi Về Tính Chất Của Cột Buồm
MIL7.3.7 · 10 đoạnCột buồm mang dây thừng, dây đai và buồm trên mình. Hành giả cũng vậy: mang niệm và tỉnh giác theo mình trong mọi hoạt động — đi đứng nằm ngồi, ăn uống, nói im — như lời đức Phật dạy vị Tỷ-kheo phải sống có niệm và tỉnh giác.198Câu Hỏi Về Tính Chất Của Người Thuyền Trưởng
MIL7.3.8 · 22 đoạnBa tính chất của người thuyền trưởng: lái tàu ngày đêm không buông lung — hành giả điều khiển tâm bằng tác ý đúng đường lối liên tục như thế; biết rõ mọi điều tốt xấu trên biển — biết rõ thiện bất thiện, lỗi và không lỗi; và niêm phong bộ phận điều khiển — đặt dấu thu thúc lên tâm, không cho suy nghĩ xấu bất thiện chạm vào.199Câu Hỏi Về Tính Chất Của Người Làm Công
MIL7.3.9 · 14 đoạnNgười làm công trên thuyền ý thức rằng miếng ăn và tiền công của mình tùy thuộc vào việc không buông lung khi vận hành thuyền. Hành giả cũng vậy: quán sát thân tứ đại với niệm và tỉnh giác không gián đoạn chính là việc làm nuôi sống mình, và phần thưởng là thoát khỏi sinh già bệnh chết và mọi sầu bi khổ não.200Câu Hỏi Về Tính Chất Của Biển Cả
MIL7.3.10 · 37 đoạnNăm tính chất của biển cả: không dung xác chết — không sống chung với phiền não; giữ kín châu báu — che giấu các chứng đắc của mình; sống với sinh vật to lớn — nương tựa bạn lành; sông mưa đổ đầy cũng không tràn bờ — không vi phạm điều học dù vì mạng sống; và không bao giờ đầy — không thỏa mãn với việc học hỏi Giáo Pháp. Cuối bài là phần tóm lược phẩm Biển Cả.201Câu Hỏi Về Tính Chất Của Đất
MIL7.4.1 · 30 đoạnNăm tính chất của đất: nhận cả hương thơm lẫn ô uế mà vẫn như thế — hành giả bình thản trước lợi lộc, danh tiếng, chê khen, vui khổ; không trang sức mà thơm bằng hương của chính mình — hương giới hạnh; liền một dải không nứt vỡ — giới không khiếm khuyết; nâng đỡ muôn loài không mệt mỏi — thuyết pháp không mệt mỏi; và thoát khỏi thiên vị ghét bỏ — tâm như đất.202Câu Hỏi Về Tính Chất Của Nước
MIL7.4.2 · 28 đoạnNăm tính chất của nước: trong sạch và yên ổn tự bản chất — đức hạnh trong sạch không giả dối; mát lạnh — nhẫn nại, từ ái, bi mẫn với mọi loài; rửa sạch vật ô uế — không gây tranh chấp với thầy bạn; được mọi người mong mỏi — người ít ham muốn, biết đủ được thế gian quý mến; và không làm hại ai — như lời nguyện trong Bổn Sanh Kaṇha.203Câu Hỏi Về Tính Chất Của Lửa
MIL7.4.3 · 24 đoạnNăm tính chất của lửa: đốt cỏ củi — đốt mọi phiền não bằng lửa trí tuệ; không thương xót — không trắc ẩn với phiền não; tan cái lạnh — tinh tấn sinh nhiệt đánh tan ô nhiễm; thoát khỏi thiên vị ghét bỏ — tâm như lửa với mọi đối tượng; và xua bóng tối, phô ánh sáng — trí tuệ xua vô minh, như lời Phật dạy Rāhula.204Câu Hỏi Về Tính Chất Của Gió
MIL7.4.4 · 26 đoạnNăm tính chất của gió: thổi qua rừng hoa — vui trong rừng đề mục thiền trổ hoa giải thoát; lay động cây cối — quán xét các hành mà lay chuyển phiền não; đi trong hư không — cho tâm đi lại trong pháp xuất thế; mang hương thơm — hương giới hạnh của chính mình; và không nhà không chỗ trú — giải thoát ở mọi nơi, không thân thiết bám víu.205Câu Hỏi Về Tính Chất Của Núi
MIL7.4.5 · 56 đoạnNăm tính chất của núi: bất động trước kính trọng, danh tiếng, chê khen, vui khổ như tảng đá trước gió; vững chắc không giao du với ai; hạt giống không mọc trên núi — phiền não không mọc trong tâm; vươn cao — trí tuệ vươn lên như người đứng đỉnh núi nhìn xuống; và không nhô không lõm — không hứng chí khi được lợi, không nản lòng khi mất lợi.206Câu Hỏi Về Tính Chất Của Hư Không
MIL7.4.6 · 25 đoạnNăm tính chất của hư không: không thể nắm bắt — phiền não không nắm bắt được tâm; là nơi muôn loài lui tới — tâm lui tới các hành với tuệ vô thường, khổ, vô ngã; gây rúng động — rúng động trước tái sinh ở mọi cõi; vô tận vô lượng — giới và tuệ không bờ mé; và không dính mắc, không chỗ dựa — như lời Phật dạy Rāhula về sự tu tập như hư không.207Câu Hỏi Về Tính Chất Của Mặt Trăng
MIL7.4.7 · 22 đoạnNăm tính chất của mặt trăng: tuần trăng sáng lớn dần thêm mãi — hành giả tiến bộ không ngừng trong mọi mặt tu tập; là chúa tể vĩ đại — ước muốn hướng thượng lớn lao; đi vào ban đêm — sống tách biệt; có cung điện làm biểu trưng — lấy giới làm biểu trưng; và chỉ mọc khi được mong mỏi — chỉ đến nhà người khi được thỉnh mời, dè dặt như người mới.208Câu Hỏi Về Tính Chất Của Mặt Trời
MIL7.4.8 · 36 đoạnBảy tính chất của mặt trời: làm khô mọi nước — làm khô kiệt mọi phiền não; xua bóng tối — xua bóng tối tham sân si và hạnh xấu; di chuyển không ngừng — tác ý đúng đường lối liên tục; có vòng hào quang — vòng trang sức là các đề mục thiền; sưởi ấm dân chúng — sưởi ấm thế gian bằng mọi pháp tu; sợ thần Rāhu — rúng động trước cảnh chúng sinh sa vào đường ác; và phô bày tốt xấu — chỉ rõ các pháp cho người đời thấy.209Câu Hỏi Về Tính Chất Của Thiên Chủ Sakka
MIL7.4.9 · 20 đoạnBa tính chất của Thiên chủ Sakka: hưởng an lạc toàn vẹn — hành giả vui với an lạc của sự tách biệt; thấy chư Thiên thì nâng đỡ và làm họ vui — nâng đỡ tâm thiện của mình và làm nó hăng hái; và không có sự không hoan hỷ — không để tâm chán nản sinh khởi trong nơi vắng, như trưởng lão Subhūti không hề có ý nghĩ dục lạc từ ngày xuất gia.210Câu Hỏi Về Tính Chất Của Vua Chuyển Luân
MIL7.4.10 · 33 đoạnBốn tính chất của vua Chuyển Luân: thu phục dân bằng bốn việc thu phục — thu phục tâm bốn hội chúng; lãnh địa không có trộm cướp — không để tà tư duy nổi dậy; ngày ngày tuần tra xem xét thiện ác — quán xét thân khẩu ý mỗi ngày; và bảo vệ trong ngoài chu đáo — đặt niệm làm người gác cổng chống phiền não. Cuối bài là phần tóm lược phẩm Đất.211Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Mối
MIL7.5.1 · 14 đoạnCon mối làm mái che phủ kín thân rồi mới đi kiếm ăn. Hành giả cũng vậy: lấy sự thu thúc về giới làm mái che cho tâm rồi mới đi khất thực giữa đời, và nhờ mái che ấy mà vượt qua mọi sợ hãi, không bị thế gian làm lấm lem.212Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Mèo
MIL7.5.2 · 17 đoạnHai tính chất của mèo: ở đâu cũng chỉ tìm chuột — hành giả ở đâu cũng chỉ tìm món ăn là niệm đặt ở thân; và chỉ kiếm ăn ở gần — quan sát sinh diệt ngay trong năm thủ uẩn của chính mình, vì giải thoát không ở đâu xa mà ở ngay trong thân này.213Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Chuột
MIL7.5.3 · 14 đoạnCon chuột đi đâu cũng chỉ vì một mục đích duy nhất là tìm thức ăn. Hành giả cũng vậy: đi lại đó đây, mọi sinh hoạt chỉ hướng về một điều duy nhất là tác ý đúng đường lối — lấy Chánh Pháp làm chủ đạo, sống quán tuệ, an tịnh và luôn có niệm.214Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Bọ Cạp
MIL7.5.4 · 14 đoạnCon bọ cạp giơ cao chiếc đuôi — vũ khí của nó — rồi mới di chuyển. Hành giả cũng vậy: giơ cao trí tuệ làm vũ khí mà sống; cầm thanh gươm trí tuệ thì thoát mọi sợ hãi và trở nên khó khuất phục.215Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Chồn
MIL7.5.5 · 14 đoạnCon chồn bôi thuốc lên thân trước khi đến gần con rắn để bắt nó. Hành giả cũng vậy: trước khi bước vào thế gian đầy giận dữ, cãi cọ và chống đối, phải bôi thoa tâm bằng thuốc là lòng từ — tu tập tâm từ cho mình và cho người, như lời dạy của chư Phật.216Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Chó Rừng Già
MIL7.5.6 · 32 đoạnHai tính chất của chó rừng già: ăn mà không ghê tởm — hành giả dùng thức ăn chỉ để duy trì thân, như trưởng lão Mahākassapa ăn vắt cơm của người cùi mà không một chút ghê tởm; và không phân biệt tồi tàn hay hảo hạng — biết đủ với những gì nhận được, vì tham đắm vị ngon thì tâm không thể vui trong thiền.217Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Nai
MIL7.5.7 · 23 đoạnBa tính chất của nai: ban ngày ở rừng, ban đêm ở khoảng trống — hành giả thay đổi chỗ ở giữa rừng và khoảng trống như đức Phật đã sống; né tránh giáo và tên — né tránh phiền não, không đưa tâm lại gần; và thấy người thì chạy trốn — tránh xa những kẻ giới xấu, biếng nhác, ưa xung đột và tụ họp.218Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Bò
MIL7.5.8 · 27 đoạnBốn tính chất của bò: không rời chuồng — không rời bỏ thân mà quán nó là vô thường, tan rã; nhận ách thì mang đến cùng — sống phạm hạnh dù sướng khổ cho đến hơi thở cuối; khát thì uống háo hức — tiếp nhận lời thầy với khao khát và tịnh tín; và ai bắt mang vác cũng mang — cúi đầu tiếp nhận lời giáo huấn từ bất cứ ai, như trưởng lão Sāriputta sẵn sàng học từ vị sa-di bảy tuổi.219Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Heo
MIL7.5.9 · 17 đoạnHai tính chất của heo: trời nóng thì tìm đến nước — tâm bị sân hận đốt nóng thì tìm đến sự tu tập tâm từ mát lạnh; và đào hố bùn rồi nằm trong đó — đặt thân vào tâm, để tâm vào sâu trong đối tượng thiền rồi an trú một mình.220Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Voi
MIL7.5.10 · 34 đoạnNăm tính chất của voi: vừa đi vừa nghiền nát đất — nghiền nát phiền não trong khi quán thân; nhìn thẳng bằng cả thân hình — mắt chỉ nhìn khoảng một ách cày trước mặt; không có chỗ ngủ cố định — không thiết lập chỗ trú lâu dài; đùa giỡn trong hồ sen — vui trong hồ Niệm Xứ đầy hoa giải thoát; và nhấc đặt chân với niệm — niệm và tỉnh giác trong mọi cử động. Cuối bài là tóm lược phẩm Con Mối.221Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Sư Tử
MIL7.6.1 · 29 đoạnBảy tính chất của sư tử: tâm trong sạch không hối hận; bước đi là bốn nền tảng thần thông; bờm là giới đẹp đẽ; không cúi mình trước ai dù mất hết vật dụng; ăn theo thứ tự không chọn lựa gia đình và thức ăn; không ăn đồ tích trữ; và không lo âu khi không có thức ăn, không tham đắm khi có — như đức Phật tán dương trưởng lão Mahākassapa.222Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Ngỗng Trời Cakkavāka
MIL7.6.2 · 20 đoạnBa tính chất của ngỗng trời cakkavāka: không rời bạn đời cho đến chết — không rời tác ý đúng đường lối cho đến cuối đời; ăn rong rêu mà biết đủ, không suy giảm sức lực sắc đẹp — biết đủ với lợi lộc thì không suy giảm giới, định, tuệ và giải thoát; và không hãm hại sinh mạng — bỏ gậy bỏ dao, thương tưởng mọi loài.223Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Sếu Cái
MIL7.6.3 · 17 đoạnHai tính chất của sếu cái: ghen ghét với con trống đến mức không nuôi con — hành giả ghen ghét, không dung dưỡng các phiền não đã sinh trong tâm; và chiều về với bầy để được bảo vệ — hành giả độc cư tu tập, nhưng khi không còn vui nơi vắng thì trở về Tăng Đoàn để được bảo vệ khỏi sự chê trách.224Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Bồ Câu Nhà
MIL7.6.4 · 14 đoạnCon bồ câu nhà sống trong nhà người mà không để ý đến đồ đạc của họ. Hành giả vào nhà thí chủ cũng vậy: không để ý đến người, đồ đạc hay món ăn của họ, giữ tâm dửng dưng và tư tưởng của người Sa-môn; ăn uống chừng mực, không để tâm vào cảnh sắc.225Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Chim Cú
MIL7.6.5 · 14 đoạnHai tính chất của chim cú: là kẻ thù của loài quạ, ban đêm tấn công chúng — hành giả chống đối sự vô minh, một mình nghiền nát nó tận gốc; và ẩn cư rất kỹ — ưa thích sự ẩn cư thiền định, nơi vị Tỷ-kheo biết như thật bốn sự thật cao quý.226Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Chim Gõ Kiến
MIL7.6.6 · 14 đoạnCon chim gõ kiến kêu báo hiệu an toàn hay nguy hiểm cho muôn loài. Người thuyết pháp cũng vậy: chỉ rõ đọa xứ là đáng sợ hãi và Niết-bàn là an lạc an toàn — nói đủ cả hai mặt để người nghe biết đường mà đi.227Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Dơi
MIL7.6.7 · 21 đoạnHai tính chất của dơi: vào nhà rồi ra ngay không vướng bận — khất thực xong thì rời làng nhanh chóng; và ở nhà người mà không gây thiệt hại — không làm thí chủ hối tiếc vì xin xỏ hay quấy rầy, trái lại mong cho họ tiến triển mọi mặt như lời kinh Lakkhaṇa.228Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Đỉa
MIL7.6.8 · 14 đoạnCon đỉa bám vào đâu thì bám chặt ở đó để hút máu. Hành giả cũng vậy: bám chặt vào đối tượng thiền, thiết lập nó thật vững theo mọi đặc điểm của nó, rồi nhờ chính đối tượng ấy mà nếm trọn vị của sự giải thoát bằng tâm thanh tịnh.229Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Rắn
MIL7.6.9 · 20 đoạnBa tính chất của rắn: di chuyển bằng ngực — sinh hoạt bằng trí tuệ, đi đúng khuôn khổ; tránh xa cây thuốc — tránh xa hạnh xấu; và thấy người thì buồn rầu suy nghĩ — hành giả hối tiếc sâu sắc mỗi ngày đã trôi qua trong buông lung, vì ngày ấy không lấy lại được, như đôi kinnara tiếc một đêm bị chia lìa.230Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Trăn
MIL7.6.10 · 26 đoạnCon trăn to lớn mà nhiều ngày chịu bụng đói, sống chỉ với mức tối thiểu. Hành giả khất thực cũng vậy: thức ăn đầy bụng rất khó kiếm, nên chừa lại bốn năm vắt cơm cuối, lấp phần còn lại bằng nước — ăn chừng mực, bụng còn thiếu một chút, là đủ cho đời sống an ổn. Cuối bài là tóm lược phẩm Sư Tử.231Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Nhện Đường
MIL7.7.1 · 14 đoạnCon nhện đường giăng lưới bên đường và ăn thịt mọi côn trùng vướng vào. Hành giả cũng vậy: giăng lưới Niệm Xứ ở sáu cửa căn, phiền não nào vướng vào lưới ấy thì tiêu diệt ngay tại chỗ, như kệ của trưởng lão Anuruddha.232Câu Hỏi Về Tính Chất Của Đứa Bé Còn Bú
MIL7.7.2 · 11 đoạnĐứa bé còn bú bám chặt vào nguồn lợi ích của nó và khóc khi cần sữa. Hành giả cũng vậy: bám chặt vào mục đích giải thoát của mình, nuôi mình bằng trí tuệ Giáo Pháp trong mọi sinh hoạt — như lời đức Phật dặn Ānanda trong kinh Đại Bát Niết-bàn.233Câu Hỏi Về Tính Chất Của Con Rùa Có Đốm
MIL7.7.3 · 15 đoạnCon rùa có đốm sợ nước nên tránh nước mà tuổi thọ không giảm. Hành giả cũng vậy: thấy sự nguy hiểm trong buông lung và giá trị của không buông lung thì không suy giảm bản chất Sa-môn, trái lại tiến đến gần Niết-bàn, như kệ Pháp Cú dạy.234Câu Hỏi Về Tính Chất Của Khu Rừng
MIL7.7.4 · 26 đoạnNăm tính chất của khu rừng: che giấu người không trong sạch — che đậy lỗi lầm của người khác; trống vắng đám đông — trống rỗng phiền não; tách biệt — xa lìa pháp bất thiện; yên tĩnh trong sạch — tịch tịnh, bỏ ngã mạn và giả dối; và được bậc thánh lui tới — thân cận các bậc thánh, những vị viễn ly và tinh tấn.235Câu Hỏi Về Tính Chất Của Cây Cối
MIL7.7.5 · 20 đoạnBa tính chất của cây: mang hoa và trái — hoa giải thoát, trái Sa-môn; cho bóng mát người đến nương tựa — tiếp đón mọi người bằng vật chất hoặc bằng Giáo Pháp; và không phân biệt khi cho bóng — tâm từ bình đẳng với kẻ thù cũng như với chính mình, như đức Phật bình đẳng với Devadatta, Aṅgulimāla, voi Dhanapāla và Rāhula.236Câu Hỏi Về Tính Chất Của Cơn Mưa
MIL7.7.6 · 26 đoạnNăm tính chất của mưa: làm lắng bụi — làm lắng bụi phiền não; làm mát đất — làm mát thế gian bằng tâm từ; làm nảy mầm hạt giống — gieo hạt đức tin vào ba sự thành tựu; bảo vệ cây cỏ theo mùa — bảo vệ đời Sa-môn bằng tác ý đúng đường lối; và làm đầy sông hồ — mưa Giáo Pháp làm đầy tâm người cầu chứng đắc.237Câu Hỏi Về Tính Chất Của Ngọc Ma-ni
MIL7.7.7 · 20 đoạnBa tính chất của ngọc ma-ni: trong sạch thuần túy — nuôi mạng trong sạch thuần túy; không trộn lẫn với thứ khác — không giao du với điều ác và bạn ác; và được gắn chung với ngọc quý cùng loại — sống chung với các bậc thánh từ Nhập Lưu đến A-la-hán, như người trong sạch sống chung với người trong sạch.238Câu Hỏi Về Tính Chất Của Người Thợ Săn
MIL7.7.8 · 23 đoạnBốn tính chất của thợ săn: ít ngủ — hành giả ít buồn ngủ; cột tâm vào con mồi — cột tâm vào đối tượng thiền; biết thời điểm làm việc — biết lúc nào ẩn cư, lúc nào đi ra; và thấy con mồi thì vui mừng — vui trong đề mục với niềm tin sẽ chứng đắc cao hơn.239Câu Hỏi Về Tính Chất Của Người Câu Cá
MIL7.7.9 · 18 đoạnHai tính chất của người câu cá: dùng lưỡi câu giật cá lên — dùng trí tuệ nâng mình lên các quả vị cao hơn; và hy sinh một vật nhỏ để được lợi lớn — từ bỏ chút tài vật thế gian nhỏ nhoi để chứng đắc quả vị Sa-môn to lớn, ba cửa giải thoát, bốn Quả và sáu thắng trí.240Câu Hỏi Về Tính Chất Của Người Thợ Mộc
MIL7.7.10 · 29 đoạnHai tính chất của thợ mộc: đẽo gỗ theo sợi dây mực thẳng — thuận theo Giáo Pháp, đứng trên đất giới, cầm rìu trí tuệ bằng tay đức tin mà đẽo phiền não; và bỏ gỗ giác lấy lõi cứng — bỏ mọi tà kiến và tranh luận vô ích, nắm lấy tánh không tuyệt đối của các hành, như lời Phật trong Kinh Tập dạy loại bỏ kẻ xấu ác khỏi Tăng đoàn.241Câu Hỏi Về Tính Chất Của Chum Nước
MIL7.8.1 · 14 đoạnChum nước đầy thì không kêu vang. Hành giả cũng vậy: càng chứng đắc viên mãn về kinh điển và quả vị thì càng lặng lẽ, không ngã mạn, không phô trương — kẻ ngu như chum lưng chừng thì ồn ào, bậc trí như hồ đầy thì yên tĩnh, như kệ Kinh Tập dạy.242Câu Hỏi Về Tính Chất Của Sắt Đen
MIL7.8.2 · 18 đoạnHai tính chất của sắt đen: ngấm nước đủ thì nhả ra — tâm ngấm phải tác ý sai lạc thì trào ngược, phải tránh; và nước đã vào một lần thì không nhả ra nữa — niềm tin nơi Tam Bảo và trí tuệ thấy năm uẩn vô thường, một khi đã sinh khởi, thì giữ chặt không để vuột mất.243Câu Hỏi Về Tính Chất Của Cái Lọng Che
MIL7.8.3 · 24 đoạnBa tính chất của lọng che: ở trên đầu — đứng trên đầu các phiền não; chống đỡ cho đầu — có tác ý đúng đường lối làm trụ chống; và che gió, nắng, mưa — ngăn gió tà kiến, lửa tham sân si và mưa phiền não, như người con Phật cầm chiếc lọng giới hạnh trong kệ của ngài Sāriputta.244Câu Hỏi Về Tính Chất Của Thửa Ruộng
MIL7.8.4 · 20 đoạnBa tính chất của thửa ruộng: đầy đủ kênh mương — đầy đủ phận sự tu tập; có bờ bao giữ nước làm lúa chín — bờ giới và tàm quý giữ đời Sa-môn và cho bốn quả vị; và sinh sôi làm vui lòng nông dân — là ruộng phước khiến vật cúng dường ít thành nhiều, nhiều thành nhiều hơn.245Câu Hỏi Về Tính Chất Của Thuốc Giải Độc
MIL7.8.5 · 17 đoạnHai tính chất của thuốc giải độc: giòi bọ không sống được trong thuốc — phiền não không được tồn tại trong tâm; và thuốc chặn mọi chất độc vào cơ thể bằng bất cứ đường nào — hành giả chặn mọi nọc độc tham, sân, si, ngã mạn, tà kiến, như lời Phật dạy người muốn thấy bản chất các hành.246Câu Hỏi Về Tính Chất Của Vật Thực
MIL7.8.6 · 20 đoạnBa tính chất của vật thực: nâng đỡ mọi chúng sinh — nâng đỡ mọi người trên Đạo lộ; làm tăng sức mạnh — tăng trưởng phước đức; và được mọi loài mong mỏi — trở thành người được cả thế gian khao khát tìm đến nhờ thu thúc, giới và thực hành, như kệ của ngài Mahāmoggallāna.247Câu Hỏi Về Tính Chất Của Người Cung Thủ
MIL7.8.7 · 73 đoạnBốn tính chất của cung thủ: tư thế bắn vững chãi với niềm vui sẽ trúng đích — đứng trên đất giới bằng đôi chân tinh tấn, nhắm mũi tên trí tuệ vào mọi phiền não; mang nẹp uốn thẳng tên cong — dùng Niệm Xứ uốn thẳng tâm cong vẹo; chuyên chú vào mục tiêu — quán thân đủ bốn mươi hai tính chất từ vô thường đến phiền não; và luyện tập sáng chiều không lơ là — con đường đến quả A-la-hán như người cung thủ nhận phần công xứng đáng.248Phần Kết Của Mi-lan-đà Hỏi Đáp
MIL8 · 32 đoạnPhần kết tổng kết: tập sách gồm 262 câu hỏi đã truyền đạt trong 22 phẩm thuộc 6 phần (cả thảy 304 câu hỏi kể cả 42 câu chưa truyền). Khi cuộc vấn đáp kết thúc, đất rung động sáu cách, vua Milinda hoan hỷ quy y làm cư sĩ, xây chùa Milinda dâng trưởng lão Nāgasena, rồi trao vương quốc cho con trai, xuất gia và chứng đắc A-la-hán. Cuối sách là kệ tán thán trí tuệ và lời ghi của trưởng lão Doṇi xứ Laṅkā nguyện sinh về cõi Đâu Suất để gặp Phật Di-lặc.
Ký Sự Trưởng Lão Tăng · Therāpadāna
561 bài
1Phật Toàn Giác Ký SựTHA-AP1 · 336 đoạnBài mở đầu của Trưởng Lão Ký Sự không phải chuyện của một vị trưởng lão mà do chính đức Phật kể theo lời hỏi của Tôn giả Ānanda tại Jetavana: các vị Phật Toàn Tri thành tựu nhờ đã từng phụng sự chư Phật quá khứ mà chưa đạt giải thoát, lấy giác ngộ làm đầu mối, nhờ chí nguyện và sức mạnh của trí tuệ sắc bén. Đức Phật kể nguyện xưa của Ngài: chỉ bằng tâm ý, Ngài gom toàn bộ châu báu trong các cõi Phật, hóa hiện tòa lâu đài bằng bạc và châu báu nhiều tầng — tầng ngọc bích, tầng vàng đầy hoa sen, tháp nhọn bảy báu, giường trải vải Kāsi, đuốc ngọc ma-ni — rồi thỉnh tất cả chư Phật quá khứ và hiện tại cùng chư Phật Độc Giác và các đệ tử vào ngự, dâng tam y lấy từ cây như ý và vật thực đầy bát ngọc, nghe các vị chất vấn và trả lời lẫn nhau trong niềm vui riêng. Ngài hồi hướng phước cho mọi chúng sinh hữu tưởng và vô tưởng, nguyện mọi loài sống nhờ vật thực đều được thức ăn hợp ý. Quả của nguyện bằng tâm ý ấy: chỉ luân hồi trong hai cõi trời và người, vượt trội chư thiên hay làm vua loài người, hễ vươn tay ra ở bất cứ đâu — trên đất, trên núi, trên trời, trong nước, trong rừng — thì thức ăn cõi trời, châu báu, hương thơm, xe cộ, tràng hoa, trang sức, thiếu nữ, mật đường và mọi vật thực đều hiện đến. Bài khép lại bằng hạnh nguyện Ba-la-mật tròn đủ và ba lời giáo huấn bất hủ của chư Phật: thấy lười biếng là nguy hiểm, hãy tinh tấn; thấy tranh cãi là nguy hiểm, hãy hòa hợp thân thiện; thấy xao lãng là nguy hiểm, hãy tu tập con đường tám chi phần.2Phật Độc Giác Ký Sự
THA-AP2 · 237 đoạnBài ký sự đặc biệt này không thuộc về một vị trưởng lão nào mà do đức Phật kể: Tôn giả Ānanda hỏi về nhân duyên thành Phật Độc Giác, đức Phật giải thích các vị ấy là những người đã từng phụng sự chư Phật quá khứ nhưng chưa đạt giải thoát; nhờ sự chấn động tâm làm đầu mối, chỉ với một đối tượng thiền nhỏ bé họ tự giác ngộ mà không cần bậc Chánh Giác, và trong toàn thể thế gian, ngoài đức Phật ra không ai sánh bằng họ. Tiếp theo là toàn bộ Kinh Sừng Tê Giác: hơn bốn mươi bài kệ khuyên hãy sống một mình như sừng của loài tê giác — buông gậy gộc với mọi chúng sinh, không cầu con cái bạn bè, nhìn thấy tai hại của ái luyến và của các dục, vượt qua lạnh nóng đói khát, như sư tử không sợ tiếng động, như gió không vướng lưới, như sen không vướng nước. Bài kết bằng lời ca tụng chư Phật Độc Giác: giới và tuệ thanh tịnh, định tĩnh tỉnh thức, là ngọn đèn của thế gian, bậc đáng cúng dường; ai nghe lời các ngài mà hành theo sẽ trở thành người thấy được sự thật.3Ký sự về trưởng lão Sāriputta
THA-AP3 · 943 đoạnTrong kiếp xa xưa, Suruci là đạo sĩ Bà-la-môn có hai mươi bốn ngàn học trò; sau khi gặp đức Phật Anomadassī và dâng cúng hoa, ông đã tán dương trí tuệ vô lượng của đức Phật, và được thọ ký sẽ trở thành Sāriputta, vị thượng thủ thinh văn của đức Phật Gotama. Trong kiếp cuối, Sāriputta nghe câu kệ “các pháp do nhân sanh” của trưởng lão Assaji mà đắc Pháp nhãn, rồi trở thành vị tướng quân Chánh Pháp, vị đệ tử trí tuệ đệ nhất.4Ký sự về trưởng lão Mahāmoggallāna
THA-AP4 · 97 đoạnTrưởng lão Mahāmoggallāna kể: thuở ấy ông là Long Vương Varuṇa sống ở đại dương, có khả năng biến hóa theo ý muốn. Khi đức Phật Anomadassī cư ngụ tại núi Hi-mã-lạp, ông giải tán đoàn tùy tùng, tổ chức tấu nhạc, cho long nữ ca hát làm đức Phật chú ý lắng nghe rồi thỉnh Ngài về cung điện, sắp đặt chỗ ngồi và làm toại ý cả ngàn vị A-la-hán cùng Tăng chúng bằng cơm nước. Đức Phật thọ ký: người này sẽ bảy mươi bảy lần làm vua trời, tám trăm lần cai trị cõi đất, năm mươi lăm lần làm Chuyển Luân Vương; trong vô lượng kiếp sau là Kolita, đệ tử thứ hai của đức Phật Gotama, đạt toàn hảo về thần thông. Nhưng ông cũng thú nhận một ác nghiệp nặng: từng lệ thuộc bạn ác, bị ái dục khống chế, với tâm tồi bại đã giết cả cha lẫn mẹ, nên kiếp nào sinh ra — địa ngục hay làm người — cũng chết với đầu bị vỡ, và ngay kiếp cuối này cái chết như thế vẫn sẽ xảy ra. Nay ông không còn ngã mạn, tôn trọng cả các vị sa-di, chỉ bằng ngón chân cái bên trái cũng có thể lay động trái đất sâu thẳm, và đã đạt sự diệt tận lậu hoặc.5Ký sự về trưởng lão Mahākassapa
THA-AP5 · 97 đoạnTrưởng lão Mahākassapa kể: khi đức Phật Padumuttara nhập diệt, dân chúng phấn chấn cúng dường bảo tháp; ông tập hợp quyến thuộc bạn bè và kêu gọi: đấng Đại Hùng đã viên tịch, hãy cùng làm lễ cúng dường. Ông xây một lễ đài khéo thực hiện cao một trăm cánh tay, trải dài một trăm năm mươi cánh tay vươn lên tận trời, dựng tòa lâu đài trang điểm bằng hàng cây thốt nốt, làm tâm tịnh tín và cúng dường bảo tháp tối thượng tỏa sáng bốn phương như khối lửa, như cây hoa nở rộ, như cầu vồng giữa không trung. Sinh lên cõi trời với xe ngựa trời kéo bởi một ngàn con, tòa lâu đài bảy tầng, một ngàn nhà mái nhọn toàn bằng vàng và hồng ngọc rọi sáng mười phương vượt trội mọi chư thiên; sáu mươi ngàn kiếp trước làm vua Ubbiddha chinh phục bốn phương, trong kiếp Bhadda ba mươi lần làm Chuyển Luân Vương đầy đủ bảy báu, thành phố Rammaka dài năm trăm, rộng hai trăm năm mươi chật chội như hai mươi lăm cây kim trong một hộp. Kiếp cuối sinh vào gia tộc Bà-la-môn giàu châu ngọc, ông từ bỏ tám mươi koṭi vàng và xuất gia.6Ký sự về trưởng lão Anuruddha
THA-AP6 · 57 đoạnTrưởng lão Anuruddha kể: ông gặp đức Phật Sumedha đang an trú độc cư thiền định dưới cội cây, chắp tay thỉnh cầu được dâng một cây đèn. Đức Phật chấp nhận; ông khoan thủng các thân cây, gắn thiết bị và dâng một ngàn tim đèn, cháy sáng suốt bảy ngày rồi lụi tàn. Nhờ tâm tịnh tín và nguyện lực ấy, ông sinh vào Thiên cung có cung điện chiếu sáng xung quanh, chiếu sáng khắp một trăm do-tuần vượt trội mọi chư thiên, ba mươi kiếp làm chúa của chư thiên không ai xem thường, hai mươi tám lần làm Chuyển Luân Vương, ngày đêm nhìn thấy xa một do-tuần. Nay trong Giáo Pháp của đức Phật Gotama, ông nhìn thấy một ngàn thế giới bằng trí tuệ và đạt được Thiên nhãn — tất cả đều là quả của việc dâng cúng cây đèn.7Ký sự về trưởng lão Puṇṇa Mantāṇiputta
THA-AP7 · 37 đoạnTrưởng lão Puṇṇa Mantāṇiputta kể: khi là giảng sư thông thạo ba tập Vệ-đà, ông dẫn đoàn học trò đến gặp đức Phật Padumuttara và được Ngài tán dương ngắn gọn. Nghe Pháp rồi, ông thuyết giảng lại một cách chi tiết cho học trò; tất cả đều hoan hỷ, xua đi tà kiến và làm tâm tịnh tín nơi đức Phật. Ông tinh thông đường hướng Vi Diệu Pháp, khéo làm cho mọi người hiểu rõ, sống không còn lậu hoặc, từng làm chúa tể bốn châu lục, và nay chứng đắc bốn tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí.8Ký sự về trưởng lão Upāli
THA-AP8 · 626 đoạnTrưởng lão Upāli kể hai kiếp lớn. Kiếp Bà-la-môn Sujāta giàu tám mươi koṭi ở Haṁsavatī, thông suốt ba bộ Vệ-đà nhưng kiêu mạn không tôn kính ai, ông chứng kiến đạo sĩ Sunanda được đức Phật Padumuttara tán dương và sẽ thành Puṇṇa Mantāṇiputta, đệ nhất trì tụng. Ông tự nhủ: vị Tỷ-kheo trì tụng kia được đặt đứng đầu về Luật — ta ước nguyện vị thế ấy. Ông mua vườn Sobhana một trăm ngàn, xây tu viện đủ nhà mái nhọn, đường kinh hành, nhà tắm hơi, tường thành kiên cố, dâng lên đức Phật cùng một ngàn vị vô lậu và được thọ ký: một ngàn lần làm chúa chư thiên, một ngàn lần Chuyển Luân Vương, kiếp cuối là Upāli đệ nhất về Luật. Tiếp đó là bài tự thuật dài về kiếp vương tử Candana kiêu mạn: ông thúc voi Sirika xúc phạm đức Phật Devala, rồi bị lửa hối hận thiêu đốt như đầu bốc cháy, như cá mắc câu; triệu tập dân chúng trong ba ngàn do-tuần, áo ướt đầu ướt sụp lạy xin tha thứ, và nghe đức Phật dạy lửa không ở trong nước, hạt giống không mọc trên đá, cơn giận không sinh ở chư Phật. Vì nghiệp khinh miệt bậc tự chủ tâm an tịnh ấy, kiếp này ông sinh vào dòng dõi thấp kém làm thợ cạo cho dòng Sakya. Phần cuối là những bài kệ ca tụng đức Phật như vị vua xây thành phố Chánh Pháp — giới là tường thành, Niệm Xứ là tháp canh, Sāriputta là tướng quân Pháp, Ānanda là người giữ kho Pháp, còn ông là viên quan phân xử Luật — kèm lời dạy: đừng để cơ hội vuột qua; Giáo Pháp với người này là thuốc, với kẻ chống đối là chất độc thiêu đốt một koṭi kiếp; chư Phật bình đẳng với Devadatta, Aṅgulimāla và Rāhula như nhau.9Ký sự về trưởng lão Aññākoṇḍañña
THA-AP9 · 73 đoạnTrưởng lão Aññākoṇḍañña kể: ông là người đầu tiên được nhìn thấy đức Phật Padumuttara khi Ngài vừa đạt đến địa vị Giác Ngộ. Tại cội Bồ-đề, tất cả Dạ-xoa tụ hội, vây quanh chắp tay đảnh lễ; chư thiên hoan hỷ di chuyển trên không trung reo rằng đức Phật đã đến xua tan bóng tối, và cùng phát tiếng vang lớn thề thiêu đốt phiền não trong Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác. Nghe giọng chư thiên, ông hoan hỷ dâng cúng bữa ăn đầu tiên lên đức Phật vừa thành đạo. Đức Phật biết ý định của ông, ngồi giữa hội chúng chư thiên và thọ ký: người dâng bữa ăn đầu tiên này suốt ba mươi ngàn kiếp sẽ cai quản cõi trời vượt trội mọi chư thiên, rồi làm Chuyển Luân Vương một ngàn lần; một trăm ngàn kiếp sau, trong thời đức Phật Gotama, người ấy xuất gia sống sáu năm khổ hạnh, và vào năm thứ bảy, khi đức Phật thuyết giảng Chân Lý, Koṇḍañña sẽ là người chứng ngộ đầu tiên. Quả vậy, ông xuất gia theo đấng đã lìa nhà, tinh tấn thiêu đốt phiền não, và khi đức Phật đến Vườn Nai ở Isināma vỗ tiếng trống Bất Tử, ông đạt đến cảnh giới Bất Tử thanh tịnh vô thượng.10Ký sự về trưởng lão Piṇḍolabhāradvāja
THA-AP10 · 65 đoạnTrưởng lão Piṇḍolabhāradvāja kể: kiếp ấy ông là một con sư tử vua của loài thú, dáng vóc dũng mãnh, tiếng rống khiến nhiều người hoảng hốt, sống trên đỉnh Cittakūṭa phía trước núi Hi-mã-lạp nơi đức Phật Padumuttara cư ngụ. Ông cầm đóa sen nở rộ đến gần, dâng lên đức Phật khi Ngài vừa xuất khỏi thiền định, lễ bái bốn hướng, làm tâm tịnh tín rồi rống lên tiếng rống sư tử. Nghe giọng đức Phật, chư thiên tụ hội xin nghe Pháp; đức Phật tán dương niềm tin của ông trước chư thiên đang tràn ngập niềm vui và thọ ký: kiếp thứ tám sau này sẽ làm Chuyển Luân Vương Paduma đầy đủ bảy báu làm chúa tể bốn châu lục, cai quản lãnh địa sáu mươi bốn lần; một trăm ngàn kiếp sau sẽ sinh vào dòng Bà-la-môn trong thời đức Phật Gotama, lìa bỏ phẩm vị Bà-la-môn mà xuất gia, quyết chí nỗ lực, hiểu thấu mọi lậu hoặc và nhập diệt nơi chốn vắng vẻ trong rừng đầy ác thú.11Ký sự về trưởng lão Khadiravaniyarevata
THA-AP11 · 69 đoạnTrưởng lão Khadiravaniya Revata kể: ông là người chèo thuyền ở một bến sông hiểm trở trên sông Gaṅgā Bhāgīrathī phát nguồn từ Hi-mã-lạp. Nghe tin đức Phật Padumuttara sẽ cùng một trăm ngàn vị có năng lực qua sông, ông gom nhiều chiếc thuyền, nhờ thợ mộc làm mái che khéo léo trên một chiếc và chờ đợi. Đức Phật bước lên thuyền, đứng giữa dòng nước thọ ký: người đưa đức Phật và Tăng chúng không còn lậu hoặc sang bờ kia sẽ vui hưởng cõi trời, có cung điện hình chiếc thuyền sinh ra cho mình và mái che bằng hoa luôn được giữ trên không trung; năm mươi tám kiếp sau làm Chuyển Luân Vương Tāraka chinh phục bốn phương, năm mươi bảy kiếp sau làm vua Campaka rực sáng như mặt trời mọc; một trăm ngàn kiếp sau sinh làm Revata dòng Bà-la-môn, xuất gia trong thời đức Phật Gotama và nhập diệt không còn lậu hoặc. Việc làm từ một trăm ngàn kiếp trước đã trổ quả tại đây nhanh như mũi tên khéo bắn, thiêu đốt các phiền não của ông, và đức Phật tuyên bố ông là vị đứng đầu trong số các Tỷ-kheo cư ngụ ở rừng.12Ký sự về trưởng lão Ānanda
THA-AP12 · 95 đoạnTrưởng lão Ānanda kể: đức Phật Padumuttara bước ra khỏi cổng tu viện, đổ cơn mưa Bất Tử làm đám đông nguội tắt phiền não, được một trăm ngàn vị anh hùng có sáu thắng trí và đại thần lực tháp tùng như bóng không lìa hình. Ông đang ngồi trên mình voi cầm chiếc lọng trắng cao quý tối thượng, thấy hình dáng lịch sự của đức Phật thì niềm hạnh phúc sinh khởi; ông leo xuống voi, đến gần và cầm chiếc lọng bằng châu báu của mình che cho đức Phật. Đức Phật dừng bài thuyết giảng và thọ ký: người này sẽ ở cõi Đẩu Suất được tiên nữ tôn trọng, ba mươi bốn lần làm vua trời, một trăm lẻ tám lần làm thống lãnh quân đội trên trái đất, năm mươi tám lần làm Chuyển Luân Vương; một trăm ngàn kiếp sau sẽ là Ānanda, quyến thuộc và thị giả của đấng là biểu tượng dòng Sakya, nhiệt tâm, cẩn trọng, rành rẽ nhiều chân lý, khiêm nhường và trì tụng toàn bộ, rồi nhập diệt không còn lậu hoặc. Ông lễ bái đức Phật cả ba canh, phục vụ với tâm tịnh tín, đạt quả Nhập Lưu, đứng vững bất động trong Chánh Pháp trước mặt đức Phật tối thượng và chứng đắc ba minh cùng tuệ phân tích và thắng trí. Cuối bài là phần tóm lược mười hai ký sự của phẩm Buddha, tổng cộng sáu trăm năm mươi câu kệ.13Ký sự về trưởng lão Sīhāsanadāyaka
THA-AP13 · 53 đoạnTrưởng lão Sīhāsanadāyaka kể: sau khi đức Phật Siddhattha nhập diệt, lúc Phật ngôn đã lan rộng và Giáo Pháp được nhiều người biết đến, ông với tâm tịnh tín và hoan hỷ đã làm một bảo tọa sư tử, rồi một ghế kê chân, và khi mưa giông ập xuống bảo tọa, ông dựng cả một ngôi nhà che chở tại chỗ. Nhờ tâm tịnh tín ấy ông sinh lên cõi Đẩu Suất, nơi cung điện dài hai mươi bốn do-tuần, rộng mười bốn do-tuần hiện ra cùng một trăm ngàn thiếu nữ vây quanh, ghế bành bằng vàng, ngọc ma-ni và lõi gỗ, xe voi xe ngựa và cả những đôi giày bằng vàng bạc pha-lê ngọc bích xuất hiện theo ước muốn. Suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh; nhiều lần làm Chuyển Luân Vương tên Inda, Sumana và Varuṇa là chúa tể bốn châu lục, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.14Ký sự về trưởng lão Ekatthambhika
THA-AP14 · 61 đoạnTrưởng lão Ekatthambhika kể: đức Phật Siddhattha có hội chúng cư sĩ đông đảo quy y và đặt niềm tin vào đức Như Lai. Họ tụ hội bàn bạc xây hội trường cho bậc Đạo Sư nhưng thiếu một cây cột trụ, phải vào rừng bạt ngàn tìm kiếm. Thấy họ trong rừng, ông đến gần chắp tay hỏi; các cư sĩ có giới hạnh cho biết họ muốn xây hội trường mà không có được cây cột. Ông ngỏ ý: hãy giao việc ấy cho tôi, tôi sẽ dâng một cây cột cho bậc Đạo Sư, các vị đừng bận tâm. Họ tin tưởng giao việc; khi đoàn cư sĩ vừa ra đi không lâu, ông hoan hỷ dựng đứng cây cột đầu tiên. Nhờ đó, kiếp nào sinh ra làm thiên hay làm người, ông đều hưởng mọi an lạc trong cung điện bảy tầng có nhà mái nhọn và cây cột đẹp như ý: làm vua Yasodhara năm mươi lăm kiếp trước, vua Udena hai mươi mốt kiếp trước, và suốt chín mươi bốn kiếp không rơi vào khổ cảnh.15Ký sự về trưởng lão Nanda
THA-AP15 · 37 đoạnTrưởng lão Nanda kể: ông dâng tấm vải lanh cho đức Phật Padumuttara và được Ngài thọ ký: nhờ việc dâng vải này, ông sẽ có sắc da vàng chói, hưởng hai sự thịnh đạt trời và người, rồi trở thành em trai của đức Phật Gotama; khi ấy dù say mê dục lạc, được đức Phật thúc đẩy, ông sẽ xuất gia, hiểu thấu mọi lậu hoặc và nhập diệt không còn lậu hoặc. Qua các kiếp ông từng nhiều lần làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc bốn tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí.16Ký sự về trưởng lão Cullapanthaka
THA-AP16 · 85 đoạnTrưởng lão Cullapanthaka kể hai đời tu của mình. Kiếp xưa là đạo sĩ ở ẩn cư tại Hi-mã-lạp, ông cầm chiếc lọng bằng hoa đến gần đức Phật Padumuttara đang nhập định — vô tình gây khuấy rối — rồi nâng bằng hai tay dâng lọng hoa sen lên; đức Phật thọ nhận, chư thiên tán thưởng, và Ngài thọ ký rằng vị đạo sĩ này sẽ hai mươi lăm kiếp làm vua trời, ba mươi bốn lần làm Chuyển Luân Vương, kiếp nào đứng ngoài trời cũng có đóa sen che chở, và một trăm ngàn kiếp sau hai anh em cùng tên Panthaka sẽ làm sáng chói Giáo Pháp, người em là vị giỏi nhất về thân do ý tạo. Đời nay ông xuất gia năm mười tám tuổi nhưng bản chất đần độn, bị khi dễ, bị anh trai Mahāpanthaka xua đuổi về nhà; đứng rầu rĩ ở cổng tu viện với niềm ao ước đời Sa-môn, ông được đức Phật đến xoa đầu, nắm tay dẫn vào, trao cho miếng giẻ chùi chân dạy chú nguyện cho nó trong sạch. Cầm giẻ bằng hai tay, ông nhớ lại đóa sen hồng xưa, tâm được giải thoát và đạt A-la-hán, thành tựu toàn hảo về việc biến hóa các thân do ý tạo.17Ký sự về trưởng lão Piḷindivaccha
THA-AP17 · 57 đoạnTrưởng lão Piḷindivaccha kể: sau khi đức Phật Sumedha nhập diệt, ông với tâm tịnh tín và hoan hỷ cúng dường ngôi bảo tháp, triệu tập các vị A-la-hán có sáu thắng trí và đại thần lực lại để làm bữa trai phạn dâng Tăng chúng, và vị thị giả của đức Phật tên Sumedha đã tùy hỷ. Nhờ đó ông sinh về Thiên cung với tám mươi sáu ngàn tiên nữ phục tòng mọi dục lạc, vượt trội các chư thiên khác; làm vua Varuṇa hưởng vật thực vô cùng tinh khiết, dân chúng ăn gạo sāli không cần gieo cày nấu nướng; bạn hay thù, mọi sinh linh đều không hãm hại ông mà còn yêu quý ông. Trong kiếp Bhadda này ông từng là Chuyển Luân Vương có đại oai lực, an trú nhiều người vào năm giới và đưa họ đến nhàn cảnh, được chư thiên yêu quý.18Ký sự về trưởng lão Rāhula
THA-AP18 · 77 đoạnTrưởng lão Rāhula kể: ông lắp đặt một tấm gương soi trong tòa lâu đài bảy tầng của đức Phật Padumuttara. Đức Phật được một ngàn vị A-la-hán tùy tùng bước vào hương thất đang chiếu sáng, đứng giữa Tăng chúng thọ ký: nhờ người này, chỗ ngụ được chiếu sáng và tấm gương được khéo lắp đặt; những lâu đài bằng vàng, bạc và ngọc bích cùng mọi thứ được yêu thích trong tâm sẽ hiện ra từ tấm gương; sáu mươi bốn lần làm chúa chư thiên, một ngàn lần liên tiếp làm Chuyển Luân Vương, làm vua Vimala chinh phục bốn phương với thành phố Reṇuvatī bằng gạch dài ba trăm vuông vức, lâu đài Sudassana do Vissakamma tạo nên tỏa sáng tám do-tuần xung quanh. Một trăm ngàn kiếp sau, từ cõi Đẩu Suất sinh xuống làm con trai của đức Phật Gotama; nếu ở tại gia có thể thành Chuyển Luân Vương nhưng người như thế không tìm vui nơi gia đình, sẽ lìa nhà xuất gia và trở thành A-la-hán tên Rāhula. Chính ông đã hộ trì đức Phật như chim kikī bảo vệ trứng, như bò cāmarī bảo vệ đuôi, cẩn trọng và tròn đủ về giới.19Ký sự về trưởng lão Upasena
THA-AP19 · 50 đoạnTrưởng lão Upasena Vaṅgantaputta kể: thấy đức Phật Padumuttara ngồi ở sườn núi, ông ngắt bông hoa kaṇikāra ở cuống, trang điểm chiếc lọng rồi che lên trên đức Phật, lại dâng vật thực cơm thượng hạng và thức ăn ngon, chăm lo bữa ăn cho tám vị Sa-môn với đức Phật là vị thứ chín. Đức Phật tùy hỷ thọ ký: nhờ cúng lọng và cơm, người này sẽ ba mươi sáu lần làm vua của chư thiên, hai mươi mốt lần làm Chuyển Luân Vương với lãnh thổ bao la không đếm xuể; một trăm ngàn kiếp sau, trong thời đức Phật Gotama, khi Giáo Pháp đang chiếu sáng, người ấy sinh vào loài người, là người con chánh thống sinh ra từ Chánh Pháp với tên Upasena và được đặt vào vị thế tối thắng vì làm hài lòng mọi người xung quanh. Nay ông mang thân cuối cùng, các cõi hiện hữu đã bị xóa sạch sau khi thắng Ma Vương cùng đạo quân của hắn, chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.20Ký sự về trưởng lão Raṭṭhapāla
THA-AP20 · 65 đoạnTrưởng lão Raṭṭhapāla kể: ông dâng lên đức Phật Padumuttara một con voi cao quý có ngà như cán cày, từng là phương tiện của đức vua, được trang hoàng lọng trắng và đồ trang sức cho voi; ông cho định giá toàn bộ rồi xây tu viện dâng Tăng chúng, xây năm mươi bốn ngàn tòa lâu đài và làm bữa trai phạn lớn lao dâng bậc Đại Ẩn Sĩ. Đức Phật tùy hỷ, thuyết giảng đạo lộ Bất Tử cho dân chúng hoan hỷ, rồi ngồi giữa Tăng chúng thọ ký: mười tám ngàn ngôi nhà mái nhọn bằng vàng sẽ hiện ra ở cung trời tối thượng, năm mươi lần làm chúa chư thiên, năm mươi tám lần làm Chuyển Luân Vương; một trăm ngàn kiếp sau, từ cõi trời sinh xuống gia tộc sang trọng giàu có lớn lao trong thời đức Phật Gotama, xuất gia với tên Raṭṭhapāla, hiểu thấu mọi lậu hoặc và nhập diệt. Nay ông đã đứng dậy ra đi, từ bỏ mọi của cải như nhổ bỏ bãi nước bọt, không còn chút yêu thương nào với tài sản, mang thân cuối cùng trong Giáo Pháp của đức Phật Chánh Đẳng Giác với sự tinh tấn làm phận sự đưa đến an ổn khỏi mọi ràng buộc.21Ký sự về trưởng lão Sopāka
THA-AP21 · 53 đoạnTrưởng lão Sopāka kể: đang dọn dẹp chiếc hang trong rừng trên ngọn núi cao, ông đón đức Phật Siddhattha đến, trải thảm và dâng một chỗ ngồi bằng hoa. Đức Phật ngồi xuống, biết cảnh giới tái sinh của ông, liền thốt lên bài kệ vô thường nổi tiếng: các pháp hữu vi là vô thường, có sinh có diệt, sinh rồi diệt, sự tĩnh lặng của chúng là an lạc — rồi bay lên không trung như chim thiên nga chúa. Ông từ bỏ tà kiến, tu tập tưởng vô thường chỉ một ngày rồi mệnh chung; hưởng hai sự thịnh đạt trời và người, kiếp cuối sinh vào dòng dõi hạ liệt, xuất gia lúc bảy tuổi và chứng A-la-hán, rồi làm đức Phật hoan hỷ và được thọ giới cụ túc. Nhờ việc dâng hoa và tu tập tưởng vô thường từ chín mươi bốn kiếp trước, sự đoạn tận lậu hoặc đã đến với ông.22Ký sự về trưởng lão Sumaṅgala
THA-AP22 · 83 đoạnTrưởng lão Sumaṅgala kể: ông chuẩn bị vật thực để dâng lễ hiến cúng, đang đứng ở quảng trường rộng lớn chờ các vị Bà-la-môn thì thấy đức Phật Piyadassī hào quang như mặt trời đang tiến bước trên đường, được các đệ tử tháp tùng. Ông chắp tay, làm tâm tịnh tín và chỉ bằng tâm ý đã thỉnh mời: mong bậc Đại Hiền Triết đến gần. Đức Phật biết ý định của ông, cùng một ngàn vị A-la-hán đến tận cửa nhà; ông thỉnh Ngài lên lâu đài ngồi bảo tọa sư tử, tự tay dâng vật thực mình có trong nhà, rồi chắp tay lễ bái thán phục tính cao thượng của đức Phật khi thấy nhiều vị A-la-hán đang thọ thực. Đức Phật ngồi giữa Tăng chúng thọ ký: người này sẽ hai mươi bảy lần làm vua trời vui hưởng cõi thiên, mười tám lần làm Chuyển Luân Vương cai trị năm trăm quốc độ. Nhờ bữa cúng dường ăn từ 1.800 kiếp trước, ông không rơi vào khổ cảnh; nay vào sâu trong rừng cọp, nỗ lực tinh tấn và các phiền não đã được thiêu đốt, chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí. Cuối bài là phần tóm lược mười ký sự của phẩm Sīhāsaniya, tổng cộng một trăm ba mươi tám câu kệ.23Ký sự về trưởng lão Subhūti
THA-AP23 · 213 đoạnTrưởng lão Subhūti kể: kiếp xưa ông là đạo sĩ tóc bện Kosiya khổ hạnh cao tột ở núi Nisabha gần Hi-mã-lạp, sống một mình, chỉ ăn lá úa rụng, quyết không làm hư sinh mạng thanh khiết dù phải buông bỏ mạng sống. Mỗi khi tâm tham sinh khởi, ông tự đối đáp gay gắt với chính mình: ngươi bị ái luyến ở điều quyến rũ, bị sân ở điều khó chịu, bị mê ở điều làm mê mẩn — hãy ra khỏi rừng này đi, vì đây là trú xứ của những người đã thanh tịnh; kẻ như cây củi thiêu xác, không còn là tại gia cũng không phải xuất gia; kẻ bị bậc trí ghét bỏ như dân thành chán ghét ô uế; kẻ bị các đạo sĩ xua đuổi như con voi bị đuổi khỏi bầy; vàng giả không cháy ở đâu cũng như người mất giới không thiêu đốt được phiền não ở đâu. Ba mươi ngàn năm không xao lãng trôi qua như thế, đức Phật Padumuttara đi kinh hành trên không trung, hào quang sáng như trăng rằm và mặt trời chính ngọ, bước qua bên ông. Ông chuẩn bị chỗ ngồi bằng hoa mời đức Phật ngồi; đức Phật ngồi bảy ngày đêm, ông cũng đứng lễ bái bảy ngày đêm. Xuất thiền, đức Phật thọ ký: tu tập niệm tưởng đức Phật — pháp vô thượng trong các pháp tu tập — người này sẽ được tám mươi lần làm chúa chư thiên, một ngàn lần làm Chuyển Luân Vương, của cải không bao giờ thiếu hụt; trong Giáo Pháp của đức Gotama dòng Okkāka, sau khi bỏ tám mươi koṭi, nhiều nô tỳ và nhân công để xuất gia, ông sẽ thành Thinh Văn Subhūti, đệ nhất về đức hạnh đáng cúng dường và đệ nhất về an trú không say đắm. Kiếp cuối là hiện tại, khi ông đã chứng đắc bốn tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí.24Ký sự về trưởng lão Upavāna
THA-AP24 · 225 đoạnTrưởng lão Upavāna kể sự tích bảo tháp của đức Phật Padumuttara: sau khi đức Phật viên tịch, chư thiên và loài người xây dựng ngôi tháp bằng vàng, ngọc ma-ni, bạc, pha lê, hồng ngọc và châu báu, cao một do-tuần. Lần lượt chư thiên chồng thêm một do-tuần bằng bảy loại châu báu; loài rồng phủ ngọc bích, sa-phia và ngọc như ý; nhân điểu và Cưu-bàn-trà nối tiếp; Dạ-xoa đắp pha lê; Càn-thát-bà làm bảy tầng và đặt lọng — tháp cao đến bảy do-tuần, ánh sáng làm lu mờ cả trăng sao, trong vòng một trăm do-tuần người ta không cần thắp đèn, đêm ngày không phân biệt được. Người cúng dường không bước lên tháp mà thảy hoa cờ lên không trung; Dạ-xoa Abhisammata do chư thiên chỉ định đón lấy, đặt lên bên trên. Khi ấy ông là người làm công ở Haṁsavatī, thấy dân chúng vui mừng liền treo tấm thượng y đã giặt sạch lên ngọn tre làm cờ hiệu tung lên không trung. Vui vì lá cờ phất phơ trong gió, ông hỏi một vị Sa-môn về quả của việc dâng cờ và được giảng dài: sáu mươi ngàn nhạc cụ, 86.000 nữ nhân trang điểm, voi ngựa xe cộ và binh chủng hộ tống thường xuyên, tám mươi lần làm chúa chư thiên, một ngàn lần làm Chuyển Luân Vương; kiếp cuối là thân quyến của Phạm thiên, bỏ tám mươi koṭi xuất gia trong Giáo Pháp đức Gotama, tên là Upavāna. Khi là Chuyển Luân Vương chúa tể bốn châu lục, những ngọn cờ luôn được kéo lên xung quanh ông đến ba do-tuần.25Ký sự về trưởng lão Saraṇagamaniya
THA-AP25 · 117 đoạnTrưởng lão Saraṇagamaniya kể: ông là người phụng dưỡng cha mẹ mù ở thành Candavatī, không thể xuất gia vì bận nuôi cha mẹ. Ngồi nơi thanh vắng, ông nghĩ chúng sinh bị bóng tối che lấp, bị ba ngọn lửa thiêu đốt, không ai là bậc hướng đạo khi nỗi sợ hãi như thế sinh khởi; nhưng đức Phật đã xuất hiện, Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng đang chiếu sáng, người có phước vẫn có thể tự cứu độ mình. Ông đến gặp Tôn giả Nisabha, đệ tử hàng đầu của đức Phật, nhận lãnh Tam Quy và gìn giữ toàn vẹn suốt đời người thọ một trăm ngàn năm; lúc cuối đời nhớ lại sự nương nhờ ấy, ông sinh lên cõi Đạo Lợi và nhận tám quả báo ở bất cứ nơi nào sinh đến: được tôn vinh mọi phương, trí tuệ sắc bén, chư thiên phục tùng, của cải vô lượng, màu da vàng chói, được yêu mến mọi nơi, trung thành với bạn hữu, danh vọng cao tột. Tám mươi lần làm chúa chư thiên, bảy mươi lăm lần làm Chuyển Luân Vương; kiếp cuối sinh vào nhà đại phú ở Sāvatthī, theo trẻ con vào tu viện, nghe một vị Sa-môn thuyết Pháp và ban Tam Quy, vừa nhớ lại sự nương nhờ xưa liền ngồi ngay tại chỗ chứng A-la-hán năm bảy tuổi. Ông kết bài bằng lời khuyên tha thiết: hãy thọ Tam Quy, giữ năm giới, làm tâm tịnh tín nơi đức Phật và tu tập Chánh Pháp, không bao lâu tất cả sẽ đạt A-la-hán.26Ký sự về trưởng lão Pañcasīlasamādāniya
THA-AP26 · 89 đoạnTrưởng lão Pañcasīlasamādāniya kể câu chuyện nổi tiếng về sức mạnh của năm giới. Kiếp ấy ông là một người làm công ở thành Candavatī, bận bịu quán xuyến việc của người khác nên không thể xuất gia; thấy chúng sinh bị bóng tối che lấp, bị ba ngọn lửa tham sân si thiêu đốt, ông tự hỏi bằng cách nào thoát ra được. Không có vật gì đáng để dâng cúng, ông nghĩ: hay là thọ trì và làm toàn vẹn năm giới. Ông đến gặp Tôn giả Nisabha, đệ tử của đức Phật Anomadassī, nhận lãnh năm điều học và gìn giữ trọn vẹn suốt đời người thọ một trăm ngàn năm. Lúc lâm chung, chư thiên đến an ủi báo cỗ xe ngàn ngựa đã đến; nhớ lại giới hạnh của mình trong tâm cuối cùng, ông sinh lên cõi Đạo Lợi, ba mươi lần làm chúa chư thiên, bảy mươi lăm lần làm Chuyển Luân Vương. Kiếp cuối sinh vào nhà đại bá hộ ở Vesālī; gần mùa mưa, khi cha mẹ nhận lãnh năm điều học, ông vừa nghe liền nhớ lại giới hạnh xưa, ngồi ngay tại chỗ ấy và chứng A-la-hán lúc năm tuổi, được đức Phật cho thọ giới cụ túc. Ông kết luận: giữ năm giới cho ba điều — sống lâu, giàu lớn, trí tuệ sắc bén — và dù ca ngợi quả của giới đến một koṭi kiếp cũng chỉ nói được một phần nhỏ.27Ký sự về trưởng lão Annasaṁsāvaka
THA-AP27 · 29 đoạnTrưởng lão Annasaṁsāvaka kể: ông thấy đức Phật Siddhattha, bậc rực rỡ như cột vàng, đang đi giữa khu chợ, lòng tràn ngập niềm hoan hỷ tột bậc. Ông thỉnh Ngài về dâng bữa ăn, được bậc Đại Bi tùy hỷ, rồi hưởng vui cõi trời trọn một kiếp; suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, và nay chứng đắc bốn tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí.28Ký sự về trưởng lão Dhūpadāyaka
THA-AP28 · 21 đoạnTrưởng lão Dhūpadāyaka kể: ông đã dâng khói hương nơi liêu cốc của đức Phật Siddhattha với tâm trong sạch. Nhờ đó, dù sinh làm trời hay người ông đều được mọi người yêu quý, suốt chín mươi bốn kiếp không rơi vào khổ cảnh, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.29Ký sự về trưởng lão Pulinapūjaka
THA-AP29 · 21 đoạnTrưởng lão Pulinapūjaka kể: ông gạt bỏ lớp cát cũ dưới gốc cây Bồ-đề của đức Phật Vipassī và rải lên lớp cát sạch. Nhờ việc dâng cát nhỏ bé ấy, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Mahāpulina, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.30Ký sự về trưởng lão Uttariya
THA-AP30 · 49 đoạnTrưởng lão Uttariya kể: khi là con cá sấu ở bờ sông Candabhāgā, ông thấy đức Phật Siddhattha muốn qua sông, liền đến gần thưa: xin Ngài ngự lên lưng, tôi sẽ đưa Ngài sang vùng nước của tổ tiên tôi, xin Ngài thương xót. Đức Phật ngự lên, cá sấu hoan hỷ đưa Ngài sang bờ bên kia và được an ủi rằng sẽ đạt được bất tử. Sau khi chết, ông sinh lên cõi trời hưởng lạc giữa các tiên nữ, bảy lần làm vua trời, ba lần làm Chuyển Luân Vương; nay ông gắn bó với sự vắng lặng, cẩn trọng, thu thúc, mang thân cuối cùng trong Giáo Pháp của đức Phật Chánh Đẳng Giác và chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.31Ký sự về trưởng lão Ekañjalika
THA-AP31 · 21 đoạnTrưởng lão Ekañjalika kể: ông nhìn thấy đức Phật Vipassī sắc vàng rực rỡ đang đi giữa khu chợ, lòng trong sáng vui mừng, ông chỉ chắp tay một lần. Chỉ một cái chắp tay ấy mà suốt nhiều kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.32Ký sự về trưởng lão Khomadāyaka
THA-AP32 · 36 đoạnTrưởng lão Khomadāyaka kể: khi là thương buôn ở thành Bandhumatī, nuôi vợ và gieo nhân lành, ông gặp đức Phật Vipassī đang đi trên đường, liền dâng một tấm vải lanh cho bậc Đạo Sư để làm việc thiện. Nhờ việc dâng tấm vải ấy, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng là chúa tể bốn châu lục, và nay chứng đắc bốn tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí. Cuối bài là phần tóm lược mười ký sự của phẩm Subhūti.33Ký sự về trưởng lão Kuṇḍadhāna
THA-AP33 · 69 đoạnTrưởng lão Kuṇḍadhāna kể: ông hầu cận đức Phật Padumuttara suốt bảy ngày Ngài thiền tịnh ẩn cư, với tâm tịnh tín và hoan hỷ; biết lúc Ngài xuất thiền, ông cầm nải chuối lớn đến dâng, đức Phật thọ nhận và thọ dụng làm tâm ông tịnh tín. Rồi đức Phật ngồi xuống gọi các Dạ-xoa trên núi và chúng sinh trong rừng lắng nghe, thọ ký rằng người hầu cận này sẽ mười một lần làm Thiên vương, ba mươi bốn lần làm Chuyển Luân Vương; một trăm ngàn kiếp sau sẽ mang biệt danh Kuṇḍadhāna do quả của ác nghiệp từng mắng nhiếc các Sa-môn có giới hạnh không còn lậu hoặc, nhưng vẫn là người con chánh thống sinh ra từ Chánh Pháp của đức Phật Gotama. Gắn bó với sự cô tịch, thỏa thích trong thiền, ông làm bậc Đạo Sư vui lòng; trong một buổi bốc thăm thẻ, ông đắp y một bên vai, đảnh lễ và rút được thẻ đầu tiên ngay trước bậc thuyết giảng cao quý nhất, nên được đức Phật thiết lập vào vị thế hàng đầu.34Ký sự về trưởng lão Sāgata
THA-AP34 · 60 đoạnTrưởng lão Sāgata kể: khi là Bà-la-môn Sobhita dẫn đoàn học trò vào tu viện, ông thấy đức Phật Padumuttara bước ra cổng, oai nghiêm giữa các vị đã được tôi luyện, liền làm tâm tịnh tín và cất lời tán thán: như cây cỏ lớn lên trên đất, chúng sinh có giác ngộ lớn lên trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng; Ngài là người đánh xe khôn ngoan đưa đám đông ra khỏi đường sai, hào quang tỏa như mặt trời mọc. Đức Phật đứng giữa Tăng chúng thọ ký: vị Bà-la-môn này sẽ vui hưởng cõi trời một trăm ngàn kiếp, rồi từ cõi Đẩu Suất sinh xuống, xuất gia trong Giáo Pháp của đức Phật Gotama, chứng quả A-la-hán với tên Sāgata. Quả vậy, ông xuất gia, lìa bỏ ác nghiệp bằng thân, dứt nết xấu về lời nói, thanh tịnh nghề nuôi sống, thông thạo đề mục lửa, hiểu thấu mọi lậu hoặc và sống không còn lậu hoặc.35Ký sự về trưởng lão Mahākaccāna
THA-AP35 · 72 đoạnTrưởng lão Mahākaccāna kể: tại bảo tháp Paduma của đức Phật Padumuttara, ông cho xây bảo tọa bằng đá, thếp vàng, rồi dâng lên chiếc lọng bằng châu báu và chiếc quạt lông. Chư thiên tụ hội để nghe đức Phật thuyết về quả của lễ dâng ấy; Ngài thọ ký: người này sẽ làm vua trời ba mươi kiếp, hào quang thắng cả vùng một trăm do-tuần, xuống cõi người làm Chuyển Luân Vương tên Pabhassara, thân tỏa sáng tám ratana như mặt trời; một trăm ngàn kiếp sau, từ cõi Đẩu Suất sinh xuống làm Bà-la-môn Kaccāna trong thời đức Phật Gotama, xuất gia chứng quả A-la-hán và được đặt vào vị thế hàng đầu về khả năng giảng giải chi tiết câu hỏi ngắn gọn. Quả vậy, ông sinh trong gia tộc giàu có, từ bỏ tài sản xuất gia, giảng giải thỏa mãn tâm tư người hỏi, làm đức Phật hoan hỷ và được thiết lập vào vị thế tối thắng, chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.36Ký sự về trưởng lão Kāḷudāyī
THA-AP36 · 68 đoạnTrưởng lão Kāḷudāyī kể: khi đức Phật Padumuttara đang du hành đường xa, ông dâng lên Ngài đóa sen nở rộ, sen xanh, hoa nhài và món cơm thượng hạng. Đức Phật thọ dụng cơm, cầm hoa đưa cho dân chúng xem và thọ ký: người này sẽ làm vua trời mười tám lần, luôn có hoa sen và hoa nhài phủ trên đầu cùng lọng che thơm hương trời giữa không trung, hai mươi lăm lần làm Chuyển Luân Vương, cai trị năm trăm quốc độ; một trăm ngàn kiếp sau sẽ là quyến thuộc dòng Sakya trong thời đức Phật Gotama, xuất gia, hiểu thấu mọi lậu hoặc, nhập diệt và được đặt vào vị thế tối thắng với tên Udāyī. Quả vậy, ông đã dứt sạch tham sân si, ngã mạn và gièm pha, làm đức Phật hoan hỷ và được thiết lập vào vị thế tối thắng, chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.37Ký sự về trưởng lão Mogharāja
THA-AP37 · 84 đoạnTrưởng lão Mogharāja kể: thấy đức Phật Atthadassī đi trên đường giữa Tăng chúng, ông rời nhà cùng học trò, đảnh lễ, chắp tay lên đầu và tán thán trí tuệ của Ngài bao trùm mọi chúng sinh như tấm lưới nhỏ không để lọt con cá nào, là ánh mắt xua tan bóng tối vô minh của thế gian. Sau đó ông đổ đầy một hũ mật ong tinh khiết, nâng bằng hai tay dâng lên; đức Phật tự tay thọ nhận, thọ dụng rồi bay lên không trung, đứng giữa trời thọ ký: người này nhờ tâm tịnh tín sẽ không rơi vào khổ cảnh, mười bốn lần làm vua trời, tám trăm lần cai trị cõi đất, năm trăm lần làm Chuyển Luân Vương, rồi trong thời đức Phật Gotama sẽ xuất gia, dùng trí tuệ suy xét ý nghĩa thâm sâu vi tế, chứng ba minh và được đặt vào vị thế tối thắng với tên Mogharāja. Nay ông đã từ bỏ sự gắn bó với cõi người, cắt đứt ràng buộc tái sinh, hiểu thấu mọi lậu hoặc và sống không còn lậu hoặc.38Ký sự về trưởng lão Adhimutta
THA-AP38 · 24 đoạnTrưởng lão Adhimutta kể: sau khi đức Phật Atthadassī nhập diệt, ông hầu hạ Tăng chúng với tâm trong sạch, thỉnh các vị về, dựng rạp bằng cây mía và dâng bữa ăn. Nhờ việc cúng dường ấy, sinh ở cõi nào ông cũng vượt trội hơn mọi chúng sinh; suốt một ngàn tám trăm kiếp không rơi vào khổ cảnh, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.39Ký sự về trưởng lão Lasuṇadāyaka
THA-AP39 · 24 đoạnTrưởng lão Lasuṇadāyaka kể: khi là đạo sĩ khổ hạnh sống bằng củ tỏi gần Hy-mã-lạp sơn, ông gom tỏi đầy các túi, mang đến tu viện dâng cho Tăng chúng trong Giáo Pháp của đức Phật Vipassī với tâm hoan hỷ, rồi được vui hưởng cõi trời trọn một kiếp. Suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.40Ký sự về trưởng lão Āyāgadāyaka
THA-AP40 · 36 đoạnTrưởng lão Āyāgadāyaka kể: sau khi đức Phật Sikhī nhập diệt, ông hoan hỷ đảnh lễ bảo tháp tối thượng, bàn với thợ mộc, bỏ tiền ra cho xây một sảnh đường dài. Nhờ đó, ông sống giữa chư thiên tám kiếp không gián đoạn, các kiếp còn lại luân hồi xen kẽ; chất độc không ngấm vào thân, vũ khí không hại được, không chết đuối, muốn mưa thì mây lớn đổ mưa, chư thiên cũng theo sự điều khiển của ông, ba mươi lần làm Chuyển Luân Vương không ai chê bai. Suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.41Ký sự về trưởng lão Dhammacakkika
THA-AP41 · 28 đoạnTrưởng lão Dhammacakkika kể: trước bảo tọa sư tử của đức Phật Siddhattha, ông cho dựng một bánh xe Pháp khéo làm, được các bậc trí ngợi khen. Nhờ đó, ông có dáng vóc lịch sự, rực rỡ với binh lực và xe cộ xứng đáng, luôn có đông người vây quanh và sáu mươi ngàn nhạc công phục vụ. Suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.42Ký sự về trưởng lão Kapparukkhiya
THA-AP42 · 36 đoạnTrưởng lão Kapparukkhiya kể: trước bảo tháp tối thượng của đức Phật Siddhattha, ông treo những tấm vải nhiều màu và dựng cây như ý. Nhờ đó, sinh ở cõi nào cũng có cây như ý rực rỡ hiện diện trước cửa nhà ông, và ông cùng tùy tùng luôn lấy vải từ cây ấy mà mặc; suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí. Cuối bài là phần tóm lược mười ký sự của phẩm Kuṇḍadhāna.43Ký sự về trưởng lão Bhāgineyya-Upāli
THA-AP43 · 101 đoạnTrưởng lão Bhāgineyya-Upāli kể: đức Phật Padumuttara được một ngàn vị A-la-hán tháp tùng ra đi thiền tịnh trong vắng lặng. Ông là một khổ hạnh giả mặc da dê, mang ba gậy chống, đắp tấm da một bên vai, chắp tay lên đầu đảnh lễ rồi cất tiếng ngợi ca dài: trí tuệ của Ngài bao gồm mọi chúng sinh — loài sinh từ trứng, từ ẩm thấp, hóa sinh, từ nước, mọi loài chim bay trên không trung, mọi hạng hữu tưởng hay vô tưởng — đều nằm trọn trong trí của Ngài; hương thơm của núi non Hi-mã-lạp cũng không sánh bằng một phần hương giới của Ngài; thế gian chìm trong bóng tối si mê được trí tuệ Ngài chiếu sáng hủy diệt như mặt trời mọc xua tan bóng đêm. Đức Phật tùy hỷ, bay lên không trung như thiên nga chúa, đứng giữa trời thọ ký: mười tám lần làm Thiên vương, ba trăm lần cai trị cõi đất, hai mươi lăm lần làm Chuyển Luân Vương; một trăm ngàn kiếp sau sẽ sinh làm Upāli dù dòng dõi hạ tiện, xuất gia, dứt bỏ điều ác, nhập diệt, và được đức Phật Gotama hoan hỷ thiết lập vào vị thế tối thắng về Luật. Quả vậy, ông xuất gia do đức tin, giữ gìn giới bổn Pātimokkha và năm giác quan thu thúc, nắm giữ toàn bộ Luật như nguồn châu báu và được bậc Đạo Sư thiết lập vào vị thế tối thắng giữa Tăng chúng.44Ký sự về trưởng lão Soṇa Koḷivisa
THA-AP44 · 120 đoạnTrưởng lão Soṇa Koḷivisa kể: ông tô vôi đường kinh hành của đức Phật Anomadassī, trải hoa nhiều màu lên đó, làm mái che trên không trung, chăm lo bữa ăn cho đức Phật, chắp tay đảnh lễ và dâng tặng một ngôi giảng đường dài. Đức Phật bi mẫn thọ nhận, ngồi giữa Tăng chúng thọ ký dài, kể cả nguồn gốc dòng họ Sakya: khi lâm chung, người này sẽ có cỗ xe ngàn ngựa hiện đến đưa về cõi trời, ở cung điện có nhà mái nhọn cao quý và vữa tô bằng châu báu đất sét, vui hưởng cõi trời ba mươi ngàn kiếp, nhiều lần làm Chuyển Luân Vương tên Yasodhara; vô lượng kiếp sau làm vua Okkāka có đại thần lực, từ dòng dõi ấy sinh ra dòng Koliya; rồi từ cõi trời sinh xuống làm Soṇa, tinh tấn nỗ lực trong Giáo Pháp, hiểu thấu mọi lậu hoặc, nhập diệt và được đức Phật Gotama thiết lập vào vị thế tối thắng. Nay ông đã được rèn luyện trong sự rèn luyện tối thượng, tâm khéo an lập, mọi gánh nặng đã đặt xuống, nhập diệt không còn lậu hoặc. (Một bài kệ dài ở giữa phần tự thuật không được bản dịch HT Thích Minh Châu dịch, được soạn trực tiếp từ Pāli.)45Ký sự về trưởng lão Bhaddiya Kāḷigodhāputta
THA-AP45 · 72 đoạnTrưởng lão Bhaddiya Kāḷigodhāputta kể: mọi người đến gặp đức Phật Padumuttara có tâm từ ái và dâng lên Ngài vải vóc, chỗ nằm ngồi, thực phẩm và thức ăn nước uống ở Phước Điền vô thượng. Ông cũng nguyện dâng cúng: thỉnh mời đức Phật tối thượng cùng Tăng chúng vô thượng, khích lệ người khác cùng thỉnh mời đức Như Lai và toàn thể Tăng chúng, rồi sửa soạn một chiếc ghế bành bằng vàng trị giá một trăm ngàn, phủ thảm lông cừu, làm bằng sợi len, bông gòn, chỉ lanh và bông vải — chỗ ngồi vô cùng giá trị xứng đáng với đức Phật — và làm toại ý đức Phật cùng một trăm ngàn Tỷ-kheo bằng món cơm thượng hạng. Đức Phật thọ ký: người này sẽ bảy mươi bốn lần làm vua trời, cai trị một ngàn xứ sở trên trái đất, năm mươi mốt lần làm Chuyển Luân Vương, luôn sinh vào gia tộc cao sang trong mọi dòng dõi, rồi xuất gia làm đệ tử Bhaddiya. Gắn bó với sự độc cư, cư ngụ nơi thanh vắng, ông chứng đạt tất cả các quả vị, dứt bỏ ô nhiễm, và được đức Phật Toàn Tri thiết lập vào vị thế tối thắng giữa Tăng chúng.46Ký sự về trưởng lão Sanniṭṭhāpaka
THA-AP46 · 32 đoạnTrưởng lão Sanniṭṭhāpaka kể: khi sống ẩn cư trong căn lều cỏ giữa rừng núi, biết hài lòng với có và không, danh và không danh, ông được đức Phật Padumuttara cùng một trăm ngàn vị có năng lực ghé thăm. Ông trải thảm cỏ, dâng trái āmaṇḍa và nước uống với tâm trong sạch; nhờ đó suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.47Ký sự về trưởng lão Pañcahatthiya
THA-AP47 · 28 đoạnTrưởng lão Pañcahatthiya kể: đức Phật Sumedha đi qua khu phố chợ với mắt nhìn xuống, lời nói cân nhắc, chánh niệm và giác quan thu thúc. Dân chúng mang đến cho ông năm bó hoa sen xanh để làm vòng hoa đội đầu; với tâm tịnh tín, ông tự tay dâng những bó hoa ấy lên đức Phật, và kỳ diệu thay, những bông hoa dâng lên trở thành mái che cho bậc Đạo Sư, di chuyển theo Ngài như học trò theo thầy. Suốt ba mươi ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh; hai ngàn kiếp trước từng năm lần làm Chuyển Luân Vương tên Hatthiya, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.48Ký sự về trưởng lão Padumacchadaniya
THA-AP48 · 24 đoạnTrưởng lão Padumacchadaniya kể: khi đức Phật Vipassī nhập diệt, ông lấy đóa sen hồng nở rộ dâng lên giàn hỏa thiêu; đóa sen bay lên hư không và hóa thành mái che lơ lửng che phủ giàn thiêu. Nhờ việc cúng dường đức Phật ấy, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.49Ký sự về trưởng lão Sayanadāyaka
THA-AP49 · 24 đoạnTrưởng lão Sayanadāyaka kể: ông dâng cho đức Phật Siddhattha một chiếc giường cao quý trải nhiều lớp vải; đức Phật thọ nhận, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy bay lên không trung. Nhờ việc dâng giường ấy, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.50Ký sự về trưởng lão Caṅkamadāyaka
THA-AP50 · 36 đoạnTrưởng lão Caṅkamadāyaka kể: ông gom gạch xây một đường kinh hành cho đức Phật Atthadassī — cao năm ratana, dài một trăm cánh tay, trang nghiêm và đẹp ý. Đức Phật thọ nhận, cầm nắm cát lên và tuyên bố quả lành: người này sẽ hưởng cát chứa bảy loại châu báu, làm vua trời ba kiếp giữa các tiên nữ, rồi xuống cõi người làm vua và ba lần làm Chuyển Luân Vương. Suốt một ngàn tám trăm kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.51Ký sự về trưởng lão Subhadda
THA-AP51 · 101 đoạnTrưởng lão Subhadda kể: đức Phật Padumuttara, bậc thọ nhận lễ cúng và có danh tiếng lớn, đưa đám đông qua bờ rồi nhập diệt; mười ngàn thế giới rung động, dân chúng và chư thiên tụ hội. Ông cúng dường trầm hương, bột thơm và hoa nhài, thoa lên thân đức Phật với tâm hoan hỷ; đức Phật đang nằm, biết ý định của ông, thọ ký rằng người này sẽ qua lại cõi Đẩu Suất và Hóa Lạc Thiên, rồi trong thời đấng con trai dòng Sakya nhập diệt, sẽ đến hỏi câu, được nghe các Chân Lý, xin xuất gia, nỗ lực và nhập diệt không còn lậu hoặc. Ông cũng nhắc nghiệp xưa: từng cúng dường cờ trước bảo tháp châu báu cao bảy do-tuần, và kiếp làm cha của Tôn giả Tissa, đệ tử của đức Phật Kassapa, ông đã nói lời xấu với con bằng tâm kém cỏi nên mãi đến cuối mới gặp đấng Chiến Thắng; tại rừng sālā Upavattana, đức Phật cho ông xuất gia ngay tại giường nằm cuối cùng — cùng một ngày vừa xuất gia, vừa tu lên bậc trên, vừa Viên Tịch.52Ký sự về trưởng lão Cunda
THA-AP52 · 89 đoạnTrưởng lão Cunda kể: ông làm một cột trụ hoa cho đức Phật Siddhattha, phủ lên hoa nhài, đem phần hoa hoàn tất dâng đến gần đức Phật và đặt phần còn lại lên. Đức Phật, vượt khỏi hoài nghi, ngồi giữa Tăng chúng thọ ký: người dâng cột trụ hoa tỏa hương trời này sẽ sinh về cõi trời được chư thiên và tiên nữ tôn trọng, cung điện bằng vàng và ngọc ma-ni hiện ra, bảy mươi bốn lần làm vua trời, ba trăm lần cai trị cõi đất, bảy mươi lăm lần làm Chuyển Luân Vương, tích lũy vàng không dưới một trăm koṭi, rồi sinh làm con trai thông minh yêu dấu của Bà-la-môn Vaṅganta và bà Sārī, xuất gia trong thời đức Phật Aṅgīrasa với tên Cūlacunda và chứng A-la-hán ngay khi còn là sa-di. Chính Cunda là người đã phục vụ anh trai Sāriputta, đặt xá-lợi của anh vào bình bát trình lên đức Phật, được Ngài cầm bằng hai tay và tán dương vị đệ tử hàng đầu. Cuối bài là phần tóm lược mười ký sự của phẩm Upāli, gồm một trăm bốn mươi bốn câu kệ.53Ký sự về trưởng lão Vidhūpanadāyaka
THA-AP53 · 33 đoạnTrưởng lão Vidhūpanadāyaka kể: ông dâng chiếc quạt cho đức Phật Padumuttara, chắp tay đảnh lễ rồi quay về hướng bắc. Đức Phật cầm quạt, đứng giữa Tăng chúng tuyên bố: nhờ việc dâng quạt và nguyện lực của tâm, người này sẽ không rơi vào đọa xứ trong một trăm ngàn kiếp. Quả vậy, mới bảy tuổi ông đã chứng quả A-la-hán, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.54Ký sự về trưởng lão Sataraṁsika
THA-AP54 · 52 đoạnTrưởng lão Sataraṁsika kể: khi là Bà-la-môn thông thạo chú thuật ở gần núi, ông thấy đức Phật Padumuttara ngồi trên tảng đá cao, liền chắp tay tán thán: Ngài là đấng Đại Hùng công bố Chánh Pháp cao quý, rực sáng như đống lửa, vững như đại dương không suy suyển, thuyết Pháp như sư tử không biết sợ. Đức Phật biết được ý ông, đứng giữa Tăng chúng thọ ký: người này sẽ làm vua trời ba mươi ngàn kiếp, và một trăm ngàn kiếp sau sẽ là A-la-hán tên Sataraṁsi, thừa tự Chánh Pháp của đức Phật Aṅgīrasa. Quả vậy, bảy tuổi ông xuất gia, thân tỏa ánh sáng đúng như tên gọi, thích thiền dưới gốc cây, mang thân cuối cùng và chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.55Ký sự về trưởng lão Sayanadāyaka
THA-AP55 · 24 đoạnTrưởng lão Sayanadāyaka kể: ông dâng chiếc giường cho đức Phật Padumuttara, bậc thương tưởng tất cả thế gian, với tâm trong sạch. Nhờ hạt giống lành gieo vào ruộng phước tốt ấy, tài sản sinh sôi, ông được nằm ngủ giữa không trung, nâng đỡ mặt đất, có uy quyền với muôn loài, từng làm vua nhiều kiếp, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.56Ký sự về trưởng lão Gandhodakiya
THA-AP56 · 36 đoạnTrưởng lão Gandhodakiya kể: trong lễ hội ở cội Bồ-đề của đức Phật Padumuttara, ông mang bầu nước trang hoàng đến dâng nước thơm. Ngay lúc rưới nước, mây lớn đổ mưa, sấm sét nổ vang và ông qua đời tại chỗ, tái sinh lên cõi trời; từ cõi trời ông tán thán đức Phật, Giáo Pháp và sự thành tựu của bậc Đạo Sư, hưởng lâu đài trăm tầng, không bệnh tật, không sầu muộn. Ông từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.57Ký sự về trưởng lão Opavayha
THA-AP57 · 44 đoạnTrưởng lão Opavayha kể: ông dâng một con ngựa thuần chủng cho đức Phật Padumuttara rồi về nhà. Trưởng lão Devala, đệ tử hàng đầu của bậc Đạo Sư, đến nói: đức Phật chỉ dùng bình bát và vật dụng thiết yếu, ngựa thuần chủng không thích hợp, nhưng Ngài đã chấp thuận vì biết ý định của ông. Ông liền cho định giá con ngựa Sindhu nhanh như gió và dâng vật dụng thích hợp thay thế. Nhờ đó, sinh ở cõi nào ông cũng có ngựa nhanh như gió, từng hai mươi tám lần làm vua chúa tể Jambudīpa, và nay đạt vị thế bất động, chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.58Ký sự về trưởng lão Saparivārāsana
THA-AP58 · 32 đoạnTrưởng lão Saparivārāsana kể: ông dâng vật thực cho đức Phật Padumuttara tại chỗ ngồi được rải hoa nhài xung quanh. Đức Phật ngồi vào chỗ ấy, tán dương phần vật thực bằng hình ảnh hạt giống gieo trên ruộng tốt gặp mưa thuận sẽ làm người nông phu vui lòng, rồi cầm phần vật thực ra đi về hướng bắc. Nay ông thu thúc giới bổn và năm căn, gắn bó với sự vắng lặng, sống không còn lậu hoặc, chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.59Ký sự về trưởng lão Pañcadīpaka
THA-AP59 · 32 đoạnTrưởng lão Pañcadīpaka kể: sau khi an trú Chánh Pháp của đức Phật Padumuttara và có chánh kiến, ông đặt đèn vòng quanh cội Bồ-đề và thắp sáng ngay với lòng tin. Nhờ việc dâng đèn ấy, sinh ở cõi nào cũng có người cầm đuốc giữa không trung, ông nhìn xuyên qua tường, đá và núi trong vòng một trăm do-tuần; nhờ phần dư của nghiệp ấy, ông đoạn tận lậu hoặc, mang thân cuối cùng và chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.60Ký sự về trưởng lão Dhajadāyaka
THA-AP60 · 44 đoạnTrưởng lão Dhajadāyaka kể: tại cội Bồ-đề của đức Phật Padumuttara, với tâm hoan hỷ ông treo ngọn cờ lên chóp đỉnh cây, nhặt lá rụng bỏ ra ngoài, rồi đảnh lễ cội Bồ-đề tối thượng như đảnh lễ chính đức Phật đang ở trước mặt. Đức Phật đứng giữa Tăng chúng thọ ký: nhờ việc dâng cờ và phục vụ này, người ấy một trăm ngàn kiếp không rơi vào khổ cảnh, hưởng vinh hiển cõi trời, nhiều lần làm vua, làm Chuyển Luân Vương tên Uggata, và cuối cùng sẽ thỏa thích trong Giáo Pháp của đức Phật Gotama. Nay ông mang thân cuối cùng trong Giáo Pháp của đức Phật Chánh Đẳng Giác, chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.61Ký sự về trưởng lão Paduma
THA-AP61 · 48 đoạnTrưởng lão Paduma kể: khi đức Phật Padumuttara đang công bố Bốn Sự Thật và đổ cơn mưa bất tử làm đám đông lắng dịu, ông đứng trên tầng thượng, cầm đóa sen hồng còn cả cuống, hoan hỷ ném lên cúng dường Ngài. Đóa sen bay đến, đức Phật biết ý ông, đón lấy bằng tay và đứng giữa Tăng chúng thọ ký: người này sẽ làm vua trời ba mươi kiếp, cai trị cõi đất bảy trăm lần, làm Chuyển Luân Vương theo số cánh hoa đã đếm, có mưa hoa từ trời đổ xuống; một trăm ngàn kiếp sau sẽ là thừa tự Chánh Pháp của đức Phật Gotama, hiểu thấu mọi lậu hoặc và nhập diệt. Quả vậy, ông sinh ra có tỉnh giác, năm tuổi đã chứng quả A-la-hán, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.62Ký sự về trưởng lão Asanabodhiya
THA-AP62 · 72 đoạnTrưởng lão Asanabodhiya kể: mới bảy tuổi, với tâm tịnh tín và hoan hỷ, ông đến gần đức Phật Tissa và trồng một cây Bồ-đề giống Asana, chăm sóc cây suốt năm năm. Khi cây trổ hoa kỳ diệu khiến người rởn tóc, ông đến gặp đức Phật tối thượng và được Ngài thọ ký: người này sẽ làm vua trời ba mươi kiếp, sáu mươi bốn lần làm Chuyển Luân Vương, hưởng hai sự thịnh đạt, rồi quyết chí nỗ lực, hiểu thấu mọi lậu hoặc và nhập diệt không còn lậu hoặc. Ông gắn bó với sự vắng lặng, an tịnh như con voi đã cắt đứt dây trói; suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nhiều lần làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí. Cuối bài là phần tóm lược mười ký sự của phẩm Bījani.63Ký sự về trưởng lão Sakacintaniya
THA-AP63 · 29 đoạnTrưởng lão Sakacintaniya kể: ông thấy khu rừng lặng vắng là nơi các ẩn sĩ cư trú, liền đắp một bảo tháp bằng cát, rải nhiều loại hoa lên và đảnh lễ như đang đảnh lễ đức Phật trước mặt. Nhờ việc cúng dường hoa ấy, ông hài lòng với nghiệp của chính mình, từng làm Chuyển Luân Vương chúa tể bốn châu lục; suốt chín mươi mốt kiếp không rơi vào khổ cảnh, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.64Ký sự về trưởng lão Avopupphiya
THA-AP64 · 28 đoạnTrưởng lão Avopupphiya kể: khi đức Phật Sikhī rời trú xá, bước lên đường kinh hành và thuyết giảng Bốn Sự Thật cùng con đường bất tử, ông nhận ra giọng nói của Ngài, liền cầm nhiều loại hoa tung lên không trung. Nhờ việc làm ấy, ông từ bỏ hơn thua, đạt vị thế bất động; suốt ba mươi mốt kiếp không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.65Ký sự về trưởng lão Paccāgamaniya
THA-AP65 · 32 đoạnTrưởng lão Paccāgamaniya kể: khi là con ngỗng đỏ ăn rêu sạch ở bờ sông Sindhu, biết ngăn ngừa điều ác, ông thấy đức Phật Vipassī bay trên không trung, liền dùng mỏ ngắt bông hoa sāla dâng lên Ngài. Nhờ niềm tin bất động nơi đức Như Lai, hạt giống lành gieo trong thân chim ấy đưa ông qua nhiều kiếp làm Chuyển Luân Vương; suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.66Ký sự về trưởng lão Parappasādaka
THA-AP66 · 40 đoạnTrưởng lão Parappasādaka kể lại bài kệ của Bà-la-môn Sena tán thán đức Phật Siddhattha: ai thấy bậc Toàn Giác sắc vàng rực rỡ mà không sinh lòng tịnh tín? Thiền, giới và trí của Ngài bao la như Hy-mã-lạp sơn, như biển cả, như mặt đất, như hư không. Nhờ bốn bài kệ ngợi ca ấy, vị Bà-la-môn không rơi vào khổ cảnh trong chín mươi bốn kiếp, hưởng sự thịnh đạt ở cõi lành, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay vị trưởng lão chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.67Ký sự về trưởng lão Bhisadāyaka
THA-AP67 · 32 đoạnTrưởng lão Bhisadāyaka kể: khi là con voi chúa trong rừng, ông cầm củ và rễ sen đến dâng cho đức Phật Vessabhū bằng chính đôi tay của mình với tâm tịnh tín, và được vòi của Ngài chạm đến — niềm vui ấy không gì sánh bằng. Nay vòng luân hồi của ông đã đến hồi cuối, mọi cõi hiện hữu đã bị nhổ sạch; suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.68Ký sự về trưởng lão Sucintita
THA-AP68 · 40 đoạnTrưởng lão Sucintita kể: khi là thợ săn sống bằng việc giết bầy thú trong vùng núi hiểm trở như con sư tử, ông được đức Phật Atthadassī vì muốn cứu độ mà tìm đến tận núi cao. Vừa giết con nai đốm định ăn, ông gặp đức Phật đang khất thực, liền lấy những miếng thịt ngon nhất dâng lên; đức Phật tùy hỷ và làm tâm ông lắng dịu. Với tâm tịnh tín, ông qua đời trong niềm hoan hỷ, vui hưởng cõi trời một ngàn năm trăm kiếp, tích lũy điều lành trong các kiếp còn lại nhờ việc dâng thịt và tưởng niệm đức Phật, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.69Ký sự về trưởng lão Vatthadāyaka
THA-AP69 · 36 đoạnTrưởng lão Vatthadāyaka kể: khi là chúa loài kim sí điểu, ông thấy đức Phật Atthadassī đang đi trên núi Gandhamādana, liền bỏ dáng chim, hiện thân người thanh niên và dâng một tấm vải cho Ngài. Đức Phật thọ nhận, đứng giữa không trung tuyên bố: nhờ việc dâng vải và nguyện lực của tâm, người này bỏ thân kim sí điểu sẽ vui hưởng cõi trời. Quả vậy, sinh ở cõi nào ông cũng đầy đủ vải vóc và có mái che giữa không trung, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.70Ký sự về trưởng lão Ambadāyaka
THA-AP70 · 40 đoạnTrưởng lão Ambadāyaka kể: khi là con khỉ trên Hy-mã-lạp sơn, ông thấy đức Phật Anomadassī đang ngồi giữa núi, lan tỏa tâm từ vô lượng khắp thế gian; tâm ông tịnh tín, liền hái trái xoài chín gần đó dâng lên cùng với mật ong. Đức Phật thọ ký: nhờ hai việc dâng mật ong và xoài này, con khỉ sẽ vui hưởng cõi trời năm mươi bảy kiếp, luân hồi xen kẽ các kiếp còn lại, trừ sạch nghiệp ác nhờ trí tuệ chín muồi, đốt sạch phiền não và đạt vị thế bất động sau khi từ bỏ hơn thua. Ông từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.71Ký sự về trưởng lão Sumana
THA-AP71 · 28 đoạnTrưởng lão Sumana kể: khi là người làm tràng hoa, ông thấy đức Phật Sikhī, liền cầm bông hoa nhài bằng hai tay dâng lên Ngài với lòng nguyện chân thành. Nhờ việc cúng dường hoa ấy, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.72Ký sự về trưởng lão Pupphacaṅgoṭiya
THA-AP72 · 42 đoạnTrưởng lão Pupphacaṅgoṭiya kể: đức Phật Sikhī, nơi nương nhờ của tam giới, không còn dục vọng, không ai đánh bại, ngồi giữa Tăng chúng, oai nghiêm như sư tử không biết sợ. Ông đặt bông hoa anojā thượng hạng vào chiếc rương rồi dâng cả rương lên đức Phật tối thượng; nhờ tâm tịnh tín ấy, ông từ bỏ hơn thua, đạt vị thế bất động, suốt ba mươi mốt kiếp không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí. Cuối bài là phần tóm lược mười ký sự của phẩm Sakacintaniya.73Ký sự về trưởng lão Nāgasamāla
THA-AP73 · 21 đoạnTrưởng lão Nāgasamāla kể lại: xưa kia ông dâng một bông hoa āpāṭali lên bảo tháp của đức Phật Sikhī. Nhờ việc cúng dường nhỏ ấy, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc các tuệ phân tích cùng thắng trí.74Ký sự về trưởng lão Padasaññaka
THA-AP74 · 20 đoạnTrưởng lão Padasaññaka kể: xưa kia ông nhìn thấy dấu chân của đức Phật Tissa và khởi tâm hoan hỷ, tịnh tín nơi dấu chân ấy. Nhờ sự suy tưởng lành đó, suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Sumedha, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.75Ký sự về trưởng lão Buddhasaññaka
THA-AP75 · 20 đoạnTrưởng lão Buddhasaññaka kể: ông nhìn thấy tấm y phấn tảo của bậc Đạo Sư treo trên ngọn cây, liền chắp tay đảnh lễ tấm y ấy như đảnh lễ đức Phật. Nhờ sự suy tưởng về đức Phật đó, suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.76Ký sự về trưởng lão Bhisāluvadāyaka
THA-AP76 · 25 đoạnTrưởng lão Bhisāluvadāyaka kể: khi sống trong rừng sâu, ông gặp đức Phật Vipassī, dâng cúng củ sen và nước rửa tay, rồi cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài. Nhờ việc phước ấy, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.77Ký sự về trưởng lão Ekasaññaka
THA-AP77 · 20 đoạnTrưởng lão Ekasaññaka kể: xưa kia ông dâng một phần vật thực cho vị Khaṇḍa, đệ tử hàng đầu của đức Phật Vipassī. Chỉ một phần ăn dâng với tâm tịnh tín ấy đã giúp ông suốt nhiều kiếp không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Varuṇa, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.78Ký sự về trưởng lão Tiṇasantharadāyaka
THA-AP78 · 36 đoạnTrưởng lão Tiṇasantharadāyaka kể: bên hồ nước lớn phủ đầy lá gần Hy-mã-lạp sơn, nơi ông tắm uống và cư ngụ, ông thấy đức Phật Tissa đang đi trên không trung. Biết được ý định của ông, bậc Đạo Sư hạ xuống đứng trên mặt đất; ông dùng sừng đem cỏ lại trải làm chỗ ngồi, đức Phật ngồi xuống, ông làm tâm tịnh tín, đảnh lễ và khom mình chiêm ngưỡng Ngài. Nhờ tâm tịnh tín ấy, ông sinh lên cõi Hóa Lạc Thiên, không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.79Ký sự về trưởng lão Sūcidāyaka
THA-AP79 · 28 đoạnTrưởng lão Sūcidāyaka kể: ba mươi ngàn kiếp trước, ông dâng năm cây kim khâu cho đức Phật Sumedha để Ngài may y. Nhờ việc dâng kim nhỏ bé ấy, trí tuệ của ông trở nên sắc bén, tinh tế; ông từng làm Chuyển Luân Vương, đốt sạch phiền não và nay mang thân cuối cùng trong Giáo Pháp của đức Phật Chánh Đẳng Giác.80Ký sự về trưởng lão Pāṭalipupphiya
THA-AP80 · 28 đoạnTrưởng lão Pāṭalipupphiya kể: khi là cậu con trai nhà trưởng giả được nuông chiều, ông thấy đức Phật Tissa đang đi giữa khu chợ, lòng hoan hỷ, ông lấy bông hoa pāṭali trong lòng ra cúng dường và lễ bái Ngài. Nhờ việc cúng dường hoa ấy, suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.81Ký sự về trưởng lão Ṭhitañjaliya
THA-AP81 · 28 đoạnTrưởng lão Ṭhitañjaliya kể: xưa kia ông là thợ săn trong rừng hoang, tình cờ gặp đức Phật Tissa với ba mươi hai tướng tốt đang ngồi trên thảm lá không xa. Ông chắp tay hướng về Ngài rồi ra đi quay mặt về phía đông; ngay lúc ấy một tia sét giáng xuống đầu, và trong khoảnh khắc mệnh chung, ông lại chắp tay một lần nữa. Chỉ với hai lần chắp tay ấy, suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, năm mươi bốn kiếp trước làm Chuyển Luân Vương Migaketu đầy đủ bảy báu, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.82Ký sự về trưởng lão Tipadumiya
THA-AP82 · 120 đoạnTrưởng lão Tipadumiya kể: ông là người làm tràng hoa ở thành Haṁsavatī. Khi đức Phật Padumuttara rời thành phố đi qua khu phố chợ, ông cầm ba đóa hoa tuyệt hảo nhất tự hỏi: mang những bông hoa này dâng vua thì được gì — một ngôi làng, một cánh đồng hay ngàn đồng tiền? Chi bằng cúng dường đấng Điều Phục những ai chưa được điều phục, nguồn an lạc của mọi chúng sinh, để đạt tài sản Bất Tử. Ông làm tâm tịnh tín, cầm ba đóa sen đỏ tung lên không trung; kỳ diệu thay, hoa xòe ra và lơ lửng trên đầu đức Phật, cuống ở trên, miệng hoa ở dưới, khiến loài người hoan hô, chư thiên tán thán và xin nghe Pháp. Đức Phật đứng giữa đường thọ ký: người này sẽ ở cung điện Mahāvitthārika dài ba trăm do-tuần, rộng một trăm năm mươi, có bốn trăm ngàn tháp nhọn, trăm ngàn koṭi tiên nữ thiện xảo ca múa vây quanh, mưa hoa đỏ rơi thường xuyên, hoa đỏ to bằng bánh xe treo ở chốt ngà voi và cổng chào, hương thơm cõi trời tỏa khắp một trăm do-tuần; bảy mươi lăm lần làm Chuyển Luân Vương và cuối cùng chạm đến cảnh giới tịch diệt. Ông gọi đó là thương vụ kinh doanh khéo léo nhất: ba đóa sen đổi lấy ba sự thành tựu. Cuối bài là phần tóm lược phẩm Nāgasamāla gồm bảy mươi lăm câu kệ.83Ký sự về trưởng lão Timirapupphiya
THA-AP83 · 41 đoạnTrưởng lão Timirapupphiya kể: đi xuôi dòng sông Candabhāgā, ông thấy một vị Sa-môn đang ngồi thanh tịnh, lòng liền nghĩ: bậc đã vượt qua sẽ giúp người vượt qua, đã giải thoát sẽ giúp người giải thoát, đã an tịnh sẽ giúp người an tịnh. Ông cầm bông hoa timira rải lên đỉnh đầu của đức Phật Siddhattha, chắp tay đi nhiễu quanh và đảnh lễ; vừa rời đi không lâu, ông bị sư tử tấn công và ngã chết bên triền núi. Nhờ việc cúng dường hoa ấy, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc bốn tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí.84Ký sự về trưởng lão Gatasaññaka
THA-AP84 · 28 đoạnTrưởng lão Gatasaññaka kể: mới bảy tuổi ông đã xuất gia, đảnh lễ dưới chân bậc Đạo Sư, tung bảy bông hoa lên không trung hướng về đức Phật Tissa và cúng dường con đường Ngài đã đi qua. Nhờ việc cúng dường đức Phật ấy, suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.85Ký sự về trưởng lão Nipannañjaliya
THA-AP85 · 28 đoạnTrưởng lão Nipannañjaliya kể: khi ông đang nằm bệnh nặng dưới gốc cây trong rừng hoang, bậc Đạo Sư Tissa vì thương xót đã đến bên; ông nằm đó chắp tay lên đầu đảnh lễ đức Phật rồi qua đời ngay tại chỗ. Nhờ cái đảnh lễ cuối đời ấy, suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.86Ký sự về trưởng lão Adhopupphiya
THA-AP86 · 36 đoạnTrưởng lão Adhopupphiya kể: trưởng lão Abhibhū, đệ tử hàng đầu có tam minh và đại thần lực của đức Phật Sikhī, đến Hy-mã-lạp sơn. Ông, một ẩn sĩ có thần thông sống ở am thất xinh đẹp trên núi, bay lên như chim, hái bảy bông hoa adha rải lên đỉnh đầu của vị ấy; được vị anh hùng nhìn thấy, ông quay về hướng đông, rồi sau đó bị con trăn khổng lồ hành hạ đến chết trong lúc nhớ lại việc làm lành xưa. Nhờ việc cúng dường hoa ấy, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.87Ký sự về trưởng lão Raṁsisaññaka
THA-AP87 · 24 đoạnTrưởng lão Raṁsisaññaka kể: khi sống ẩn cư trong vùng núi Hy-mã-lạp, mặc y bằng da thú, ông thấy đức Phật Vipassī đi vào rừng, rực rỡ như mặt trời trăm tia sáng, như cây chúa sāla trổ hoa. Ông hướng tâm tịnh tín về hào quang của Ngài, chắp tay ngồi xổm đảnh lễ, và nhờ việc tưởng niệm hào quang ấy, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.88Ký sự về trưởng lão Dutiyaraṁsisaññaka
THA-AP88 · 20 đoạnTrưởng lão Raṁsisaññaka thứ hai kể: khi là đạo sĩ mặc y vỏ cây trên núi Hi-mã-lạp, ông ngồi trên đường kinh hành và nhìn thấy đức Phật Phussa đang an trú trong thiền, liền chắp tay khởi tâm tịnh tín nơi hào quang của Ngài. Nhờ sự suy tưởng ấy, suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.89Ký sự về trưởng lão Phaladāyaka
THA-AP89 · 20 đoạnTrưởng lão Phaladāyaka kể: khi là đạo sĩ mặc da dê trên núi Hi-mã-lạp, ông gặp đức Phật Phussa và dâng trái cây đang cầm trên tay với tâm trong sạch. Nhờ việc dâng trái cây ấy, mỗi khi tái sinh ông đều có trái cây tìm đến, suốt chín mươi hai kiếp không rơi vào khổ cảnh, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.90Ký sự về trưởng lão Saddasaññaka
THA-AP90 · 16 đoạnTrưởng lão Saddasaññaka kể lại nhân duyên xưa: khi sống trên tấm thảm lá ở núi Hi-mã-lạp, ông nghe tiếng thuyết Pháp của đức Phật Phussa và khởi tâm tịnh tín nơi âm thanh ấy. Nhờ nhân lành nhỏ bé đó, suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh và cuối cùng chứng đắc các tuệ phân tích, giải thoát và thắng trí.91Ký sự về trưởng lão Bodhisiñcaka
THA-AP91 · 24 đoạnTrưởng lão Bodhisiñcaka kể: trong lễ hội ở cội Bồ-đề lớn của đức Phật Vipassī, khi đang trên đường đi xuất gia, ông đến gần, lấy nước hoa rưới lên cội Bồ-đề với niềm tin rằng bậc đã giải thoát sẽ giúp chúng sinh giải thoát. Nhờ việc rưới nước ấy, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.92Ký sự về trưởng lão Padumapupphiya
THA-AP92 · 36 đoạnTrưởng lão Padumapupphiya kể: ông lội vào hồ sen, đang ngắt những đóa sen hồng thì thấy đức Phật Phussa với ba mươi hai tướng tốt. Ông cầm đóa sen hồng tung lên không trung cúng dường; nhớ lại những việc ác đã làm, ông xuất gia sống đời không nhà, giữ thân và ý thu thúc, từ bỏ lời nói xấu xa và làm trong sạch việc nuôi mạng. Suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh; mười tám vị chúa tể tên Padumābhāsa và bốn mươi tám vị nữa đã xuất hiện trong mười tám kiếp, và nay ông chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí. Cuối bài là phần tóm lược của phẩm Timira.93Ký sự về trưởng lão Sudhāpiṇḍiya
THA-AP93 · 33 đoạnTrưởng lão Sudhāpiṇḍiya mở đầu bằng bài kệ tán thán: phước của người cúng dường đức Phật hay bậc Thánh đã vượt qua sầu muộn, không còn sợ hãi thì không gì đo lường được, quyền chúa tể bốn châu lục cũng không bằng một phần mười sáu của một lần cúng dường. Chính ông đã lấy vữa vôi trám chỗ nứt tại bảo tháp của đức Phật Siddhattha với tâm trong sạch; suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.94Ký sự về trưởng lão Sucintita
THA-AP94 · 28 đoạnTrưởng lão Sucintita kể: ông dâng một chiếc ghế sạch cho đức Phật Tissa với tâm hoan hỷ và trong sạch, nhờ đó được hưởng tài sản dồi dào, từng làm vua Mahāruci và Chuyển Luân Vương. Suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.95Ký sự về trưởng lão Aḍḍhacelaka
THA-AP95 · 24 đoạnTrưởng lão Aḍḍhacelaka kể: khi đang sống trong cảnh nghèo khó khốn cùng, ông dâng cho đức Phật Tissa nửa mảnh vải — tất cả những gì mình có — rồi được vui hưởng cõi trời trọn một kiếp và tích lũy việc lành trong các kiếp còn lại. Suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.96Ký sự về trưởng lão Sūcidāyaka
THA-AP96 · 24 đoạnTrưởng lão Sūcidāyaka kể: khi là thợ rèn ở kinh thành Bandhumā, ông dâng cây kim khâu cho đức Phật Vipassī. Nhờ nghiệp ấy, trí tuệ của ông sắc bén như kim cương; ông xa lìa tham ái, được giải thoát, đoạn tận lậu hoặc, thấy suốt các kiếp quá khứ, hiện tại và vị lai, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.97Ký sự về trưởng lão Gandhamāliya
THA-AP97 · 32 đoạnTrưởng lão Gandhamāliya kể: ông dựng một bảo tháp thơm ngát, phủ đầy hoa nhài, xứng đáng dành cho đức Phật Siddhattha — bậc rực rỡ như cột vàng, như hoa súng cháy sáng, như ngọn lửa tế, như hổ chúa và sư tử cao quý, đang ngồi trước Tăng chúng. Ông đảnh lễ dưới chân bậc Đạo Sư rồi ra đi về hướng bắc; nhờ hành động làm với đức Phật một cách đặc biệt ấy, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.98Ký sự về trưởng lão Tipupphiya
THA-AP98 · 28 đoạnTrưởng lão Tipupphiya kể: khi là thợ săn trong rừng, ông thấy cây pāṭali xanh tươi, rải ba bông hoa, nhặt bỏ lá úa và đảnh lễ cây ấy như đảnh lễ đức Phật Vipassī đang đứng trước mặt, rồi qua đời ngay tại chỗ. Nhờ việc cúng dường cây Bồ-đề ấy, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.99Ký sự về trưởng lão Madhupiṇḍika
THA-AP99 · 36 đoạnTrưởng lão Madhupiṇḍika kể: trong khu rừng rậm lặng vắng, ông thấy đức Phật Siddhattha, bậc vĩ đại đã an tịnh như bò chúa thuần chủng, rực sáng như sao mai, được chư thiên tôn kính; niềm vui trào dâng và trí tuệ sinh khởi ngay lúc ấy. Ông dâng mật ong cho bậc Đạo Sư vừa xuất định, đảnh lễ rồi ra đi về hướng đông. Nhờ đó, ở bữa ăn của ông mật ong cùng củ sen chảy ra, có cả mưa mật ong đổ xuống; ông từng làm vua Sudassana và Chuyển Luân Vương, suốt chín mươi bốn kiếp không rơi vào khổ cảnh, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.100Ký sự về trưởng lão Senāsanadāyaka
THA-AP100 · 28 đoạnTrưởng lão Senāsanadāyaka kể: ông dâng tấm thảm lá cho đức Phật Siddhattha và rải hoa xung quanh chỗ nằm của Ngài. Nhờ đó, ông được hưởng lâu đài đáng yêu, giường nằm luôn có hoa quý tuôn xuống như mưa hoa; suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.101Ký sự về trưởng lão Veyyāvaccaka
THA-AP101 · 24 đoạnTrưởng lão Veyyāvaccaka kể: khi đoàn người đông đúc đến với đức Phật Vipassī, ông là người phục dịch năng nổ trong mọi công việc; không có vật gì để dâng cúng, ông chỉ đảnh lễ dưới chân bậc Đạo Sư với tâm trong sạch. Nhờ việc phục dịch ấy, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.102Ký sự về trưởng lão Buddhupaṭṭhāka
THA-AP102 · 43 đoạnTrưởng lão Buddhupaṭṭhāka kể: ông là người thổi tù và và thường xuyên phục vụ đức Phật Vipassī. Quả của việc phục vụ ấy là ngày nay luôn có sáu mươi ngàn nhạc công vây quanh ông; suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí. Cuối bài là phần tóm lược phẩm Sudhā và tóm lược cả mười phẩm đầu của tập ký sự.103Ký sự về trưởng lão Bhikkhādāyaka
THA-AP103 · 29 đoạnTrưởng lão Bhikkhādāyaka kể: ông thấy đức Phật Siddhattha, sắc vàng rực rỡ, đang từ rừng đi ra; ông dâng lên Ngài một muỗng thức ăn với lòng hạnh phúc cao thượng khi thấy Ngài dìu dắt đám đông đến bờ an ổn. Nhờ việc dâng vật thực ấy, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.104Ký sự về trưởng lão Ñāṇasaññaka
THA-AP104 · 28 đoạnTrưởng lão Ñāṇasaññaka kể: ông thấy đức Phật Siddhattha, sắc vàng rực rỡ như voi chúa, đang đi trên đường, tỏa sáng khắp các phương như mặt trăng tròn đầy. Ông hướng tâm tịnh tín về trí tuệ của Ngài, chắp tay đảnh lễ với lòng hoan hỷ; nhờ việc tưởng niệm trí tuệ ấy, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.105Ký sự về trưởng lão Uppalahatthi
THA-AP105 · 28 đoạnTrưởng lão Uppalahatthi kể: khi là người làm tràng hoa ở thành Tivarā, ông thấy đức Phật Siddhattha, bậc vô nhiễm được thế gian tôn kính, liền dâng một bó hoa với tâm tịnh tín và hoan hỷ. Nhờ nghiệp ấy, sinh ở nơi nào ông cũng hưởng quả lành và được những người tốt của xứ Malla vây quanh; suốt chín mươi bốn kiếp không rơi vào khổ cảnh, từng làm vua nhiều kiếp, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.106Ký sự về trưởng lão Padapūjaka
THA-AP106 · 24 đoạnTrưởng lão Padapūjaka kể: ông dâng hoa nhài cho đức Phật Siddhattha, hoan hỷ đặt bảy bông hoa dưới hai bàn chân của Ngài. Nhờ việc làm ấy, nay ông vượt trội hơn người và trời, mang thân cuối cùng trong Giáo Pháp của đức Phật Chánh Đẳng Giác; suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh và từng làm Chuyển Luân Vương.107Ký sự về trưởng lão Muṭṭhipupphiya
THA-AP107 · 24 đoạnTrưởng lão Muṭṭhipupphiya kể: khi là người làm tràng hoa tên Sudassana, ông thấy đức Phật Padumuttara, bậc vô nhiễm, trưởng thượng của thế gian, liền cầm bông hoa nhài cúng dường. Nhờ việc cúng dường hoa và nguyện lực của tâm ấy, trong một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, đạt được thiên nhãn thanh tịnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.108Ký sự về trưởng lão Udakapūjaka
THA-AP108 · 32 đoạnTrưởng lão Udakapūjaka kể: khi thấy đức Phật Padumuttara đi trên hư không, sáng rực như ngọn lửa, ông múc nước bằng tay và hắt lên không trung cúng dường. Đức Phật tiếp nhận, biết được ý định của ông và nói kệ tiên tri rằng nhờ việc dâng nước cùng niềm vui ấy, trong một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh. Nhờ nghiệp ấy, ông đạt vị thế bất động, từng làm Chuyển Luân Vương và nay chứng đắc các tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.109Ký sự về trưởng lão Naḷamāliya
THA-AP109 · 49 đoạnTrưởng lão Naḷamāliya kể: đức Phật Padumuttara ngồi trên thảm cỏ, ông cầm tràng hoa sậy, buộc thành chiếc quạt và dâng lên Ngài. Đức Phật thọ nhận, nói kệ ví tâm ông sẽ được giải thoát khỏi ba ngọn lửa như thân Ngài được mát mẻ, rồi tiên tri ông sẽ làm Chuyển Luân Vương tên Subbata và Māluta, và trong một trăm ngàn kiếp không rơi vào khổ cảnh. Nay ông đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát và thắng trí.110Ký sự về trưởng lão Āsanūpaṭṭhāpaka
THA-AP110 · 28 đoạnTrưởng lão Āsanupaṭṭhāhaka kể: trong rừng vắng, ông dâng bảo tọa sư tử lên đức Phật Atthadassī, cầm tràng hoa đi nhiễu quanh Ngài, phục vụ bậc Đạo Sư rồi ra đi hướng về phía bắc. Nhờ việc làm ấy, một ngàn tám trăm kiếp ông không biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Sannibbāpaka, và nay tự mình đạt Niết-bàn, mọi hiện hữu đã được xóa sạch.111Ký sự về trưởng lão Biḷālidāyaka
THA-AP111 · 40 đoạnTrưởng lão Biḷālidāyaka kể: sống trên thảm lá gần núi Hi-mã-lạp, ông đào các rễ củ kalamba, biḷālī, takkala và sửa soạn trái cây rừng. Đức Phật Padumuttara biết được ý định, đã đến chỗ ông; ông dâng củ biḷālī vào bình bát của Ngài. Đức Phật thọ dụng và nói kệ: nhờ tâm tịnh tín khi dâng củ ấy, trong một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh. Nay đây là thân cuối cùng của ông trong vòng luân chuyển.112Ký sự về trưởng lão Reṇupūjaka
THA-AP112 · 32 đoạnTrưởng lão Reṇupūjaka kể: đức Phật Vipassī sắc vàng rực như mặt trời, được các vị Thinh Văn vây quanh; ông cầm bông hoa nāga và dâng bột phấn hoa lên Ngài. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ việc cúng dường ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Reṇu. Bài này kết thúc phẩm Bhikkhadāyi với kệ tóm lược mười trưởng lão và sáu mươi sáu câu kệ.113Ký sự về trưởng lão Mahāparivāra
THA-AP113 · 45 đoạnTrưởng lão Mahāparivāraka kể: đức Phật Vipassī vào thành Bandhuma cùng sáu mươi tám ngàn vị; ông — khi ấy có tám mươi bốn ngàn Dạ-xoa phục vụ — ra khỏi cung điện, cầm tấm vải đảnh lễ và dâng lên Ngài, khiến quả đất rung động vì oai lực của đức Phật. Ông cùng quan lại và tùy tùng quy y nương nhờ; kể từ chín mươi mốt kiếp trước, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.114Ký sự về trưởng lão Sumaṅgala
THA-AP114 · 40 đoạnTrưởng lão Sumaṅgala kể: đức Phật Atthadassī đến hồ nước, tắm và uống nước, khoác một tấm y rồi đứng nhìn khắp các phương. Ông từ cung điện nhìn thấy Ngài, mừng rỡ vỗ tay và cúng dường bằng điệu múa, lời ca cùng năm loại nhạc khí. Nhờ vậy, ở mọi cõi tái sinh ông đều vượt trội chúng sinh, danh tiếng vang xa; ông sinh lên cõi trời Đẩu Suất, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.115Ký sự về trưởng lão Saraṇagamaniya
THA-AP115 · 48 đoạnTrưởng lão Saraṇagamaniya kể: khi hai vị Thiên Vương giao chiến hỗn loạn, đức Phật Padumuttara đứng trên không trung làm đám đông rung động; chư Thiên buông bỏ áo giáp, vũ khí và đảnh lễ Ngài. Ngài dạy: người có tâm sân hận hãm hại một mạng sống sẽ sinh vào cõi khổ; hãy làm tâm lắng dịu, đừng giết hại mãi. Cả hai đạo quân Dạ-xoa đều kinh ngạc và đến nương nhờ; đó là lần đầu tiên ông quy y, và trong một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.116Ký sự về trưởng lão Ekāsaniya
THA-AP116 · 40 đoạnTrưởng lão Ekāsaniya kể: khi là Thiên Vương Varuṇa, sau khi đức Phật Atthadassī nhập Niết-bàn, ông mang tất cả nhạc cụ đến cội Bồ-đề tối thượng, hòa nhạc, múa hát phục vụ cội cây như phục vụ đức Phật trước mặt, rồi ngồi kiết già và mệnh chung tại đó. Nhờ tâm tịnh tín ấy, ông sinh lên cõi Hóa Lạc Thiên, luôn có sáu mươi ngàn nhạc cụ vây quanh; nay ba ngọn lửa đã tắt, ông mang thân cuối cùng trong Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác.117Ký sự về trưởng lão Suvaṇṇapupphiya
THA-AP117 · 40 đoạnTrưởng lão Suvaṇṇapupphiya kể: nghe đức Phật Vipassī thuyết giảng con đường Bất Tử cho dân chúng, ông dâng lên Ngài bốn bông hoa bằng vàng; khi ấy hào quang của đức Phật và ánh vàng hợp thành nguồn sáng bao la phủ khắp hội chúng. Về chỗ ngụ, ông tưởng nhớ đức Phật với tâm tịnh tín và sinh lên cõi trời Đẩu Suất. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ việc cúng dường ấy ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.118Ký sự về trưởng lão Citakapūjaka
THA-AP118 · 36 đoạnTrưởng lão Citakapūjaka kể: khi đức Phật Sikhī viên tịch, ông — đang ở cội cây Rājāyatana cùng quan lại và tùy tùng — đến nơi hỏa táng với tâm tịnh tín, tấu nhạc và đặt hương thơm, tràng hoa cúng dường giàn hỏa thiêu. Về chỗ ngụ, ông tưởng nhớ việc cúng dường ấy, thọ hưởng thành đạt giữa chư Thiên và loài người, rồi đạt vị thế bất động sau khi bỏ hơn thua. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, ông không còn biết khổ cảnh.119Ký sự về trưởng lão Buddhasaññaka
THA-AP119 · 40 đoạnTrưởng lão Buddhasaññaka kể: khi đức Phật Vipassī buông bỏ sự duy trì tuổi thọ, quả đất rung động, cung điện của ông cũng rung chuyển khiến ông sợ hãi. Thiên Vương Vessavaṇa đến trấn an dân chúng; ông tán thán oai lực của đức Phật, hưởng vui cõi trời một kiếp và làm việc lành trong các kiếp còn lại. Chỉ nhờ một niệm tưởng nhớ về đức Phật chín mươi mốt kiếp trước, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.120Ký sự về trưởng lão Maggasaññaka
THA-AP120 · 28 đoạnTrưởng lão Maggasaññaka kể: các vị Thinh Văn của đức Phật Padumuttara lạc lối trong rừng lớn, đi quanh quẩn như người mù. Ông từ chỗ ngụ bước xuống, đến bên các vị Tỷ-kheo, chỉ đường và dâng thức ăn. Nhờ việc làm ấy, ở đời này ông chứng quả A-la-hán lúc mới bảy tuổi; trước đó ông từng làm Chuyển Luân Vương tên Sacakkhu qua nhiều kiếp.121Ký sự về trưởng lão Paccupaṭṭhānasaññaka
THA-AP121 · 44 đoạnTrưởng lão Paccupaṭṭhānasaññaka kể: sinh vào loài Dạ-xoa ngay sau khi đức Phật Atthadassī tịch diệt, ông tiếc nuối vì Ngài đã viên tịch trong khi mình mải tìm của cải. Vị Thinh Văn Sāgara đến an ủi: hạt giống giác ngộ đã được đức Phật ban cho tất cả; cúng dường xá-lợi dù nhỏ bằng hạt mù-tạt, nếu tâm tịnh tín ngang nhau, thì phước cũng ngang nhau. Ông cho xây bảo tháp và phục vụ năm năm; nhờ đó, sau khi hưởng thành đạt, ông chứng quả A-la-hán.122Ký sự về trưởng lão Jātipūjaka
THA-AP122 · 48 đoạnTrưởng lão Jātipūjaka kể: khi đức Phật Vipassī đản sinh, ánh sáng bao la xuất hiện, quả đất cùng biển cả núi non rung động; các nhà tiên tri dự báo đức Phật sẽ xuất hiện và tiếp độ dân chúng. Nghe vậy, ông làm lễ cúng dường đản sinh với tâm tịnh tín rồi mệnh chung tại đó. Nhờ quả của lễ cúng ấy, ở mọi cõi sinh ông đều vượt trội chúng sinh, các vú nuôi không thể làm ông nổi giận, và trong chín mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh. Bài này kết thúc phẩm Mahāparivāra với kệ tóm lược mười trưởng lão, chín mươi câu kệ.123Ký sự về trưởng lão Sereyyaka
THA-AP123 · 41 đoạnTrưởng lão Sereyyaka kể: là vị Bà-la-môn thông suốt ba tập Vệ-đà, ông thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian oai phong như sư tử, như cọp chúa, như voi chúa. Ông cầm bông hoa sereyya tung lên không trung; nhờ oai lực của đức Phật, hoa tụ lại thành mái che, cuống trong vành ngoài, che suốt bảy ngày rồi biến mất. Thấy điều kỳ diệu ấy, ông làm tâm tịnh tín nơi đức Phật; trong một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.124Ký sự về trưởng lão Pupphathūpiya
THA-AP124 · 68 đoạnTrưởng lão Pupphathūpiya kể: là vị Bà-la-môn trên núi Kukkuṭa với năm ngàn học trò, ông nghe học trò báo đức Phật đã xuất hiện với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi tướng phụ. Ông lên đường đi gặp Ngài nhưng lâm bệnh dọc đường; nghe học trò mô tả đức Phật như đang ở trước mặt, ông làm tâm tịnh tín, dựng ngôi tháp bằng hoa cúng dường rồi mệnh chung tại đó. Nhờ việc ấy, trong một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nhiều đời làm Chuyển Luân Vương, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.125Ký sự về trưởng lão Pāyasadāyaka
THA-AP125 · 40 đoạnTrưởng lão Pāyasadāyaka kể: thấy đức Phật Vipassī sắc vàng chói, có ba mươi hai tướng tốt, dẫn đầu hội chúng Tỷ-kheo ra khỏi rừng và bước đi trên đường kinh hành giữa không trung, ông sửa soạn món cơm sữa trong chiếc đĩa kim loại quý, đặt đĩa xuống và đảnh lễ Ngài. Ông bạch xin Ngài vì lòng thương xót mà thọ nhận; đức Phật biết ý ông và đã thọ nhận. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của món cơm sữa, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Buddha.126Ký sự về trưởng lão Gandhodakiya
THA-AP126 · 28 đoạnTrưởng lão Gandhodakiya kể: ngồi trên lâu đài, ông thấy đức Phật Vipassī — bậc Toàn Tri dẹp tan bóng tối, chói sáng như cây kakudha — đang đi không xa, hào quang tỏa như ánh mặt trời. Ông cầm nước thơm rắc lên đức Phật tối thượng, rồi với tâm tịnh tín ấy mà mệnh chung tại chỗ. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ việc cúng dường ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Sugandha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.127Ký sự về trưởng lão Sammukhāthavika
THA-AP127 · 100 đoạnTrưởng lão Sammukhāthavika kể: khi đức Phật Vipassī đản sinh, ông là người giải thích các điềm báo cho dân chúng — mười ngàn thế giới rung động, ánh sáng bao la, sông ngừng chảy, lửa địa ngục tắt, chim ngừng bay, gió ngừng thổi, châu báu rực sáng, hài nhi bước bảy bước và thốt lời hùng tráng. Sau khi làm dân chúng rung động và ca ngợi đấng Lãnh Đạo Thế Gian, ông đảnh lễ rồi ra đi. Chỉ nhờ việc ca ngợi ấy, trong chín mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh và liên tiếp mười một đời làm Chuyển Luân Vương với những tên gọi gắn với các điềm lành ngày đản sinh.128Ký sự về trưởng lão Kusumāsaniya
THA-AP128 · 44 đoạnTrưởng lão Kusumāsaniya kể: là vị Bà-la-môn ở thành Dhaññavatī, thông suốt ba tập Vệ-đà và rành về điềm báo, ông đặt năm bó sen xanh lên chiếc ghế nhỏ để dâng cúng trong buổi đoàn tụ với cha mẹ. Khi đức Phật Vipassī dẫn đầu hội chúng Tỷ-kheo đi đến, ông sắp chỗ ngồi trải hoa, thỉnh mời Ngài về nhà, tự tay dâng phần vật thực có sẵn; khi Ngài thọ thực xong, ông dâng thêm bó hoa và Ngài tùy hỷ rồi ra đi. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ việc dâng hoa ấy ông không còn biết khổ cảnh.129Ký sự về trưởng lão Phaladāyaka
THA-AP129 · 40 đoạnTrưởng lão Phaladāyaka kể: là ẩn sĩ thông suốt ba tập Vệ-đà sống gần núi Hi-mã-lạp, ông có giỏ trái cây treo trên ngọn cây. Đức Phật Padumuttara đi khất thực đến gần để tiếp độ ông; với tâm tịnh tín, ông dâng trái cây lên Ngài. Đức Phật đứng trên không trung nói kệ thọ ký: nhờ việc dâng trái cây và nguyện lực của tác ý này, ông sẽ không rơi vào khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp. Quả nhiên ông hưởng thành đạt, đạt vị thế bất động sau khi bỏ hơn thua, và từng làm Chuyển Luân Vương Sumaṅgala.130Ký sự về trưởng lão Ñāṇasaññaka
THA-AP130 · 32 đoạnTrưởng lão Ñāṇasaññaka kể: sống trong vùng đồi núi Hi-mã-lạp, thấy bãi cát chói sáng, ông tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng và tán thán trí tuệ của Ngài — không gì sánh bằng, không gì đối địch; biết rõ tất cả các pháp, Ngài giải thoát nhờ trí tuệ. Làm tâm tịnh tín nơi trí tuệ ấy, ông hưởng vui cõi trời một kiếp và làm điều lành trong các kiếp còn lại. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc tưởng niệm về trí tuệ, ông không còn biết khổ cảnh.131Ký sự về trưởng lão Gandhapupphiya
THA-AP131 · 28 đoạnTrưởng lão Gandhapupphiya kể: đức Phật Vipassī sắc vàng chói, bậc xứng đáng được cúng dường, dẫn đầu các vị Thinh Văn rời khỏi tu viện. Thấy Ngài, ông với tâm tịnh tín và ý vui mừng dâng cúng bông hoa thơm; nhờ tâm tịnh tín ấy nơi đấng Chúa Tể của loài người, ông mừng rỡ đảnh lễ đức Như Lai lần nữa. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ việc cúng dường ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Caraṇa, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.132Ký sự về trưởng lão Padumapūjaka
THA-AP132 · 48 đoạnTrưởng lão Padumapūjaka kể: là ẩn sĩ sống ở khu ẩn cư trên núi Gotama cùng các học trò, ông bảo học trò mang hoa sen hồng lại để cúng dường đức Phật, xác định đối tượng trong tâm rồi dâng lên Ngài. Trước khi mệnh chung, ông triệu tập học trò và dạy: đừng xao lãng, không xao lãng là nguồn đem lại an lạc. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ việc cúng dường hoa ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Jaluttama. Bài này kết thúc phẩm Sereyya với kệ tóm lược mười trưởng lão, 105 câu kệ.133Ký sự về trưởng lão Sobhita
THA-AP133 · 41 đoạnTrưởng lão Sobhita kể: nghe đức Phật Padumuttara thuyết giảng về cảnh giới Bất Tử cho dân chúng đông đảo, ông chắp tay chăm chú và bật thốt lời tán thán: như biển cả đứng đầu các nguồn nước, núi Neru cao quý nhất trong các núi, trí tuệ của đức Phật không ai đạt nổi một phần. Đức Phật ngồi giữa hội chúng Tỷ-kheo nói kệ thọ ký: người ca ngợi trí tuệ của Ngài sẽ không rơi vào khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp, sẽ thiêu đốt phiền não và thành Thinh Văn tên Sobhita. Nay ông đã thiêu đốt phiền não, thành tựu tam minh và tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.134Ký sự về trưởng lão Sudassana
THA-AP134 · 32 đoạnTrưởng lão Sudassana kể: ở bờ sông Vinatā, trong lúc tìm cây pilakkha đang kết trái, ông thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Ông cắt bông hoa ketaka đang trổ và dâng lên đức Phật Sikhī, bạch rằng: với trí tuệ nào Ngài đã đạt cảnh giới bất tử, con xin cúng dường chính trí tuệ ấy. Sau khi cúng dường trí tuệ, ông nhìn thấy cây pilakkha và đạt được tuệ ấy; kể từ ba mươi mốt kiếp trước, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.135Ký sự về trưởng lão Candanapūjaka
THA-AP135 · 41 đoạnTrưởng lão Candanapūjaka kể: khi là loài chim kinnara ăn hoa, mặc y phục bằng hoa ở bờ sông Candabhāgā, ông thấy đức Phật Atthadassī bay ra phía trên chóp rừng như thiên nga chúa. Ngài từ bầu trời bước xuống, trải y hai lớp và ngồi kiết già; ông cầm trầm hương hòa tan đến dâng lên Ngài với tâm tịnh tín. Kể từ một ngàn tám trăm kiếp trước, nhờ việc cúng dường ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.136Ký sự về trưởng lão Pupphachadaniya
THA-AP136 · 36 đoạnTrưởng lão Pupphachadaniya kể: vị Bà-la-môn Sunanda thông thạo chú thuật đang cử hành lễ tế thì đức Phật Padumuttara đi kinh hành trên không trung, rải tâm từ vô lượng đến chúng sinh. Ông cắt hoa ở cuống, triệu tập tất cả học trò cùng tung hoa lên không trung; nhờ oai lực của đức Phật, mái hoa trải khắp thành phố và không tan suốt bảy ngày. Nhờ nhân lành ấy, ông hưởng thành đạt, thấu suốt các lậu hoặc, vượt qua trói buộc thế gian, và từng nhiều đời làm Chuyển Luân Vương.137Ký sự về trưởng lão Rahosaññaka
THA-AP137 · 32 đoạnTrưởng lão Rahosaññaka kể: là vị Bà-la-môn dạy ba ngàn học trò ở khu ẩn cư chân núi Vasabha, ông triệu tập học trò lại rồi ngồi sang một bên, trong lúc tầm cầu sự hiểu biết của đức Phật mà làm tâm tịnh tín ở trí tuệ của Ngài. Ông ngồi kiết già trên tấm thảm lá và mệnh chung ngay tại đó với tâm tịnh tín. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của niệm tưởng về trí tuệ ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Siridhara, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.138Ký sự về trưởng lão Campakapupphiya
THA-AP138 · 28 đoạnTrưởng lão Campakapupphiya kể: đức Phật ngồi trong vùng đồi núi, chói sáng như cây kaṇikāra đang cháy, làm rực sáng mọi phương như vì sao osadhī. Ông có ba thanh niên học nghề đi theo sau mang túi vật dụng; trong giỏ có bảy bông hoa đã rụng xuống. Ông cầm các bông hoa ấy dâng lên, hướng tâm đến trí tuệ của đức Phật Vessabhū. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường trí tuệ ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Vipulābha.139Ký sự về trưởng lão Atthasandassaka
THA-AP139 · 36 đoạnTrưởng lão Atthasandassaka kể: ngồi trong khoảnh rừng rộng, ông — khi ấy là Nārada — thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian, bậc đã đoạn tận lậu hoặc, được hội chúng Tỷ-kheo vây quanh. Ông thốt ba bài kệ tán thán: một trăm ngàn vị tam minh, lục thông, đại thần lực vây quanh bậc Toàn Giác — ai thấy mà không tịnh tín? Trí tuệ của Ngài vô biên, không ai trong thế gian gồm cả chư Thiên sánh bằng; Pháp Thân Ngài chiếu sáng như kho mỏ châu ngọc. Nhờ tâm tịnh tín và lời ca ngợi ấy, trong một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.140Ký sự về trưởng lão Ekapasādaniya
THA-AP140 · 24 đoạnTrưởng lão Ekapasādaniya kể: ông tên Nārada, dòng dõi Kesava; trong lúc tìm hiểu về điều thiện và bất thiện, ông đến gần bên đức Phật. Bậc Đại Hiền Trí Atthadassī — đấng bi mẫn có tâm từ ái — đang an ủi chúng sinh và thuyết giảng Giáo Pháp. Ông làm tâm mình tịnh tín, chắp tay trên đầu, đảnh lễ bậc Đạo Sư rồi ra đi. Chỉ một lần tịnh tín ấy cũng đủ để ông làm Chuyển Luân Vương Amittatāpana một ngàn bảy trăm kiếp trước, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.141Ký sự về trưởng lão Sālapupphadāyaka
THA-AP141 · 28 đoạnTrưởng lão Sālapupphadāyaka kể: khi là vua sư tử sinh ra cao quý, đang tìm chỗ hiểm trở trên núi, ông thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian và nghĩ: vị này hẳn là đấng Đại Hùng, người làm cho đám đông được mát mẻ giải thoát; ta nên hầu cận vị Trời của chư Thiên. Ông bẻ nhánh cây sālā, mang bông hoa còn nguyên vỏ bọc đến dâng cúng bậc Toàn Giác. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc dâng hoa ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Virocana.142Ký sự về trưởng lão Piyālaphaladāyaka
THA-AP142 · 42 đoạnTrưởng lão Piyālaphaladāyaka kể: khi là con chim bồ câu làm tổ ở sườn núi không xa bậc Đạo Sư Sikhī, sáng chiều ông nhìn thấy đức Phật nhưng không có vật gì xứng đáng để dâng cúng. Ông cầm trái piyāla đến gần đức Phật và Ngài đã thọ nhận; từ đó ông theo phục vụ đấng Hướng Đạo và mệnh chung với tâm tịnh tín. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc dâng trái cây ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Piyālī. Bài này kết thúc phẩm Sobhita với kệ tóm lược mười trưởng lão, bảy mươi hai câu kệ.143Ký sự về trưởng lão Atichattiya
THA-AP143 · 21 đoạnTrưởng lão Atichattiya kể: khi đức Phật Atthadassī viên tịch, ông cho thực hiện chiếc lọng che tầng trên và đặt lên ngôi bảo tháp; nhiều lần ông đến lễ bái bảo tháp, làm mái che bằng hoa đặt lên trên chiếc lọng. Nhờ quả của việc cúng dường bảo tháp ấy, suốt một ngàn bảy trăm kiếp ông cai quản cõi trời, không sinh làm loài người, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.144Ký sự về trưởng lão Thambhāropaka
THA-AP144 · 24 đoạnTrưởng lão Thambhāropaka kể: khi đức Phật Dhammadassī nhập Niết-bàn, ông dựng cột cờ ở bảo tháp của Ngài, làm chiếc thang bước lên bảo tháp tối thượng và dâng bông hoa nhài lên đó. Ông thốt lên tán thán đức Phật, Giáo Pháp và thành tựu của bậc Đạo Sư; kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường bảo tháp, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Thūpasīkhara, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.145Ký sự về trưởng lão Vedikāraka
THA-AP145 · 24 đoạnTrưởng lão Vedikāraka kể: khi đức Phật Piyadassī nhập Niết-bàn, với tâm tịnh tín và ý vui mừng, ông làm viền rào bằng ngọc trai quanh bảo tháp, rải ngọc ma-ni xung quanh, mở lễ hội ở viền rào rồi mệnh chung tại đó. Nhờ nghiệp phước ấy, ở mọi cõi sinh, dù Thiên nhân hay loài người, đều có người cầm giữ ngọc ma-ni trên không trung hầu ông; ông từng làm Chuyển Luân Vương tên Maṇippabhā, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.146Ký sự về trưởng lão Saparivāriya
THA-AP146 · 28 đoạnTrưởng lão Saparivāriya kể: đức Phật Padumuttara rực cháy như khối lửa rồi viên tịch; bảo tháp của Ngài rộng rãi, người người túc trực ở gian nhà xá-lợi cao quý. Với tâm tịnh tín và ý vui mừng, ông làm vòng rào chắn bằng gỗ trầm hương quanh bảo tháp. Nhờ nghiệp phước ấy, ở mọi cõi sinh ông không thấy mình thua kém ai; ông từng làm Chuyển Luân Vương tên Samatta, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.147Ký sự về trưởng lão Ummāpupphiya
THA-AP147 · 24 đoạnTrưởng lão Ummāpupphiya kể: khi đức Phật Siddhattha nhập Niết-bàn, lễ hội ở ngôi đại bảo tháp đang tiến hành; ông cầm bông hoa ummā dâng lên bảo tháp. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường bảo tháp ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Somadeva qua tám mươi lăm đời vua, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.148Ký sự về trưởng lão Anulepadāyaka
THA-AP148 · 28 đoạnTrưởng lão Anulepadāyaka kể: ông làm vòng rào chắn ở cội Bồ-đề của bậc Hiền Trí Anomadassī, dâng cúng khối vôi bột và tự tay tô trét. Thấy việc làm khéo léo ấy, đức Phật đứng giữa hội chúng Tỷ-kheo nói kệ thọ ký: nhờ việc làm vôi bột này và nguyện lực của tác ý, ông sẽ hưởng sự thành đạt và chấm dứt khổ đau. Nay ông mang thân cuối cùng trong Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác, từng làm Chuyển Luân Vương Sabbaghana một trăm kiếp trước.149Ký sự về trưởng lão Maggadāyaka
THA-AP149 · 24 đoạnTrưởng lão Maggadāyaka kể: bậc Hữu Nhãn — đức Phật Siddhattha có ba mươi hai tướng tốt — qua sông nhỏ rồi đi vào rừng. Ông cầm cuốc, xẻng và giỏ, san bằng con đường ấy, đảnh lễ bậc Đạo Sư và làm tâm mình tịnh tín. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng đường đi ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm vị thống lãnh dân chúng tên Suppabuddha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.150Ký sự về trưởng lão Phalakadāyaka
THA-AP150 · 28 đoạnTrưởng lão Phalakadāyaka kể: thuở xưa là thợ đóng xe thuyền khéo nghề mộc, ông làm tấm ván bằng gỗ trầm hương và dâng cúng đấng thân quyến của thế gian. Nhờ quả của tấm ván gỗ ấy, ông có cung điện vàng chói sáng hóa hiện, xe voi, xe ngựa và xe cõi trời sẵn sàng, lâu đài và kiệu khiêng sinh ra theo ước muốn, châu báu không suy suyển. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Nimmita.151Ký sự về trưởng lão Vaṭaṁsakiya
THA-AP151 · 24 đoạnTrưởng lão Vaṭaṁsakiya kể: đức Phật Sumedha, đấng Tự Chủ không bị đánh bại, đang thực hành hạnh độc cư và đi sâu vào rừng lớn. Thấy cây salala trổ hoa, ông kết thành vòng hoa đội đầu và dâng lên đức Phật, đặt ngay trước mặt đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Kể từ ba mươi ngàn kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Nimmita, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.152Ký sự về trưởng lão Pallaṅkadāyaka
THA-AP152 · 32 đoạnTrưởng lão Pallaṅkadāyaka kể: ông dâng chiếc ghế bành có mái che phía trên lên đức Thế Tôn Sumedha, bậc Trưởng Thượng của thế gian. Chiếc ghế ấy đầy đủ bảy loại châu báu và luôn sinh lên cho ông đúng theo ý định. Kể từ ba mươi ngàn kiếp trước, nhờ quả của việc dâng ghế, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Suvaṇṇābha. Bài này kết thúc phẩm Chatta với kệ tóm lược mười trưởng lão, năm mươi sáu câu kệ.153Ký sự về trưởng lão Bandhujīvaka
THA-AP153 · 29 đoạnTrưởng lão Bandhujīvaka kể: ông thấy đức Phật Sikhī trong sạch như mặt trăng không bợn nhơ, đã đoạn tận vui thích trong hiện hữu, đang thiền trong rừng với tâm chăm chú, định tĩnh, và làm cho dân chúng được mát mẻ giải thoát. Ông buộc các bông hoa bandhujīvaka bằng sợi chỉ thành vòng và dâng lên Ngài. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Samantacakkhu, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.154Ký sự về trưởng lão Tambapupphiya
THA-AP154 · 36 đoạnTrưởng lão Tambapupphiya kể: bận rộn quán xuyến việc của người khác, ông phạm lỗi rồi hoảng sợ trốn chạy đến cuối rừng. Thấy cây trổ hoa kết chùm, ông ngắt bông hoa màu nâu đỏ rắc lên cội Bồ-đề, quét dọn gốc cây pāṭalī và ngồi kiết già ở đó; khi bọn truy tìm đến gần, ông hướng tâm về cội Bồ-đề, đảnh lễ với tâm trong sạch, rồi rơi xuống hẻm núi sâu. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường cội Bồ-đề ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Susaññata.155Ký sự về trưởng lão Vīthisammajjaka
THA-AP155 · 28 đoạnTrưởng lão Vīthisammajjaka kể: đấng Lãnh Đạo Thế Gian đi ra chói sáng như mặt trời mọc, như mặt trăng ngày rằm, với sáu mươi tám ngàn vị A-la-hán tháp tùng. Ông quét dọn con đường ấy và, với tâm trong sạch, trương lá cờ ở nơi Ngài đi ra. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng ngọn cờ, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm vua Sudhaja oai mạnh, đầy đủ mọi phương diện, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.156Ký sự về trưởng lão Kakkārupūjaka
THA-AP156 · 20 đoạnTrưởng lão Kakkārupūjaka kể vắn tắt: khi là vị Thiên tử, ông cầm bông hoa kakkāru dâng lên đức Phật Sikhī. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Sattuttama, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.157Ký sự về trưởng lão Mandāravapūjaka
THA-AP157 · 24 đoạnTrưởng lão Mandāravapūjaka kể vắn tắt: khi là vị Thiên tử, ông cầm bông hoa mandārava dâng lên đức Phật Sikhī; tràng hoa cõi trời ấy làm lọng che cho đức Như Lai suốt bảy ngày, và tất cả dân chúng tụ hội lại lễ bái Ngài. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Jutindhara, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.158Ký sự về trưởng lão Kadambapupphiya
THA-AP158 · 24 đoạnTrưởng lão Kadambapupphiya kể vắn tắt: ở chân núi Kukkuṭa gần Hi-mã-lạp có bảy vị Phật Độc Giác cư ngụ. Thấy cây kadamba trổ hoa rực như vua của các ngọn đèn vừa mọc, ông dùng cả hai tay hái hoa và rắc lên cả bảy vị Phật. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Puppha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.159Ký sự về trưởng lão Tiṇasūlaka
THA-AP159 · 20 đoạnTrưởng lão Tiṇasūlaka kể vắn tắt: trên núi Bhūtagaṇa gần Hi-mã-lạp có đấng Chiến Thắng, bậc Tự Chủ tách ly khỏi thế gian, cư ngụ một mình. Ông cầm những bông hoa tiṇasūla dâng lên Ngài; nhờ đó, trong chín mươi chín ngàn kiếp ông không rơi vào đọa xứ, từng làm Chuyển Luân Vương Dharaṇīruha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.160Ký sự về trưởng lão Nāgapupphiya
THA-AP160 · 32 đoạnTrưởng lão Nāgapupphiya kể: là vị Bà-la-môn Suvaccha sống trong vùng đồi núi cùng các học trò, ông được đức Phật Padumuttara đến khu ẩn cư để tiếp độ. Ngài đi kinh hành trên không trung, phun khói và chói sáng, biết niềm vui của ông rồi ra đi hướng phía đông. Thấy điều kỳ diệu ấy, ông cầm bông hoa nāga rắc lên con đường Ngài đã đi qua. Nhờ tâm tịnh tín ấy, trong một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Mahāratha.161Ký sự về trưởng lão Punnāgapupphiya
THA-AP161 · 24 đoạnTrưởng lão Punnāgapupphiya kể vắn tắt: là người thợ săn sống sâu trong rừng rậm, thấy cây punnāga trổ hoa, ông tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng. Ông thu nhặt bông hoa xinh đẹp thơm ngào ngạt ấy, làm ngôi tháp trên cát rồi dâng lên đức Phật. Kể từ chín mươi hai kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Tamonuda, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.162Ký sự về trưởng lão Kumudadāyaka
THA-AP162 · 40 đoạnTrưởng lão Kumudadāyaka kể: khi là loài chim kukuttha có giới hạnh, có trí sáng suốt và rành rẽ về phước và tội, sống bên hồ nước thiên nhiên đầy sen gần Hi-mã-lạp, ông thấy đức Phật Padumuttara đi lại không xa hồ. Ông ngắt hoa súng trắng mọc trong nước dâng đến bậc Đại Ẩn Sĩ, và Ngài biết ý ông nên đã thọ nhận. Nhờ nhân lành ấy, trong một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Varuṇa. Bài này kết thúc phẩm Bandhujīvaka với kệ tóm lược mười trưởng lão, năm mươi sáu câu kệ.163Ký sự về trưởng lão Supāricariya
THA-AP163 · 29 đoạnTrưởng lão Supāricariya kể: đức Phật Paduma rời khỏi rừng lớn và thuyết giảng Giáo Pháp; các Dạ-xoa hội họp không xa bậc Đại Ẩn Sĩ để lắng nghe. Nhận biết lời Phật và bài giảng về cảnh giới Bất Tử, ông với tâm tịnh tín và ý vui mừng đã vỗ tay và phục vụ Ngài. Ông kêu gọi hãy nhìn quả của việc phục vụ bậc Đạo Sư: trong ba mươi ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Samalaṅkata, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.164Ký sự về trưởng lão Kaṇaverapupphiya
THA-AP164 · 28 đoạnTrưởng lão Kaṇaverapupphiya kể: đức Phật Siddhattha dẫn đầu các vị Thinh Văn bước đi trong thành phố. Ông — người canh gác hậu cung của đức vua — tiến đến gần lâu đài, thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian, cầm bông hoa kaṇavera rắc lên hội chúng Tỷ-kheo, rồi rắc riêng lên đức Phật nhiều lần, và sau đó còn rắc nhiều hơn nữa. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường hoa ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Mahiddhika.165Ký sự về trưởng lão Khajjakadāyaka
THA-AP165 · 24 đoạnTrưởng lão Khajjakadāyaka kể vắn tắt: trước đây ông dâng cúng trái cây đến đức Thế Tôn Tissa, và dâng lên trái dừa được công nhận là vật ăn được. Dâng xong, ông vui mừng thỏa nguyện và được tái sinh theo như ước muốn. Kể từ chín mươi hai kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng trái cây ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Indasama, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.166Ký sự về trưởng lão Desapūjaka
THA-AP166 · 24 đoạnTrưởng lão Desapūjaka kể vắn tắt: đức Phật Atthadassī bay lên bầu trời và di chuyển bằng đường không trung. Ông, với tâm tịnh tín, tự tay cúng dường đến bất cứ khu vực nào mà bậc Đạo Sư đã đến và đứng lại. Kể từ một ngàn tám trăm kiếp trước — từ khi ông nhìn thấy bậc Đại Hiền Trí — nhờ quả của việc cúng dường khu vực ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Gosujāta, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.167Ký sự về trưởng lão Kaṇikāracchadaniya
THA-AP167 · 24 đoạnTrưởng lão Kaṇikāracchadaniya kể vắn tắt: đức Phật Vessabhū vào sâu rừng lớn để nghỉ ngơi giữa ngày. Ông thu nhặt hoa kaṇikāra, làm chiếc lọng che bằng hoa và dâng lên Ngài. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Soṇṇābha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.168Ký sự về trưởng lão Sappidāyaka
THA-AP168 · 24 đoạnTrưởng lão Sappidāyaka kể vắn tắt: đức Phật Phussa — đấng Anh Hùng đang làm cho đám đông được mát mẻ giải thoát — đi khất thực trên đường và theo tuần tự đến gần chỗ ông. Ông nhận lấy bình bát của Ngài và dâng cúng bơ lỏng cùng dầu ăn. Kể từ chín mươi hai kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng bơ lỏng ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Samodaka, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.169Ký sự về trưởng lão Yūthikāpupphiya
THA-AP169 · 24 đoạnTrưởng lão Yūthikāpupphiya kể vắn tắt: đi xuôi dòng ở bờ sông Candabhāgā, ông thấy đấng Tự Chủ rực như cây sālā chúa đã trổ hoa. Ông cầm bông hoa yūthika đến gần bậc Đại Hiền Trí và dâng lên đức Phật với tâm tịnh tín, ý vui mừng. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Samuddhara, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.170Ký sự về trưởng lão Dussadāyaka
THA-AP170 · 28 đoạnTrưởng lão Dussadāyaka kể: là con trai của đức vua ở thành Tivarā, ông nhận được tặng phẩm là tấm vải và dâng cúng đến đức Phật Siddhattha. Ngài chấp thuận, dùng tay sờ vào tấm vải rồi bay lên bầu trời; các tấm vải bay theo sau Ngài, và ông làm tâm mình tịnh tín. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng tấm vải ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Parisuddha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.171Ký sự về trưởng lão Samādapaka
THA-AP171 · 28 đoạnTrưởng lão Samādapaka kể: ở thành Bandhumatī, ông là người ưu tú trong hội chúng cư sĩ đông đảo, và mọi người là cộng sự của ông. Ông tụ tập tất cả lại, khuyến khích làm việc phước: cùng làm tràng hoa dâng đến Tăng chúng — phước điền tối thượng; mọi người đáp “Tốt lắm”, hoàn tất tràng hoa và dâng đến đức Phật Vipassī. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Ādeyya, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.172Ký sự về trưởng lão Pañcaṅguliya
THA-AP172 · 32 đoạnTrưởng lão Pañcaṅguliya kể vắn tắt: đức Phật Tissa đang đi vào hương thất; ông cầm tràng hoa thơm đến gần đấng Chiến Thắng và, để không làm ồn đến đấng Toàn Giác, lặng lẽ dâng cúng một nhúm hoa bằng năm ngón tay. Kể từ chín mươi hai kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Sayampabha. Bài này kết thúc phẩm Supāricariya với kệ tóm lược mười trưởng lão, năm mươi bốn câu kệ.173Ký sự về trưởng lão Kumudamāliya
THA-AP173 · 37 đoạnTrưởng lão Kumudamāliya kể: ở núi Hi-mã-lạp có hồ nước thiên nhiên rộng lớn, và ông khi ấy là loài quỷ sứ sinh ra tại đó, dáng vẻ rùng rợn, sức mạnh lớn lao. Hoa súng trắng to bằng bánh xe trổ hoa quanh hồ; ông thu nhặt hoa ấy thì đức Phật Atthadassī thấy hoa đã gom lại và đến gần chỗ ông. Ông cầm lấy tất cả hoa dâng lên Ngài, và hoa che mát cho hội chúng trải dài đến tận cùng Hi-mã-lạp. Kể từ một ngàn tám trăm kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Sahassaratha.174Ký sự về trưởng lão Nisseṇidāyaka
THA-AP174 · 20 đoạnTrưởng lão Nisseṇidāyaka kể vắn tắt: ông đã cho làm cầu thang để bước lên tòa lâu đài của đức Phật Koṇḍañña. Nhờ sự tịnh tín ấy trong tâm, sau khi thọ hưởng sự thành đạt, nay ông mang thân cuối cùng trong Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác. Ba mươi mốt ngàn kiếp trước, ông từng làm Chuyển Luân Vương tên Sambahula, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.175Ký sự về trưởng lão Rattipupphiya
THA-AP175 · 24 đoạnTrưởng lão Rattipupphiya kể vắn tắt: trước đây ông là thợ săn thú rừng trong rừng hoang rậm, và ông đã nhìn thấy đức Phật Vipassī. Thấy cây rattika nở hoa ban đêm đã trổ hoa, ông hái bông hoa luôn cả cuống và dâng đến bậc Đại Ẩn Sĩ. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng bông hoa ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm vua Suppasanna, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.176Ký sự về trưởng lão Udapānadāyaka
THA-AP176 · 16 đoạnTrưởng lão Udapānadāyaka kể vắn tắt: ông đã làm một cái giếng dành cho đức Phật Vipassī; khi ấy, sau khi dâng cúng đồ ăn khất thực, ông dâng cả cái giếng đến Ngài. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước — từ khi ông làm việc ấy — nhờ quả của cái giếng, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.177Ký sự về trưởng lão Sīhāsanadāyaka
THA-AP177 · 24 đoạnTrưởng lão Sīhāsanadāyaka kể vắn tắt: khi đức Phật Padumuttara đã nhập Niết-bàn, ông với tâm tịnh tín và ý vui mừng đã dâng cúng bảo tọa sư tử. Tại nơi ấy, sau lễ cúng dường với nhiều vật thơm và tràng hoa đến Ngài, ông đảnh lễ cội Bồ Đề tối thượng; trong một trăm ngàn kiếp ông không đi đến khổ cảnh, và mười lăm ngàn kiếp trước ông từng làm Chuyển Luân Vương tên Siluccaya. Ngày nay ông đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.178Ký sự về trưởng lão Maggadattika
THA-AP178 · 20 đoạnTrưởng lão Maggadattika kể vắn tắt: đức Phật Anomadassī đi kinh hành ở ngoài trời để được thoải mái trong đời hiện tại. Ông với tâm tịnh tín và ý vui mừng đã đảnh lễ và rắc bông hoa lên (đường Ngài đi); các bông hoa rơi ở bàn chân được giở lên và ở trên đỉnh đầu. Hai mươi ngàn kiếp trước, ông từng làm Chuyển Luân Vương tên Pupphacchadaniya, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.179Ký sự về trưởng lão Ekadīpiya
THA-AP179 · 21 đoạnTrưởng lão Ekadīpiya kể vắn tắt: với tâm tịnh tín và ý vui mừng, ông đã dâng cúng một ngọn đèn ở cây sa-la là cội Bồ Đề tối thượng của bậc Hiền Trí Padumuttara. Trong mọi kiếp sinh lên cõi hữu, phước báu tích lũy sinh theo ông, và ông không còn biết khổ cảnh — đó là quả của việc cúng dường ngọn đèn. Mười sáu ngàn kiếp trước, ông từng làm Chuyển Luân Vương tên Candābha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.180Ký sự về trưởng lão Maṇipūjaka
THA-AP180 · 24 đoạnTrưởng lão Maṇipūjaka kể vắn tắt: một con sông nhỏ phát xuất từ phía dưới núi Hi-mã-lạp, và bậc Tự Chủ cư ngụ ở phần đất cạnh bờ sông. Ông cầm chiếc ghế bành làm bằng ngọc ma-ni xinh xắn đáng yêu và dâng lên Ngài với tâm tịnh tín, ý vui mừng. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Sataraṁsi, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.181Ký sự về trưởng lão Tikicchaka
THA-AP181 · 28 đoạnTrưởng lão Tikicchaka kể vắn tắt: ở thành Bandhumatī, ông là thầy thuốc được học hành khéo léo, đem lại an lạc cho các bệnh nhân. Thấy vị Sa-môn Asoka — người hầu cận của đức Phật Vipassī — có giới hạnh, vô cùng sáng suốt, đang lâm bệnh, ông dâng cúng thuốc chữa bệnh với tâm tịnh tín; nhờ thế vị ấy lành bệnh. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của thuốc chữa bệnh ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Sabbosadha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.182Ký sự về trưởng lão Saṅghupaṭṭhāka
THA-AP182 · 28 đoạnTrưởng lão Saṅghupaṭṭhāka kể vắn tắt: vào thời đức Phật Vessabhū, ông là người phụ việc tu viện, và với tâm tịnh tín, ý vui mừng, ông đã phục vụ Tăng chúng tối thượng. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc phục vụ ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Samodaka. Bài này kết thúc phẩm Kumuda với kệ tóm lược mười trưởng lão, bốn mươi chín câu kệ.183Ký sự về trưởng lão Kuṭajapupphiya
THA-AP183 · 25 đoạnTrưởng lão Kuṭajapupphiya kể vắn tắt: ông nhìn thấy đấng Toàn Giác Phussa có màu da vàng chói như mặt trời mọc, đang quan sát phương hướng trong lúc di chuyển ở không trung. Thấy cây kuṭaja đã trổ hoa, tán xòe ngang dọc, ông ngắt hoa từ trên cây và dâng lên Ngài. Kể từ chín mươi hai kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Pupphita, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.184Ký sự về trưởng lão Bandhujīvaka
THA-AP184 · 28 đoạnTrưởng lão Bandhujīvaka kể vắn tắt: đức Phật Siddhattha — bậc Tự Chủ được các bậc đức hạnh ca ngợi — thành tựu thiền định và ngồi trong vùng đồi núi. Ông đang tìm bông hoa tối thượng mọc trong nước tại hồ thiên nhiên thì thấy các bông hoa bandhujīvaka ở gần bên; ông nâng hoa bằng cả hai tay, đến gần bậc Đại Hiền Trí và dâng lên Ngài với tâm tịnh tín. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Samuddakappa, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.185Ký sự về trưởng lão Koṭumbariya
THA-AP185 · 28 đoạnTrưởng lão Koṭumbariya kể vắn tắt: ông nhìn thấy đức Phật Sikhī ngồi trong vùng đồi núi, rực như cây kaṇikāra đang cháy sáng, như biển cả không đo lường được; Ngài được hội chúng chư thiên tôn vinh như bò mộng thuần chủng. Ông mừng rỡ đến gần bậc tối thượng, lấy ra bảy bông hoa đã được che phủ bằng tấm vải mịn và dâng lên Ngài. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Mahānela, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.186Ký sự về trưởng lão Pañcahatthiya
THA-AP186 · 28 đoạnTrưởng lão Pañcahatthiya kể vắn tắt: đức Phật Tissa được các vị Thinh Văn tháp tùng, bước đi trên đường lộ. Ông đã cất giữ năm bó hoa sen và bốn bó nữa; có ý định dâng vật hiến cúng để thành tựu công đức, ông cầm các bông hoa lên. Khi đấng Toàn Giác đi ở khu phố chợ, được hào quang của Ngài chiếu rọi, ông cúng dường bông hoa đến Ngài. Kể từ chín mươi hai kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Usabha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.187Ký sự về trưởng lão Isimuggadāyaka
THA-AP187 · 28 đoạnTrưởng lão Isimuggadāyaka kể vắn tắt: ông nhìn thấy đấng lãnh đạo Padumuttara rực như mặt trời đang mọc. Ông nghiền các hạt đậu tây (isimugga) trong mật viên tinh khiết, đứng ngay tại tòa lâu đài và dâng cúng đến Ngài; món ấy làm đầy bình bát của tám trăm ngàn vị Thinh Văn mà vẫn còn dư. Nhờ sự tịnh tín ấy, trong một trăm ngàn kiếp ông không bị đọa vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương tên Isimugga, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.188Ký sự về trưởng lão Bodhi-upaṭṭhāka
THA-AP188 · 20 đoạnTrưởng lão Bodhiupaṭṭhāka kể vắn tắt: ở thành Rammavatī, ông là người đánh trống con, thường xuyên bận rộn với việc phục vụ và đã đến cội Bồ Đề tối thượng. Ông phục vụ sáng chiều, được thúc đẩy bởi nhân lành trong sạch; trong một ngàn tám trăm kiếp ông không bị đọa vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Muraja, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.189Ký sự về trưởng lão Ekacintika
THA-AP189 · 52 đoạnTrưởng lão Ekacintika kể một bài kệ dài đặc biệt: khi một vị thiên nhân mệnh chung do hết tuổi thọ, chư thiên tùy hỷ tiễn bằng ba lời chúc — hãy sinh làm người, đạt niềm tin tối thượng vào Chánh Pháp, và niềm tin ấy bén rễ vững vàng suốt đời; hãy làm việc thiện bằng thân, khẩu, ý, bố thí nhiều, và hướng dẫn người khác vào Chánh Pháp, Phạm hạnh. Nghe lời tiễn ấy, ông chấn động tự hỏi mình sẽ sinh vào loài nào; vị Thinh Văn Sumana của đức Phật Padumuttara đến chỉ dạy ý nghĩa và Giáo Pháp, ông làm tâm tịnh tín nơi đức Phật, đảnh lễ vị ấy rồi qua đời, được sinh lại chính nơi ấy và trong 100.000 kiếp không đọa vào khổ cảnh.190Ký sự về trưởng lão Tikaṇṇipupphiya
THA-AP190 · 24 đoạnTrưởng lão Tikaṇṇipupphiya kể vắn tắt: khi là vị thiên nhân được các tiên nữ trọng vọng, ông nhớ lại nghiệp quá khứ và nhớ đến đức Phật tối thượng. Ông lấy bông hoa tikaṇṇi, làm tâm mình tịnh tín và dâng lên đức Phật Vipassī. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Ramuttama, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.191Ký sự về trưởng lão Ekacāriya
THA-AP191 · 28 đoạnTrưởng lão Ekacāriya kể: ở cõi trời Đạo Lợi có tiếng ồn ào: “Đức Phật nhập Niết-bàn ở thế gian, và chúng ta vẫn còn tham ái.” Chư thiên chấn động, bị mũi tên sầu muộn chiếm ngự; riêng ông, được nâng đỡ bằng sức mình, đi đến gần bên đức Phật, cầm bông hoa mandārava đã được hóa hiện và dâng lên Ngài vào thời điểm viên tịch. Tất cả chư thiên và tiên nữ tùy hỷ với ông; trong một trăm ngàn kiếp ông không đọa vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Mahāmallajana, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.192Ký sự về trưởng lão Tivaṇṭipupphiya
THA-AP192 · 36 đoạnTrưởng lão Tivaṇṭipupphiya kể: các vị (thiên) bị phiền não chế ngự cùng nhau đến gặp ông và tham thiền, nhưng trong lúc thiền họ khởi lên sự bực bội. Vị Thinh Văn Sunanda của đức Phật Dhammadassī đến gặp ông; những người gắn bó với ông dâng hoa đến ông, ông cầm hoa ấy dâng lên vị Thinh Văn. Ông qua đời và tái sinh lại tại nơi ấy; trong một ngàn tám trăm kiếp ông không đi đến đọa xứ, từng làm Chuyển Luân Vương Dhūmaketu. Bài này kết thúc phẩm Kuṭajapupphiya với kệ tóm lược mười trưởng lão, sáu mươi hai câu kệ.193Ký sự về trưởng lão Tamālapupphiya
THA-AP193 · 25 đoạnTrưởng lão Tamālapupphiya kể vắn tắt: tòa lâu đài của ông ở cõi trời có tám mươi bốn ngàn cột trụ bằng vàng, khéo được hóa hiện như cây như ý của chư thiên. Với tâm ý trong sạch, ông cầm bông hoa tamāla và dâng lên đức Phật Sikhī. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Candatitta, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.194Ký sự về trưởng lão Tiṇasantharadāyaka
THA-AP194 · 28 đoạnTrưởng lão Tiṇasantharadāyaka kể vắn tắt: cỏ mà vị ẩn sĩ trong rừng cắt cho bậc Đạo Sư đều ngã xuống mặt đất nghiêng về phía phải. Ông cầm cỏ ấy trải ra ở phần cao nhất của mặt đất, mang lại ba lá thốt nốt, làm mái che bằng cỏ và dâng cúng đến đức Phật Siddhattha; chư thiên và nhân loại duy trì mái che ấy cho Ngài trong bảy ngày. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng cỏ, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Mahaddhana, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.195Ký sự về trưởng lão Khaṇḍaphulliya
THA-AP195 · 24 đoạnTrưởng lão Khaṇḍaphulliya kể vắn tắt: ngôi bảo tháp của đức Phật Phussa trong rừng lớn đã bị voi phá sập, cây cối mọc lên ở nơi ấy. Ông — vui lòng với các đức hạnh của bậc Thầy của ba cõi — san bằng chỗ lồi lõm và dâng cúng khối vôi bột (để tu sửa). Kể từ chín mươi hai kiếp trước, nhờ quả của khối vôi bột ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Jitasena, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.196Ký sự về trưởng lão Asokapūjaka
THA-AP196 · 28 đoạnTrưởng lão Asokapūjaka kể vắn tắt: ở thành Tīvarā có khu vườn thượng uyển, và ông là người giữ vườn, gắn bó với đức vua. Đức Phật Paduma (Padumuttara), vị có hào quang, ngồi nơi cây sen trắng và bóng râm không rời khỏi Ngài. Thấy cây asoka đã trổ hoa nặng trĩu từng chùm, ông dâng lên Ngài. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Araṇañjaha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.197Ký sự về trưởng lão Aṅkolaka
THA-AP197 · 24 đoạnTrưởng lão Aṅkolaka kể vắn tắt: thấy cây aṅkola với chùm hoa cao quý có lớp vỏ bọc đã trổ hoa, ông hái hoa ấy và đi đến gặp đức Phật. Vào thời điểm ấy, bậc Đại Hiền Trí Siddhattha đang ẩn cư; ông bày tỏ sự tôn kính trong chốc lát rồi rắc bông hoa ở nơi hang động. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Devagajjita, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.198Ký sự về trưởng lão Kisalayapūjaka
THA-AP198 · 32 đoạnTrưởng lão Kisalayapūjaka kể vắn tắt: ông có một vườn hoa ở thành Dvāravatī, với giếng nước tưới cây ngay tại nơi ấy. Đức Phật Siddhattha, có lòng thương tưởng đến ông, đi đến ở trên không trung; ông không thấy vật nào khác đáng cúng dường, nên thấy chồi non asoka thì thảy lên không trung — và các chồi non ấy bay theo sau Ngài khi Ngài di chuyển, khiến ông tán dương tính chất cao thượng của đức Phật. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Ekissara, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.199Ký sự về trưởng lão Tindukadāyaka
THA-AP199 · 32 đoạnTrưởng lão Tindukadāyaka kể: ông khi ấy là con khỉ có sức mạnh và nhanh nhẹn, thường lai vãng nơi hiểm trở của núi; thấy cây tinduka có trái, ông tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng. Ông lìa chỗ ngụ vài ngày với tâm tịnh tín để tìm gặp đấng lãnh đạo thế gian Siddhattha; bậc Đạo Sư biết ý định của ông nên cùng một ngàn bậc Vô Lậu đến gần ông. Ông hưng phấn đến gần với trái cây ở tay, và đức Phật đã thọ nhận. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Upananda, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.200Ký sự về trưởng lão Muṭṭhipūjaka
THA-AP200 · 24 đoạnTrưởng lão Muṭṭhipūjaka kể vắn tắt: vì lòng thương tưởng hậu thế, đức Phật Sumedha đã ra sức nỗ lực tu tập. Khi Ngài đang đi kinh hành, ông dâng lên Ngài một nắm tay gồm những bông hoa girinela. Nhờ sự tịnh tín ấy trong tâm, được thúc đẩy bởi nhân lành trong sạch, trong ba mươi ngàn kiếp ông không bị đọa vào khổ cảnh, từng là vị Sát-đế-lỵ Sunela đầy đủ bảy báu vật, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.201Ký sự về trưởng lão Kiṅkaṇipupphiya
THA-AP201 · 28 đoạnTrưởng lão Kiṅkaṇipupphiya kể vắn tắt: đức Phật Sumaṅgala rời rừng lớn vào thành khất thực, rồi lìa thành trở về cư ngụ trong rừng. Ông cầm bông hoa kiṅkaṇi với tâm tịnh tín, ý vui mừng, dâng lên Ngài — đấng Tự Chủ, bậc Đại Ẩn Sĩ. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Apilāsi, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.202Ký sự về trưởng lão Yūthikāpupphiya
THA-AP202 · 43 đoạnTrưởng lão Yūthikāpupphiya kể vắn tắt: đức Phật Padumuttara rời rừng lớn và đi đến trú xá; ông cầm bông hoa yūthika tối thượng bằng cả hai tay và dâng lên Ngài, bậc có tâm từ ái. Nhờ sự tịnh tín ấy, ông thọ hưởng sự thành tựu và trong một trăm ngàn kiếp không bị sinh vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Samittanandana. Bài này kết thúc phẩm Tamālapupphiya — phẩm thứ hai mươi — kèm phần tóm lược các phẩm của nhóm một trăm thứ hai: mười phẩm, sáu trăm sáu mươi sáu câu kệ.203Ký sự về trưởng lão Kaṇikārapupphiya
THA-AP203 · 21 đoạnTrưởng lão Kaṇikārapupphiya kể vắn tắt: thấy cây kaṇikāra đã trổ hoa, ông hái xuống bông hoa và dâng lên đức Phật Tissa, bậc đã vượt qua dòng lũ. Kể từ chín mươi hai kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương nổi danh tên Aruṇapāṇi, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.204Ký sự về trưởng lão Minelapupphiya
THA-AP204 · 24 đoạnTrưởng lão Minelapupphiya kể vắn tắt: đức Phật Sikhī có màu da vàng chói, trăm ánh hào quang và tâm từ ái, bước lên con đường kinh hành. Ông với tâm tịnh tín, ý vui mừng, đảnh lễ bậc có trí tuệ tối thượng rồi cầm bông hoa minela dâng lên Ngài. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.205Ký sự về trưởng lão Kiṅkiṇikapupphiya
THA-AP205 · 24 đoạnTrưởng lão Kiṅkiṇikapupphiya kể vắn tắt: đấng lãnh đạo thế gian sáng chói như cột trụ bằng vàng lội xuống hồ nước lạnh và tắm. Ông cầm bông hoa kiṅkiṇi với tâm phấn chấn, ý vui mừng, dâng lên đức Phật Vipassī. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Bhīmaratha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.206Ký sự về trưởng lão Taraṇiya
THA-AP206 · 28 đoạnTrưởng lão Taraṇiya kể: đức Phật Atthadassī dẫn đầu các bậc Thinh Văn đến bờ sông Gaṅgā; sông tràn nước đến mé bờ, khó vượt qua. Ông đã đưa đức Phật cùng hội chúng Tỷ-kheo sang sông. Kể từ một ngàn tám trăm kiếp trước, nhờ quả của việc đưa sang sông ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Sabbhogavā; và trong kiếp cuối cùng này ông sinh vào gia tộc Bà-la-môn, cùng ba người bạn xuất gia trong Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.207Ký sự về trưởng lão Nigguṇḍipupphiya
THA-AP207 · 20 đoạnTrưởng lão Nigguṇḍipupphiya kể vắn tắt: ông là người phụ việc tu viện của đức Phật Vipassī; ông cầm bông hoa nigguṇḍi và dâng lên Ngài. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Mahāpatāpa, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.208Ký sự về trưởng lão Udakadāyaka
THA-AP208 · 24 đoạnTrưởng lão Udakadāyaka kể vắn tắt: thấy vị Sa-môn có tâm ý thanh tịnh, không chộn rộn, đang thọ thực, ông cầm bình nước và dâng cúng đến đức Phật Siddhattha. Giờ đây ông không còn bợn nhơ, xa lìa ô nhiễm, hoài nghi đã đoạn tận; trong các kiếp sinh lên cõi hữu, quả báu tốt đẹp phát sinh đến ông. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng nước ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Vimala, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.209Ký sự về trưởng lão Salalamāliya
THA-AP209 · 24 đoạnTrưởng lão Salalamāliya kể vắn tắt: ông nhìn thấy bậc điều phục loài người Siddhattha ngồi trong vùng đồi núi, chói sáng như cây kaṇikāra, làm tất cả các phương rực sáng. Không do dự, ông dùng cây cung, giương mũi tên, cắt đứt bông hoa salala luôn cả cuống và dâng lên đức Phật. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Jutindhara, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.210Ký sự về trưởng lão Koraṇḍapupphiya
THA-AP210 · 24 đoạnTrưởng lão Koraṇḍapupphiya kể vắn tắt: đi theo sau từng bước chân của bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī, ông nhìn thấy bàn chân Ngài được điểm tô dấu hiệu hình bánh xe. Thấy cây koraṇḍa đã trổ hoa, ông cúng dường bông hoa ở dấu chân Ngài và mừng rỡ đảnh lễ dấu chân tối thượng. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường dấu chân ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Vītamala, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.211Ký sự về trưởng lão Ādhāradāyaka
THA-AP211 · 20 đoạnTrưởng lão Ādhāradāyaka kể vắn tắt: chân đế bình bát đã được ông cúng dường đến đức Phật Sikhī, và ông được cai quản toàn bộ trái đất cùng tất cả tài nguyên. Nay các phiền não của ông đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch; ông mang thân cuối cùng trong Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác. Hai mươi bảy kiếp trước, ông từng làm Chuyển Luân Vương Samantavaraṇa, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.212Ký sự về trưởng lão Vātātapanivāriya
THA-AP212 · 36 đoạnTrưởng lão Vātātapanivāriya kể: ông đã cúng dường một chiếc lọng đến đức Phật Tissa với tâm ý trong sạch. Nhờ đó điều ác xấu của ông được chặn đứng, điều thiện được thành tựu, và chư thiên nắm giữ chiếc lọng ở không trung che cho ông — quả của nghiệp quá khứ. Đây là vòng luân hồi cuối cùng của ông: các hữu đã xóa sạch, ông mang thân cuối cùng trong Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác. Bài này kết thúc phẩm Kaṇikārapupphiya với kệ tóm lược mười trưởng lão, bốn mươi tám câu kệ.213Ký sự về trưởng lão Hatthidāyaka
THA-AP213 · 25 đoạnTrưởng lão Hatthidāyaka kể vắn tắt: con voi hạng nhất có ngà dài như gọng xe, vững chãi, đã được ông dâng cúng đến đức Phật Siddhattha. Ông thọ hưởng mục đích tối thượng là trạng thái an tịnh vô thượng — vật thí ấy dâng đến vị tầm cầu lợi ích cho tất cả thế gian. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Samantapāsādika, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.214Ký sự về trưởng lão Pānadhidāyaka
THA-AP214 · 24 đoạnTrưởng lão Pānadhidāyaka kể vắn tắt: ông đã dâng cúng đôi dép đến vị ẩn sĩ già cả sống ở rừng, có sự khổ hạnh dài lâu và nội tâm đã được tu tập. Nhờ việc làm ấy, ông thọ hưởng mọi phương tiện di chuyển của chư thiên — quả của nghiệp quá khứ. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Suyāna, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.215Ký sự về trưởng lão Saccasaññaka
THA-AP215 · 28 đoạnTrưởng lão Saccasaññaka kể vắn tắt: đức Phật Vessabhū đứng đầu hội chúng Tỷ-kheo, thuyết giảng về các Thánh Đế trong lúc làm cho đám đông được mát mẻ, giải thoát. Ông — người thành tựu lòng bi mẫn cao tột — đến cuộc hội họp, ngồi xuống an tịnh và lắng nghe Giáo Pháp của bậc Đạo Sư; nghe xong, ông đi đến cõi trời và cư ngụ giữa chư thiên ba mươi kiếp. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc suy tưởng về Chân Lý ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Ekaphusita, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.216Ký sự về trưởng lão Ekasaññaka
THA-AP216 · 20 đoạnTrưởng lão Ekasaññaka kể vắn tắt: thấy tấm y may từ vải bị quăng bỏ (y phấn tảo) của bậc Đạo Sư treo ở ngọn cây, ông chắp tay lên và đảnh lễ tấm y ấy — đó là một sự suy tưởng, một lần hướng tâm duy nhất của ông. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Amitābha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.217Ký sự về trưởng lão Raṁsisaññaka
THA-AP217 · 28 đoạnTrưởng lão Raṁsisaññaka kể vắn tắt: ông nhìn thấy đức Phật như mặt trời đang mọc lên, chói sáng trong vùng đồi núi, và ông làm tâm mình tịnh tín nơi ánh hào quang của Ngài — nhờ đó ông vui sướng ở cõi trời một kiếp. Trong các kiếp còn lại, nhờ sự tịnh tín ấy và nhờ niệm tưởng đến đức Phật, việc thiện được ông làm tốt đẹp. Kể từ ba mươi ngàn kiếp trước, nhờ quả của việc suy tưởng về đức Phật ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Sujāta, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.218Ký sự về trưởng lão Saṇṭhita
THA-AP218 · 20 đoạnTrưởng lão Saṇṭhita kể vắn tắt: ở cội cây Assattha đã phát triển, có ánh sáng màu xanh lục, với niệm đầy đủ, ông đạt được một sự suy tưởng hướng đến đức Phật. Nhờ sức của sự suy tưởng ấy — đạt được từ ba mươi mốt kiếp trước — ông đã đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Mười ba kiếp trước, ông từng làm Chuyển Luân Vương Dhaniṭṭha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.219Ký sự về trưởng lão Tālavaṇṭadāyaka
THA-AP219 · 28 đoạnTrưởng lão Tālavaṇṭadāyaka kể: chiếc quạt lá cọ đã được ông dâng cúng đến đức Phật Tissa nhằm dập tắt sự nóng nực và làm lắng dịu sự bực bội. Nhờ đó, nay ông tự dập tắt được ngọn lửa tham ái, ngọn lửa sân hận và ngọn lửa si mê; các phiền não đã được thiêu đốt, các hữu đã xóa sạch, ông mang thân cuối cùng trong Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác. Chín mươi hai kiếp trước là gốc của việc làm ấy; ông từng làm Chuyển Luân Vương Mahānāma, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.220Ký sự về trưởng lão Akkantasaññaka
THA-AP220 · 32 đoạnTrưởng lão Akkantasaññaka kể: cầm tấm vải choàng thô xấu, ông đến nhà vị thầy tế độ để học chú thuật bẻ gãy mũi tên, và ông nhìn thấy đức Phật Tissa — bậc vô nhiễm, tối thượng của hội chúng. Khi tấm vải choàng được trải ra, Ngài bước đi và đặt chân lên tấm vải; ông thấy đấng quang đăng của thế gian như mặt trăng không bợn nhơ, liền đảnh lễ ở bàn chân bậc Đạo Sư với tâm ý trong sạch. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của tấm vải choàng ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Sunanda, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.221Ký sự về trưởng lão Sappidāyaka
THA-AP221 · 32 đoạnTrưởng lão Sappidāyaka (vị thứ hai mang tên này) kể: ngồi ở nơi cao quý của tòa lâu đài, được đám phụ nữ trọng vọng, ông nhìn thấy vị Sa-môn — bậc Đại Hùng Siddhattha — bị lâm bệnh và thỉnh Ngài vào nhà. Ông dâng cúng bơ lỏng và dầu ăn; thấy sự mệt nhọc của Ngài lắng xuống, khuôn mặt và các căn rạng rỡ, ông đảnh lễ dưới chân Ngài và ngợi ca; bậc Trí Tuệ bay lên không trung như chim thiên nga chúa. Kể từ 94 kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Jutideva, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.222Ký sự về trưởng lão Pāpanivāriya
THA-AP222 · 28 đoạnTrưởng lão Pāpanivāriya kể vắn tắt: con đường kinh hành của đức Phật Piyadassī đã được ông làm sạch sẽ, che bằng sậy để ngăn gió và sức nóng. Ông nỗ lực trong Giáo Pháp của bậc Đạo Sư nhằm lánh xa điều ác, thành tựu việc thiện và dứt bỏ các ô nhiễm. Mười một kiếp trước, ông từng làm Chuyển Luân Vương Aggideva, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí. Bài này kết thúc phẩm Hatthi với kệ tóm lược mười trưởng lão, năm mươi bốn câu kệ.223Ký sự về trưởng lão Ālambaṇadāyaka
THA-AP223 · 25 đoạnTrưởng lão Ālambaṇadāyaka kể vắn tắt: vật tựa lưng đã được ông dâng cúng đến đức Phật Atthadassī, và ông được cai quản trái đất bao la bao gồm biển cả, thực hiện quyền lãnh đạo đối với các sinh mạng trên trái đất. Nay các phiền não của ông đã thiêu đốt, các hữu đã xóa sạch, ba minh đã thành tựu. Sáu mươi hai kiếp trước, ông từng làm Chuyển Luân Vương Ekāpassita, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.224Ký sự về trưởng lão Ajinadāyaka
THA-AP224 · 28 đoạnTrưởng lão Ajinadāyaka kể vắn tắt: ba mươi mốt kiếp trước, ông là bậc thầy của đám đông; ông nhìn thấy đức Phật vô nhiễm, bậc thọ nhận các vật hiến cúng, và dâng cúng mảnh da thú (tấm da dê) đến đức Phật Sikhī. Nhờ việc làm ấy, ông thọ hưởng sự thành tựu, thiêu đốt các phiền não và mang thân cuối cùng trong Giáo Pháp của đấng Chánh Đẳng Giác. Ông từng làm Chuyển Luân Vương Sudāyaka, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.225Ký sự về trưởng lão Dvirataniya
THA-AP225 · 33 đoạnTrưởng lão Dvirataniya kể: trước đây ông là thợ săn thú rừng trong rừng hoang rậm; ông nhìn thấy đức Phật Vipassī vô nhiễm và dâng cúng Ngài một lát thịt. Nhờ lát thịt ấy, ông được làm chúa tể ở thế gian luôn cả chư thiên, châu báu sinh lên cho ông — hai loại châu báu đưa đến sự thành tựu của đời hiện tại; thân thể ông mềm mại, trí tuệ có sự nhận biết vi tế. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Mahārohita, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.226Ký sự về trưởng lão Ārakkhadāyaka
THA-AP226 · 24 đoạnTrưởng lão Ārakkhadāyaka kể vắn tắt: ông đã cho làm vòng rào chắn cho đức Phật Siddhattha và dâng cúng sự bảo vệ đến đấng Thiện Thệ. Nhờ tính chất đặc biệt của nghiệp ấy, ông không còn thấy kinh hoàng sợ hãi; sinh lên ở bất cứ đâu, sự run sợ của ông không hề có. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của vòng rào chắn ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Apassena, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.227Ký sự về trưởng lão Avyādhika
THA-AP227 · 24 đoạnTrưởng lão Avyādhika kể vắn tắt: ông đã dâng cúng gian nhà sưởi ấm đến đức Phật Vipassī, và dành chỗ trú ngụ cùng bình chứa nước nóng cho những người bị bệnh. Nhờ việc làm ấy, thân thể ông được tạo thành tốt đẹp và ông không còn biết đến bệnh tật. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Aparājita, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.228Ký sự về trưởng lão Aṅkolapupphiya
THA-AP228 · 24 đoạnTrưởng lão Aṅkolapupphiya kể vắn tắt: tên ông là Nārada, người đời biết ông là Kassapa. Ông nhìn thấy đức Phật Vipassī — vị đứng đầu trong các Sa-môn, được chư thiên tôn kính, có các tướng phụ tốt đẹp — và cầm bông hoa aṅkola dâng lên Ngài. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm vị Sát-đế-lỵ Romasa có binh lực và phương tiện xứng đáng, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.229Ký sự về trưởng lão Sovaṇṇavaṭaṁsakiya
THA-AP229 · 24 đoạnTrưởng lão Sovaṇṇavaṭaṁsakiya kể vắn tắt: khi đi ra khu vực vườn hoa, ông nhìn thấy đấng lãnh đạo thế gian; ông cầm vòng hoa đội đầu bằng vàng được chế tạo khéo léo, mau chóng leo xuống khỏi lưng voi và dâng lên đức Phật Sikhī. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Mahāpatāpa, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.230Ký sự về trưởng lão Miñjavaṭaṁsakiya
THA-AP230 · 20 đoạnTrưởng lão Miñjavaṭaṁsakiya kể vắn tắt: khi đấng bảo hộ thế gian Sikhī — bậc cao quý nhất trong các vị thuyết giảng — đã nhập Niết-bàn, ông đã cúng dường cội Bồ Đề bằng những vòng hoa đội đầu (bằng lõi cây) được xếp đặt khắp nơi. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường cội Bồ Đề ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Meghabbha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.231Ký sự về trưởng lão Sukatāveliya
THA-AP231 · 24 đoạnTrưởng lão Sukatāveliya kể vắn tắt: ông là người làm tràng hoa tên Asita; chọn lấy vòng hoa đội đầu, ông ra đi để dâng lên đức vua. Chưa gặp được đức vua, ông nhìn thấy đấng lãnh đạo Sikhī và mừng rỡ dâng vòng hoa lên đức Phật với tâm mừng rỡ. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả ấy ông không còn biết khổ cảnh, từng làm vua Chuyển Luân Vebhāra, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.232Ký sự về trưởng lão Ekavandiya
THA-AP232 · 28 đoạnTrưởng lão Ekavandiya kể vắn tắt: với tâm tịnh tín và ý vui mừng, ông đã đảnh lễ đức Phật Vessabhū — đấng Anh Hùng, bậc ưu tú cao quý trong các vị thắng trận — chỉ một lần đảnh lễ ấy thôi. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc đảnh lễ, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Vigatānanda, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí. Bài này kết thúc phẩm Ālambaṇadāyaka với kệ tóm lược mười trưởng lão, năm mươi lăm câu kệ.233Ký sự về trưởng lão Udakāsanadāyaka
THA-AP233 · 21 đoạnTrưởng lão Udakāsanadāyaka kể vắn tắt: ra khỏi cổng tu viện, ông trải tấm ván làm chỗ ngồi và phục vụ nước nhằm đạt đến mục đích tối thượng. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả ở việc bố thí chỗ ngồi và nước ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Abhisāma, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.234Ký sự về trưởng lão Bhājanadāyaka
THA-AP234 · 20 đoạnTrưởng lão Bhājanadāyaka kể vắn tắt: ở thành Bandhumatī, ông là người thợ làm gốm, và ông cung cấp bát đĩa đến hội chúng Tỷ-kheo. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng bát đĩa ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Anantajāli, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.235Ký sự về trưởng lão Sālapūpiya
THA-AP235 · 24 đoạnTrưởng lão Sālapūpiya kể vắn tắt: ông là người bán bánh ngọt ở thành Aruṇavatī; thấy đấng Chiến Thắng Sikhī đi ngang qua cửa nhà, ông nhận lấy bình bát của Ngài và dâng cúng bánh ngọt sālā với tâm ý trong sạch. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của bánh ngọt sālā ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Amitañjala, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.236Ký sự về trưởng lão Kilañjadāyaka
THA-AP236 · 24 đoạnTrưởng lão Kilañjadāyaka kể vắn tắt: ông là người thợ đan lát ở thành Tivarā; dân chúng nơi ấy tịnh tín nơi đức Phật Siddhattha và tìm kiếm chiếc chiếu để cúng dường đến Ngài. Ông dâng cúng chiếc chiếu của mình đến những người đang tiến hành việc cúng dường đức Phật. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của chiếc chiếu ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.237Ký sự về trưởng lão Vedikāraka
THA-AP237 · 20 đoạnTrưởng lão Vedikāraka kể vắn tắt: với tâm tịnh tín và ý vui mừng, ông đã cho làm vòng rào chắn ở cội cây Bồ Đề tối thượng của đức Phật Vipassī. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của vòng rào chắn ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Suriyassama, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.238Ký sự về trưởng lão Vaṇṇakāra
THA-AP238 · 20 đoạnTrưởng lão Vaṇṇakāra kể vắn tắt: ở thành Aruṇavatī, ông là người thợ nhuộm màu, và ông đã nhuộm các xấp vải thành nhiều màu sắc khác nhau cho ngôi bảo tháp. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng màu sắc ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.239Ký sự về trưởng lão Piyālapupphiya
THA-AP239 · 16 đoạnTrưởng lão Piyālapupphiya kể vắn tắt: trước đây ông là thợ săn thú rừng trong rừng hoang rậm; thấy cây piyāla đã trổ hoa, ông rắc bông hoa ở con đường đức Phật đã đi qua. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.240Ký sự về trưởng lão Ambayāgadāyaka
THA-AP240 · 16 đoạnTrưởng lão Ambayāgadāyaka kể vắn tắt: nương vào nghề nghiệp của mình, ông đi đến khu rừng rậm; thấy bậc Toàn Giác đang đi, ông dâng cúng vật thí là trái xoài. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc hiến dâng trái xoài ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.241Ký sự về trưởng lão Jagatikāraka
THA-AP241 · 16 đoạnTrưởng lão Jagatikāraka kể vắn tắt: khi đấng bảo hộ thế gian Atthadassī đã nhập Niết-bàn, ông đã điều hành việc bố trí (xây nền) ở ngôi bảo tháp tối thượng của đức Phật. Kể từ một ngàn tám trăm kiếp trước, nhờ quả của việc bố trí ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.242Ký sự về trưởng lão Vāsidāyaka
THA-AP242 · 24 đoạnTrưởng lão Vāsidāyaka kể vắn tắt: ông là người thợ rèn ở kinh thành Tivarā, và ông đã dâng cúng một lưỡi rìu đến đấng Tự Chủ, bậc không bị đánh bại. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng lưỡi rìu ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí. Bài này kết thúc phẩm Udakāsana với kệ tóm lược mười trưởng lão, ba mươi tám câu kệ.243Ký sự về trưởng lão Tuvaradāyaka
THA-AP243 · 17 đoạnTrưởng lão Tuvaradāyaka kể vắn tắt: ông là thợ săn thú trong khu rừng hoang rậm; mang theo hạt tuvara nướng, ông dâng cúng đến hội chúng. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của hạt tuvara nướng ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.244Ký sự về trưởng lão Nāgakesariya
THA-AP244 · 24 đoạnTrưởng lão Nāgakesariya kể vắn tắt: kiểm tra cẩn thận cây cung, ông đi sâu vào rừng và thấy đóa hoa sen có tua nhụy rủ xuống vươn lên. Cầm hoa bằng hai tay, chắp tay lên đầu, ông dâng lên đức Phật Tissa. Kể từ chín mươi hai kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, bảy lần làm Chuyển Luân Vương Kesara, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.245Ký sự về trưởng lão Naḷinakesariya
THA-AP245 · 24 đoạnTrưởng lão Naḷinakesariya kể rằng trong một kiếp ông là con gà nước sống ở giữa hồ nước thiên nhiên; thấy đức Phật Tissa đang đi ở trên không trung, ông dùng mỏ ngắt đóa hoa sen và dâng lên Ngài với tâm ý trong sạch. Kể từ chín mươi hai kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng nhiều kiếp làm Chuyển Luân Vương, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.246Ký sự về trưởng lão Viravipupphiya
THA-AP246 · 16 đoạnTrưởng lão Viravipupphiya kể vắn tắt: đấng lãnh đạo thế gian ra đi cùng với một ngàn vị có lậu hoặc đã được đoạn tận; ông cầm lấy bông hoa viravi và dâng lên đức Phật. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.247Ký sự về trưởng lão Kuṭidhūpaka
THA-AP247 · 16 đoạnTrưởng lão Kuṭidhūpaka kể vắn tắt: ông là người trông nom liêu cốc của đức Phật Siddhattha; được tịnh tín, ông tự tay xông hương vào lúc này lúc khác. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc xông hương ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.248Ký sự về trưởng lão Pattadāyaka
THA-AP248 · 16 đoạnTrưởng lão Pattadāyaka kể vắn tắt: với sự thuần thành tuyệt đối, ông đã dâng cúng bình bát đến bậc Đại Ẩn Sĩ Siddhattha, bậc có bản thể chính trực. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng bình bát ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.249Ký sự về trưởng lão Dhātupūjaka
THA-AP249 · 20 đoạnTrưởng lão Dhātupūjaka kể vắn tắt: khi đức Phật Siddhattha nhập Niết-bàn, ông nhận được một phần xá-lợi của Ngài, và trong năm năm ông chăm sóc phần xá-lợi ấy như chăm sóc chính bậc tối thượng đang còn tại tiền. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả ở sự hầu cận xá-lợi ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.250Ký sự về trưởng lão Sattalipupphapūjaka
THA-AP250 · 16 đoạnTrưởng lão Sattalipupphapūjaka kể vắn tắt: ông đặt bảy bông hoa sattali ở trên đầu rồi dâng lên đức Phật Vessabhū, bậc tối thượng trong loài người. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường bông hoa ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.251Ký sự về trưởng lão Bimbijāliya
THA-AP251 · 20 đoạnTrưởng lão Bimbijāliya kể vắn tắt: đấng Chiến Thắng Padumuttara công bố bốn Sự Thật và làm sáng tỏ vị thế Bất Tử; ông ngắt rời các bông hoa bimbijālika và dâng lên Ngài. Ông từng bốn kiếp làm Chuyển Luân Vương Kiñjakesara, không còn biết khổ cảnh từ hoa cúng ấy, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.252Ký sự về trưởng lão Uddāladāyaka
THA-AP252 · 28 đoạnTrưởng lão Uddāladāyaka kể vắn tắt: đấng Tự Chủ Kakudha rời khu rừng bao la đi đến gần con sông lớn; với tâm tịnh tín, ông cầm lấy bông hoa uddālaka và dâng cúng đến Ngài. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng bông hoa ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí. Bài này kết thúc phẩm Tuvaradāyaka với kệ tóm lược mười trưởng lão, ba mươi bảy câu kệ.253Ký sự về trưởng lão Thomaka
THA-AP253 · 21 đoạnTrưởng lão Thomaka kể vắn tắt: đang trú ở thế giới chư Thiên, nghe Giáo Pháp của đức Phật Vipassī, ông hoan hỷ và nói lên lời tán dương: kính lễ đấng Siêu Nhân, đấng Tối Thượng Nhân, bậc thuyết giảng vị thế Bất Tử và giúp nhiều người vượt qua. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc tán dương ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.254Ký sự về trưởng lão Ekāsanadāyaka
THA-AP254 · 20 đoạnTrưởng lão Ekāsanadāyaka kể vắn tắt: có ước muốn thực hiện hành động hướng thượng trong Giáo Pháp của đức Phật tối thượng, ông lìa bỏ vóc dáng Thiên nhân và cùng vợ đi đến cõi này, rồi dâng cúng vật thực (một bữa ăn) đến vị Thinh Văn Devala của đức Phật Padumuttara với tâm ý trong sạch. Kể từ một trăm ngàn kiếp trước, nhờ quả của món vật thực ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.255Ký sự về trưởng lão Citakapūjaka
THA-AP255 · 20 đoạnTrưởng lão Citakapūjaka kể vắn tắt: đức Phật Ānanda viên tịch trong rừng già hoang rậm, không có bóng người; ông từ thế giới chư Thiên đi đến, thực hiện lễ hỏa táng, thiêu đốt thi thể và thể hiện sự tôn kính. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.256Ký sự về trưởng lão Ticampakapupphiya
THA-AP256 · 20 đoạnTrưởng lão Ticampakapupphiya kể vắn tắt: không xa Hi-mã-lạp có ngọn núi Vikata; ở giữa núi có vị Sa-môn có các giác quan đã được tu tập cư ngụ. Thấy sự an tịnh của vị ấy, với tâm ý trong sạch, ông cầm lấy ba bông hoa campaka và rải rắc chúng. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.257Ký sự về trưởng lão Sattapāṭaliya
THA-AP257 · 16 đoạnTrưởng lão Sattapāṭaliya kể vắn tắt: đức Phật ngồi ở trong vùng đồi núi, chói sáng như cây kaṇikāra; ông dâng lên Ngài bảy bông hoa pāṭali. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí. (Tên gọi của ông ghi số bảy — satta — dù bản dịch MC chỉ nói chung “các bông hoa”.)258Ký sự về trưởng lão Upāhanadāyaka
THA-AP258 · 16 đoạnTrưởng lão Upāhanadāyaka kể vắn tắt: khi ấy ông là Candana, người con trai của đấng Giác Ngộ; ông dâng cúng một đôi dép kèm ước nguyện “xin ngài hãy giúp con thành tựu quả vị Giác Ngộ”. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của đôi dép ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.259Ký sự về trưởng lão Mañjaripūjaka
THA-AP259 · 24 đoạnTrưởng lão Mañjaripūjaka kể vắn tắt: làm xong một bó hoa, đang bước đi ở đường lộ, ông thấy bậc cao cả trong các vị Sa-môn được hội chúng Tỷ-kheo tháp tùng; với tâm tịnh tín và niềm phỉ lạc tột độ, ông cầm bó hoa bằng cả hai tay dâng lên đức Phật. Kể từ chín mươi hai kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Jotiya, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.260Ký sự về trưởng lão Paṇṇadāyaka
THA-AP260 · 24 đoạnTrưởng lão Paṇṇadāyaka kể vắn tắt: ông là vị ẩn sĩ mặc y phục bằng vỏ cây ở Hi-mã-lạp, ăn lá cây không muối, thu thúc trong các điều kiện hạn chế. Vào lúc bữa ăn sáng đã điểm, đức Phật Siddhattha đi đến gặp ông; được tịnh tín, ông tự tay dâng lên Ngài phần lá cây của mình. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng lá cây ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.261Ký sự về trưởng lão Kuṭidāyaka
THA-AP261 · 20 đoạnTrưởng lão Kuṭidāyaka kể vắn tắt: đấng Toàn Giác đang cư ngụ ở gốc cây trong rừng; ông làm gian nhà lá (cái chòi lá) và dâng cúng đến bậc không bị đánh bại ấy. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng cái chòi, ông không còn biết khổ cảnh, mười sáu kiếp làm Chuyển Luân Vương Sabbattha-abhivassī, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.262Ký sự về trưởng lão Aggajapupphiya
THA-AP262 · 32 đoạnTrưởng lão Aggajapupphiya kể vắn tắt: ông thấy đấng Toàn Giác Sikhī có màu da vàng chói, ngồi trong vùng đồi núi, chiếu sáng hào quang như ngọn lửa; cầm bông hoa aggaja, ông đi đến gần đấng Tối Thượng Nhân và dâng lên đức Phật với tâm tịnh tín, ý vui mừng. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Amita, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí. Bài này kết thúc phẩm Thomaka với kệ tóm lược mười trưởng lão, bốn mươi mốt câu kệ.263Ký sự về trưởng lão Ākāsukkhipiya
THA-AP263 · 25 đoạnTrưởng lão Ākāsukkhipiya kể vắn tắt: đức Phật Siddhattha đang đi ở khu phố chợ; ông cầm hai bông hoa sen cao quý đến gặp Ngài — một bông đặt xuống chân đức Phật tối thượng, một bông cầm lấy thảy lên không trung. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.264Ký sự về trưởng lão Telamakkhiya
THA-AP264 · 20 đoạnTrưởng lão Telamakkhiya kể vắn tắt: khi đức Phật Siddhattha đã nhập Niết-bàn, ngay khi ấy ông thoa dầu ở vòng rào chắn của cội Bồ Đề. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc thoa dầu ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Succhavi, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.265Ký sự về trưởng lão Aḍḍhacandiya
THA-AP265 · 20 đoạnTrưởng lão Aḍḍhacandiya kể vắn tắt: ông đã dâng cúng bông hoa aḍḍhacanda ở cội cây Bồ Đề tối thượng của đức Phật Tissa. Kể từ chín mươi hai kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường cội Bồ Đề ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Devala, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.266Ký sự về trưởng lão Padīpiya
THA-AP266 · 20 đoạnTrưởng lão Padīpiya kể vắn tắt: khi đang là một vị Thiên nhân, ông ngự xuống trái đất và tự tay dâng cúng năm ngọn đèn với lòng tịnh tín. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng ngọn đèn ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Samantacakkhu, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.267Ký sự về trưởng lão Biḷālidāyaka
THA-AP267 · 24 đoạnTrưởng lão Biḷālidāyaka kể vắn tắt: ở chân núi Romaso gần Hi-mã-lạp có vị Sa-môn có các giác quan đã được tu tập; ông cầm củ biḷālī dâng cúng vị ấy, và đấng Tự Chủ nói lời tùy hỷ, thọ ký rằng quả báu sẽ sinh khởi đến ông trong các kiếp tái sanh. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của củ biḷālī ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.268Ký sự về trưởng lão Macchadāyaka
THA-AP268 · 16 đoạnTrưởng lão Macchadāyaka kể vắn tắt: khi ấy ông là con chim ưng ở bờ sông Candabhāgā; ông gắp lấy con cá lớn và dâng cúng đến bậc Hiền Trí Siddhattha. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng con cá ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.269Ký sự về trưởng lão Javahaṁsaka
THA-AP269 · 20 đoạnTrưởng lão Javahaṁsaka kể vắn tắt: ông là người kiểm lâm ở bờ sông Candabhāgā; thấy đức Phật Siddhattha đang đi ở trên không trung, ông chắp tay ngước nhìn bậc Đại Hiền Trí, làm cho tâm mình được tịnh tín rồi đảnh lễ đấng lãnh đạo. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc đảnh lễ ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.270Ký sự về trưởng lão Salalapupphiya
THA-AP270 · 20 đoạnTrưởng lão Salalapupphiya kể vắn tắt: khi ấy ông là loài kim-sỉ-điểu ở bờ sông Candabhāgā; thấy đức Phật Vipassī được bao phủ bằng mạng lưới hào quang, với tâm tịnh tín và niềm phỉ lạc tột độ, ông cầm lấy bông hoa salala và rải rắc đến Ngài. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.271Ký sự về trưởng lão Upāgatāsaya
THA-AP271 · 24 đoạnTrưởng lão Upāgatāsaya kể rằng trong một kiếp ông là loài quỷ dữ có bản chất quấy rối, gây sợ hãi ở cái hồ giữa Hi-mã-lạp. Đức Phật Vipassī, bậc thương tưởng và bi mẫn, có ý muốn tiếp độ ông nên đã đi đến gặp; ông đi ra khỏi nơi trú ẩn và đảnh lễ đấng Đạo Sư. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc đảnh lễ ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.272Ký sự về trưởng lão Taraṇiya
THA-AP272 · 28 đoạnTrưởng lão Taraṇiya kể vắn tắt: đức Phật Vipassī cùng hội chúng Tỷ-kheo đứng ở bờ sông, nơi ấy không có thuyền bè để sang; ông đi ra khỏi dòng sông và đưa đấng lãnh đạo thế gian sang sông. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc đưa sang sông ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí. Bài này kết thúc phẩm Padumukkhipa với kệ tóm lược mười trưởng lão, bốn mươi mốt câu kệ.273Ký sự về trưởng lão Suvaṇṇabimbohaniya
THA-AP273 · 21 đoạnTrưởng lão Suvaṇṇabimbohaniya kể vắn tắt: được tịnh tín, ông tự tay dâng cúng một cái ghế và dâng lên cái gối (bằng vàng) nhằm đạt đến mục đích tối thượng. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của cái gối ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Asama, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.274Ký sự về trưởng lão Tilamuṭṭhidāyaka
THA-AP274 · 24 đoạnTrưởng lão Tilamuṭṭhidāyaka kể vắn tắt: bậc Đạo Sư biết được ý định của ông nên đã đến bằng thần thông với thân được tạo thành bởi ý; ông đảnh lễ Ngài và dâng cúng một nắm hạt mè với tâm tịnh tín, ý vui mừng. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của nắm hạt mè ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.275Ký sự về trưởng lão Caṅgoṭakiya
THA-AP275 · 20 đoạnTrưởng lão Caṅgoṭakiya kể vắn tắt: đức Phật Siddhattha sống ở vùng đồi núi kề cận biển cả; ông đi ra tiếp đón Ngài, làm và dâng cúng cái hộp đựng bông hoa đến bậc thương tưởng tất cả chúng sanh ấy, rồi hưởng vui ở cõi trời một kiếp. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của cái hộp ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.276Ký sự về trưởng lão Abbhañjanadāyaka
THA-AP276 · 24 đoạnTrưởng lão Abbhañjanadāyaka kể vắn tắt: ông đã dâng cúng thuốc cao đến đức Phật Koṇḍañña — bậc có tâm bình đẳng như hư không, đã lìa bỏ tham ái, vượt qua tất cả si mê, tầm cầu lợi ích cho tất cả thế gian. Kể từ vô lượng kiếp trước, nhờ quả của thuốc cao ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Cirappa, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.277Ký sự về trưởng lão Ekañjaliya
THA-AP277 · 24 đoạnTrưởng lão Ekañjaliya kể vắn tắt: ông dâng cúng khu vực sinh sống cô tịch đến vị Sa-môn đang cư ngụ tại cội cây sung, và chắp tay trải ra tấm thảm bằng bông hoa cho đức Phật Tissa. Kể từ chín mươi hai kiếp trước, nhờ quả của tấm thảm ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Ekañjalika, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.278Ký sự về trưởng lão Potthadāyaka
THA-AP278 · 16 đoạnTrưởng lão Potthadāyaka kể vắn tắt: ông đã dâng cúng tấm vải bạt ở đối tượng đáng được cúng dường vô thượng — trước tiên hết là bậc Đạo Sư, Giáo Pháp, và luôn cả hội chúng của bậc Đại Ẩn Sĩ. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng tấm vải bạt ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.279Ký sự về trưởng lão Citakapūjaka
THA-AP279 · 20 đoạnTrưởng lão Citakapūjaka kể vắn tắt: ông đi xuôi theo dòng nước ở bờ sông Candabhāgā và đặt bảy bông hoa māluva ở giàn hỏa thiêu. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường giàn hỏa thiêu ấy, ông không còn biết khổ cảnh, bảy kiếp làm Chuyển Luân Vương Paṭijagga, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí. (Đây là trưởng lão Citakapūjaka thứ hai trong tập, sau vị ở phẩm Thomaka.)280Ký sự về trưởng lão Āluvadāyaka
THA-AP280 · 20 đoạnTrưởng lão Āluvadāyaka kể vắn tắt: ở Hi-mã-lạp, bên con sông Mahāsindhu, ông nhìn thấy đức Phật Sudassana — bậc đã lìa bỏ tham ái, có ánh sáng rực rỡ, gắn liền với sự an tịnh tột bực. Với tâm kinh ngạc và tịnh tín, ông tự tay dâng cúng rễ cây āluva đến Ngài. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của rễ cây āluva ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.281Ký sự về trưởng lão Ekapuṇḍarīka
THA-AP281 · 16 đoạnTrưởng lão Ekapuṇḍarīka kể vắn tắt: đấng Tự Chủ Romasa là bậc có sự hành trì tốt đẹp; với tâm ý trong sạch, ông đã dâng cúng một đóa hoa sen trắng đến Ngài. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của đóa hoa sen trắng ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.282Ký sự về trưởng lão Taraṇīya
THA-AP282 · 29 đoạnTrưởng lão Taraṇīya kể vắn tắt: được tịnh tín, ông tự tay cho xây dựng cây cầu ở đường lộ lớn gập ghềnh để giúp mọi người vượt qua. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng cây cầu ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Samogadha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí. Bài này kết thúc phẩm Suvaṇṇabibbohana với kệ tóm lược mười trưởng lão, bốn mươi hai câu kệ. (Ông là vị Taraṇīya thứ hai trong tập, sau vị đưa Phật sang sông ở phẩm trước.)283Ký sự về trưởng lão Paṇṇadāyaka
THA-AP283 · 21 đoạnTrưởng lão Paṇṇadāyaka kể vắn tắt: ông ngồi trong gian nhà lá, bữa ăn là vật thực bằng lá cây; bậc Đại Hiền Trí Siddhattha — quang đăng và thầy thuốc của thế gian — đi đến, ngồi xuống tấm thảm lá cây, và ông dâng cúng lá cây đến Ngài. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng lá cây ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí. (Đây là vị Paṇṇadāyaka thứ hai trong tập, sau vị ở phẩm Thomaka.)284Ký sự về trưởng lão Phaladāyaka
THA-AP284 · 28 đoạnTrưởng lão Phaladāyaka kể vắn tắt: đức Phật Siddhattha, bậc an tịnh sánh bằng núi Sineru, xuất khỏi thiền định và đi đến gần ông để khất thực. Với tâm ý trong sạch, ông dâng cúng tất cả các loại trái cây mình có — harītaka, āmalaka, xoài, mận đỏ, vibhīṭaka, táo, bhallātaka, billa và phārusaka — đến Ngài. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng trái cây ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Ekajjha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.285Ký sự về trưởng lão Paccuggamaniya
THA-AP285 · 24 đoạnTrưởng lão Paccuggamaniya kể vắn tắt: bậc Nhân Ngưu Siddhattha đang đi đến như sư tử lang thang trong rừng; với tâm ý trong sạch, ông đã đi ra tiếp đón Ngài, đấng quang đăng và thầy thuốc của thế gian. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc đi ra tiếp đón ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Saparivāra, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.286Ký sự về trưởng lão Ekapupphiya
THA-AP286 · 20 đoạnTrưởng lão Ekapupphiya kể vắn tắt: khi ấy ông là con yêu tinh ở cánh cổng phía nam; thấy đức Phật Vipassī, bậc Vô Nhiễm tợ như mặt trời có tia sáng màu vàng, ông đã dâng cúng một bông hoa đến Ngài. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.287Ký sự về trưởng lão Maghavapupphiya
THA-AP287 · 20 đoạnTrưởng lão Maghavapupphiya kể vắn tắt: ở bờ sông Nammadā, đấng Tự Chủ đang chứng đạt thiền định, thanh tịnh, không bị chộn rộn; thấy Ngài, ông được tịnh tín, vui mừng, và dâng cúng Ngài bằng bông hoa maghava. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.288Ký sự về trưởng lão Upaṭṭhākadāyaka
THA-AP288 · 28 đoạnTrưởng lão Upaṭṭhākadāyaka kể vắn tắt: thấy đức Phật Siddhattha đang bước đi ở đường lộ, ông cho người thỉnh mời Ngài và dâng cúng một người phục vụ đến Ngài. Đấng Toàn Giác tiếp nhận, gửi trả lại người phục vụ, rồi đứng dậy ra đi, mặt hướng phía đông. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc phục vụ ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Balasena, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.289Ký sự về trưởng lão Apadāniya
THA-AP289 · 16 đoạnTrưởng lão Apadāniya kể vắn tắt: ông đã ca ngợi sự nghiệp của các đấng Thiện Thệ đến bậc Đại Ẩn Sĩ, và được tịnh tín, ông đảnh lễ bằng đầu và bằng các bàn tay của mình ở bàn chân Ngài. Kể từ chín mươi hai kiếp trước, nhờ quả của việc ca ngợi ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.290Ký sự về trưởng lão Sattāhapabbajita
THA-AP290 · 24 đoạnTrưởng lão Sattāhapabbajita kể vắn tắt: hội chúng của đức Phật Vipassī được tôn sùng kính trọng; khi bất hạnh xảy đến vì thân quyến chia rẽ, ông đi đến sự xuất gia nhằm làm lắng dịu điều bất hạnh, và thỏa thích trong Giáo Pháp bảy ngày do lòng mong mỏi Giáo Pháp của bậc Đạo Sư. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc xuất gia ấy, ông không còn biết khổ cảnh, bảy kiếp làm Chuyển Luân Vương Sunikkhama, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.291Ký sự về trưởng lão Buddhupaṭṭhāka
THA-AP291 · 24 đoạnTrưởng lão Buddhupaṭṭhāka kể vắn tắt: tên ông là Veṭambarī; cha nắm lấy cánh tay và đưa ông đến bậc Đại Hiền Trí. Nghĩ rằng chư Phật, các đấng lãnh đạo cao cả của thế gian, sẽ chỉ dạy cho mình, ông tự tay phục vụ các Ngài một cách tôn kính với lòng tịnh tín. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc phục vụ ấy, ông không còn biết khổ cảnh, bốn kiếp làm Chuyển Luân Vương Samaṇupaṭṭhāka, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.292Ký sự về trưởng lão Pubbaṅgamiya
THA-AP292 · 36 đoạnTrưởng lão Pubbaṅgamiya kể vắn tắt: tám mươi bốn ngàn người cùng xuất gia không còn sở hữu gì nhằm đạt mục đích tối thượng, và ông là người đứng đầu trong số các vị ấy. Đoàn người phục vụ chư vị Tự Chủ một cách tôn kính; sau khi phục vụ, ông gần kề sự chết và cùng đoàn đi đến cõi chư Thiên. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc tự chế ngự (gìn giữ giới hạnh), ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí. Bài này kết thúc phẩm Paṇṇadāyaka với kệ tóm lược mười trưởng lão, bốn mươi tám câu kệ.293Ký sự về trưởng lão Citakapūjaka
THA-AP293 · 25 đoạnTrưởng lão Citakapūjaka kể vắn tắt: ông là vị Bà-la-môn tên Ajita, có ý định dâng vật hiến cúng nên đã thu thập nhiều loại bông hoa. Thấy giàn hỏa thiêu của đức Phật Sikhī đang bốc cháy, ông đem số hoa ấy lại và rải rắc ở giàn hỏa thiêu. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, bảy kiếp làm Chuyển Luân Vương Supajjalita, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí. (Đây là vị Citakapūjaka thứ ba trong tập.)294Ký sự về trưởng lão Pupphadhāraka
THA-AP294 · 24 đoạnTrưởng lão Pupphadhāraka kể vắn tắt: ông là vị tu khổ hạnh mang y phục bằng vỏ cây, choàng tấm da dê, có năm thắng trí đã phát sinh, là người chạm đến mặt trăng. Thấy đức Phật Vipassī ngự đến chỗ mình, ông nắm giữ những bông hoa san hô hình chiếc lọng che cho bậc Đạo Sư. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc nắm giữ ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Samantadhāraṇa, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.295Ký sự về trưởng lão Chattadāyaka
THA-AP295 · 28 đoạnTrưởng lão Chattadāyaka kể câu chuyện cảm động: con trai ông xuất gia mặc y ca-sa, đã đạt bản thể của một vị Phật, đã nhập Niết-bàn và được thế gian tôn vinh. Ông đi tìm tăm tích con, lần theo đến giàn hỏa thiêu của con người vĩ đại ấy, chắp tay đảnh lễ giàn hỏa thiêu và cầm chiếc lọng trắng dâng lên. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng chiếc lọng ấy, ông không còn biết khổ cảnh, bảy kiếp làm Chuyển Luân Vương Mahāraha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.296Ký sự về trưởng lão Saddasaññaka
THA-AP296 · 20 đoạnTrưởng lão Saddasaññaka kể vắn tắt: khi mặt trời còn chưa mọc, đã có tiếng gầm dữ dội báo hiệu sự xuất hiện của đức Phật tối thượng ở thế gian. Ông nghe được tiếng động nhưng không nhìn thấy đấng Chiến Thắng; khi sự chết gần kề, ông nhớ lại sự suy tưởng về đức Phật. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của sự suy tưởng ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.297Ký sự về trưởng lão Gosīsanikkhepaka
THA-AP297 · 28 đoạnTrưởng lão Gosīsanikkhepaka kể: ra khỏi cổng tu viện, ông đã trải lót xương sọ của loài bò ở con đường lầy lội cho người qua lại. Về sau ông thọ hưởng ngựa Sindhu thuần chủng nhanh như gió và tự thốt lên: hành động đã khéo làm ở thửa ruộng phước tốt là tuyệt vời — việc khác không bằng một phần mười sáu của hành động làm ở nơi hội chúng. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc trải lót ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Suppatiṭṭhita, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.298Ký sự về trưởng lão Pādapūjaka
THA-AP298 · 20 đoạnTrưởng lão Pādapūjaka kể vắn tắt: khi ấy ông là loài kim-sỉ-điểu ở Hi-mã-lạp; thấy đức Phật Vipassī, bậc Vô Nhiễm tợ như mặt trời có tia sáng màu vàng, đi đến gần, ông rải rắc trầm hương và cỏ thơm ở bàn chân Ngài. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ở bàn chân ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.299Ký sự về trưởng lão Desakittaka
THA-AP299 · 24 đoạnTrưởng lão Desakittaka kể vắn tắt: ông là vị Bà-la-môn tên Upasālaka; thấy đức Phật đi sâu vào rừng rậm, ông đảnh lễ ở hai bàn chân Ngài; biết tâm ông đã tịnh tín, đức Phật biến mất. Rời rừng, ông tưởng nhớ đức Phật tối thượng và tán dương khu vực ấy, rồi hưởng vui ở cõi trời một kiếp. Kể từ chín mươi hai kiếp trước, nhờ quả của việc tán dương ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.300Ký sự về trưởng lão Saraṇagamaniya
THA-AP300 · 20 đoạnTrưởng lão Saraṇagamaniya kể vắn tắt: ông là người thợ săn ở Hi-mã-lạp; thấy đức Phật Vipassī, ông đi đến gặp bậc Toàn Giác, làm công việc phục vụ, và đi đến nương nhờ nơi Ngài. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc đi đến nương nhờ ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.301Ký sự về trưởng lão Ambapiṇḍiya
THA-AP301 · 16 đoạnTrưởng lão Ambapiṇḍiya kể vắn tắt: ông là người khổng lồ được nổi tiếng với tên Romasa; ông đã dâng cúng một chùm trái xoài đến bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng trái xoài ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.302Ký sự về trưởng lão Anusaṁsāvaka
THA-AP302 · 43 đoạnTrưởng lão Anusaṁsāvaka kể vắn tắt: thấy đấng Chiến Thắng Vipassī đang đi khất thực, ông dâng lên một vá thức ăn, rồi đảnh lễ và ngợi ca đức Phật nhằm đạt mục đích tối thượng. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc ngợi ca ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí. Bài này kết thúc phẩm Citakapūjaka và kết thúc nhóm một trăm thứ ba của tập Trưởng Lão Ký Sự, với các kệ tóm lược phẩm và tóm lược các phẩm.303Ký sự về trưởng lão Padumakesariya
THA-AP303 · 21 đoạnTrưởng lão Padumakesariya kể vắn tắt: trước đây ông là con voi ở hội chúng các vị Ẩn Sĩ; do niềm tịnh tín, nó rải rắc nhụy của hoa sen đến các bậc Đại Ẩn Sĩ — các đấng Độc Giác tối thượng đã giũ bỏ ái dục — rồi hưởng vui ở cõi trời một kiếp. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.304Ký sự về trưởng lão Sabbagandhiya
THA-AP304 · 20 đoạnTrưởng lão Sabbagandhiya kể vắn tắt: ông đã dâng cúng tràng hoa có hương thơm đến bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī, và dâng cúng tấm vải thượng hạng bằng tơ lụa đến bậc có bản thể chính trực ấy. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng vật thơm ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Sucela, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.305Ký sự về trưởng lão Paramannadāyaka
THA-AP305 · 20 đoạnTrưởng lão Paramannadāyaka kể vắn tắt: ông thấy đức Phật Vipassī tợ như cây kaṇikāra đang cháy sáng, tợ như mặt trời đang mọc lên; ông chắp tay rước Ngài về nhà mình và dâng cúng vật thực thượng hạng. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của vật thực thượng hạng ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.306Ký sự về trưởng lão Dhammasaññaka
THA-AP306 · 32 đoạnTrưởng lão Dhammasaññaka kể: ở lễ hội cội Đại Bồ Đề của đức Phật Vipassī, đức Thế Tôn được hội chúng Tỷ-kheo tháp tùng đã công bố Bốn Sự Thật, thuyết giảng cả giản lược lẫn chi tiết, và giúp đám đông dân chúng thành tựu Niết-bàn. Ông lắng nghe Giáo Pháp của Ngài, đảnh lễ ở bàn chân bậc Đạo Sư rồi ra đi, mặt hướng phía bắc. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc nghe và suy tưởng Giáo Pháp ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Sutavā, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.307Ký sự về trưởng lão Phaladāyaka
THA-AP307 · 20 đoạnTrưởng lão Phaladāyaka kể vắn tắt: có khu ẩn cư ở bờ sông Bhāgīrathī; ông cầm trái cây đi đến khu ẩn cư ấy và thấy đức Phật Vipassī ở đó; ông dâng cúng đến bậc Đạo Sư tất cả trái cây mình có. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng trái cây ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí. (Đây là vị Phaladāyaka thứ hai trong tập, sau vị ở phẩm Paṇṇadāyaka.)308Ký sự về trưởng lão Sampasādaka
THA-AP308 · 36 đoạnTrưởng lão Sampasādaka kể: lâm vào cảnh bất hạnh, ông cầu đức Phật làm nơi nương nhờ. Đức Phật Siddhattha dạy hội chúng sánh bằng biển lớn, không thể đo lường, là thửa ruộng không bị nhơ bẩn ban quả vô tận — hãy làm tâm tịnh tín ở hội chúng và gieo hạt giống tốt ở đó. Ngài chỉ dạy xong thì bay lên bầu trời; ông gần kề sự chết, sanh lên cõi trời Đẩu Suất, và hưởng vui ở cõi trời một kiếp nhờ niềm tịnh tín ở Tăng. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.309Ký sự về trưởng lão Ārāmadāyaka
THA-AP309 · 32 đoạnTrưởng lão Ārāmadāyaka kể vắn tắt: ông đã tạo dựng tu viện cho đức Phật Siddhattha giữa những cội cây có bóng râm dày đặc, nơi các con chim được yên lặng. Thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, ông bàn giao tu viện cho Ngài, dâng cúng trái cây và bông hoa với tâm mừng rỡ, và sau khi niềm tịnh tín sanh lên, ông chuyển giao cả khu rừng ấy. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của tu viện ấy, ông không còn biết khổ cảnh, bảy kiếp làm Chuyển Luân Vương Mudusītala, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.310Ký sự về trưởng lão Anulepadāyaka
THA-AP310 · 20 đoạnTrưởng lão Anulepadāyaka kể vắn tắt: ông nhìn thấy vị Thinh Văn của bậc Hiền Trí Atthadassī đang xây dựng công trình mới trong khuôn viên tu viện, và ông đã đi đến gần. Khi công trình mới hoàn thành, với tâm tịnh tín và ý vui mừng, ông dâng cúng lớp vữa tô ở phước điền vô thượng ấy. Kể từ một ngàn tám trăm kiếp trước, nhờ quả của lớp vữa tô ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.311Ký sự về trưởng lão Buddhasaññaka
THA-AP311 · 20 đoạnTrưởng lão Buddhasaññaka kể vắn tắt: trong giấc mơ, ông nhìn thấy đức Phật Siddhattha tợ như mặt trời đang mọc, đang đi vào bên trong khu rừng; ông làm cho tâm được tịnh tín vào điều ấy và đã sanh lên nhàn cảnh. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc suy tưởng về đức Phật ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.312Ký sự về trưởng lão Pabbhāradāyaka
THA-AP312 · 32 đoạnTrưởng lão Pabbhāradāyaka kể vắn tắt: ông đã làm sạch sẽ sườn núi dành cho đức Phật Piyadassī và bố trí lu nước cho việc sử dụng của Ngài; đức Phật chú nguyện thọ ký cho ông về tòa lâu đài ngàn khu vực sẽ sanh lên. Sau lễ dâng cúng sườn núi, ông hưởng vui ở cõi trời một kiếp. Kể từ đó, ông từng làm Chuyển Luân Vương Susuddha, không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí. Bài này kết thúc phẩm Padumakesara với kệ tóm lược mười trưởng lão, năm mươi mốt câu kệ.313Ký sự về trưởng lão Ārakkhadāyaka
THA-AP313 · 17 đoạnTrưởng lão Ārakkhadāyaka kể vắn tắt: hàng rào đã được ông cho xây dựng đến bậc Hiền Trí Dhammadassī, và sự bảo vệ đã được ông dâng cúng đến bậc chúa tể của loài người ấy. Do tính chất đặc biệt của nghiệp ấy từ một ngàn tám trăm kiếp trước, ông đã đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.314Ký sự về trưởng lão Bhojanadāyaka
THA-AP314 · 28 đoạnTrưởng lão Bhojanadāyaka kể vắn tắt: đấng Chiến Thắng Vessabhū luôn chiếu sáng như cây sālā non, như cây sobhañjana vươn cao, như tia sét trên bầu trời. Với tâm ý trong sạch, ông dâng cúng vật thực đến Ngài; đức Phật nói lời tùy hỷ và thọ ký quả báu cho ông. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của vật thực ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.315Ký sự về trưởng lão Gatasaññaka
THA-AP315 · 20 đoạnTrưởng lão Gatasaññaka kể vắn tắt: ông nhìn thấy đấng Chiến Thắng Siddhattha đang đi ở khoảng không của cõi trời — không có dấu chân nào được lưu lại trên bầu trời; thấy y của đấng Chánh Đẳng Giác lay động bởi làn gió và thấy sự di chuyển của bậc Hiền Trí, niềm hạnh phúc lập tức sanh khởi đến ông. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc suy tưởng về đức Phật ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.316Ký sự về trưởng lão Sattapadumiya
THA-AP316 · 28 đoạnTrưởng lão Sattapadumiya kể vắn tắt: ông là vị Bà-la-môn tên Nesāda sống ở bờ sông, đã quét dọn khu ẩn cư bằng những bông hoa sen có trăm cánh. Thấy đức Phật Siddhattha đang đi qua, niềm vui sanh khởi đến ông; ông đi ra tiếp đón, rước Ngài về khu ẩn cư và rải rắc những đóa hoa sen hạng nhất. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, bốn kiếp làm Chuyển Luân Vương Pādapāvara, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.317Ký sự về trưởng lão Pupphāsanadāyaka
THA-AP317 · 28 đoạnTrưởng lão Pupphāsanadāyaka kể vắn tắt: đấng Toàn Giác Siddhattha đang đi ở không xa; ông đi ra tiếp đón, đưa Ngài vào khu ẩn cư, và dâng cúng chỗ ngồi bằng bông hoa với tâm ý trong sạch. Chắp tay lên, tràn đầy phấn khởi, ông làm tâm tịnh tín ở đức Phật và phát nguyện được vô nhiễm trong Giáo Pháp. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của chỗ ngồi bằng bông hoa ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.318Ký sự về trưởng lão Āsanatthavika
THA-AP318 · 36 đoạnTrưởng lão Āsanatthavika kể vắn tắt: ông là người mù mò mẫm lang thang trong khu rừng hoang vắng, nơi có ngôi bảo tháp Uttama của đức Phật Sikhī. Ra khỏi rừng bao la, ông nhìn thấy ngôi bảo tọa sư tử; khoác y một bên vai, chắp tay lên, ông ngợi ca đấng lãnh đạo thế gian suốt một khoảng thời gian trong ngày, thốt lên lời kính lễ đấng Siêu Nhân, đấng Toàn Tri, rồi đảnh lễ ngôi bảo tọa và ra đi hướng phía bắc. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc ca ngợi ấy, ông không còn biết khổ cảnh, bảy kiếp làm Chuyển Luân Vương Atulya, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.319Ký sự về trưởng lão Saddasaññaka
THA-AP319 · 24 đoạnTrưởng lão Saddasaññaka kể vắn tắt: đấng Đại Hùng Sudassana đang thuyết giảng về vị thế Bất Tử, lời nói ngọt ngào của Ngài thu hút đám đông và vang khắp chư Thiên và nhân loại. Nghe âm thanh vang vang của bậc Đại Ẩn Sĩ Siddhattha, ông làm cho tâm được tịnh tín ở âm thanh và đảnh lễ đấng lãnh đạo thế gian. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc suy tưởng về đức Phật ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí. (Đây là vị Saddasaññaka thứ hai trong tập, sau vị ở phẩm Citakapūjaka.)320Ký sự về trưởng lão Tiraṁsiya
THA-AP320 · 36 đoạnTrưởng lão Tiraṁsiya kể vắn tắt: ông nhìn thấy đức Phật Siddhattha đang chiếu sáng tất cả các phương trong vùng đồi núi, tợ như sư tử cao quý, tợ như khối lửa ở ngọn núi. Thấy ba thứ ánh sáng — của mặt trời, của mặt trăng, và của đức Phật — niềm hạnh phúc sanh khởi đến ông; khoác tấm da dê một bên vai, ông ngợi ca Ngài và trình bày ví dụ: ở thế gian có ba nguồn sáng xua đuổi bóng tối là mặt trăng, mặt trời, và đức Phật. Sau khi tán dương, ông hưởng vui ở cõi trời một kiếp. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc tán dương ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Ñāṇadhara, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.321Ký sự về trưởng lão Kandalipupphiya
THA-AP321 · 32 đoạnTrưởng lão Kandalipupphiya kể vắn tắt: ông là người nông dân ở bờ sông Sindhu, vướng bận việc của người khác và sống lệ thuộc vào vật thực của người khác. Đi dọc sông, ông nhìn thấy đấng Chiến Thắng Siddhattha đang ngồi thiền định như đóa sen nở rộ; ông ngắt bảy bông hoa kandali ở cuống, dâng lên đỉnh đầu đức Phật, rồi chắp tay đảnh lễ bậc Đạo Sư. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.322Ký sự về trưởng lão Kumudamāliya
THA-AP322 · 28 đoạnTrưởng lão Kumudamāliya kể vắn tắt: ông nhìn thấy đấng Đại Hùng Vipassī, tợ như con sư tử sanh ra cao quý, đang bước đi ở đường lộ. Ông cầm lấy tràng hoa kumuda và rải rắc đến đức Phật tối thượng. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường hoa ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí. Bài này kết thúc phẩm Ārakkhadāyaka với kệ tóm lược mười trưởng lão, năm mươi bảy câu kệ.323Ký sự về trưởng lão Ummāpupphiya
THA-AP323 · 29 đoạnTrưởng lão Ummāpupphiya kể vắn tắt: ông nhìn thấy đấng tối thượng nhân Siddhattha đã định tĩnh, đã nhập vào thiền định. Ông cầm lấy bông hoa ummā dâng lên đức Phật; tất cả các bông hoa tự sắp thành thảm hoa trên không trung, và do sự tịnh tín trong tâm, ông sanh lên cõi trời Đẩu Suất. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường hoa ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Samantacchadana, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.324Ký sự về trưởng lão Pulinapūjaka
THA-AP324 · 28 đoạnTrưởng lão Pulinapūjaka kể vắn tắt: ông nhìn thấy đấng Nhân Ngưu Vipassī đang chiếu sáng như cây kakudha, như bò mộng thuần chủng, như vì sao osadhī. Chắp tay lên, ông đảnh lễ và ngợi ca bậc Đạo Sư, hoan hỷ với việc làm của mình. Ông nhặt cát vô cùng trong sạch, túm bằng vạt váy, rải lên con đường Ngài đã đi qua và rải một nửa số cát ở chỗ Ngài nghỉ ngơi ban ngày. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của cát ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.325Ký sự về trưởng lão Hāsajanaka
THA-AP325 · 20 đoạnTrưởng lão Hāsajanaka kể vắn tắt: ông nhìn thấy tấm y phấn tảo của bậc Đạo Sư treo ở ngọn cây; chắp tay lên, ông nâng tấm y lên cao hơn nữa. Nhìn lại từ đàng xa, nụ cười sanh khởi đến ông và tâm được tịnh tín hơn nữa. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc suy tưởng về đức Phật ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.326Ký sự về trưởng lão Yaññasāmika
THA-AP326 · 48 đoạnTrưởng lão Yaññasāmika kể vắn tắt một câu chuyện tuổi thơ: bảy tuổi, ông đã thông thạo chú thuật, duy trì truyền thống gia tộc và chủ trì tế lễ giết tám mươi bốn ngàn con thú. Đức Phật Siddhattha đi đến gần và dạy ông: không hãm hại sanh mạng, xa lánh trộm cắp, gian dâm, chất say; thích thú trong sở hành bình lặng, hiểu rộng, biết ơn — những pháp nên được ca ngợi ở đời này và đời khác — rồi bay lên không trung ra đi. Ông làm tâm trong sạch trước, tịnh tín sau, và sanh lên cõi trời Đẩu Suất. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc suy tưởng về đức Phật ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.327Ký sự về trưởng lão Nimittasaññaka
THA-AP327 · 28 đoạnTrưởng lão Nimittasaññaka kể vắn tắt: ở khu ẩn cư tại bờ sông Candabhāgā, ông nhìn thấy con nai màu vàng chói đang bước đi trong rừng. Làm tâm tịnh tín ở con nai, ông tưởng nhớ đến đấng trưởng thượng của thế gian, rồi tưởng nhớ đến chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai — ba thời chư Phật chói sáng như con nai chúa ấy. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc suy tưởng về đức Phật ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Araññasatta, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.328Ký sự về trưởng lão Annasaṁsāvaka
THA-AP328 · 24 đoạnTrưởng lão Annasaṁsāvaka kể vắn tắt: bậc Toàn Giác Siddhattha, có màu da vàng chói như cột trụ bằng vàng, có ba mươi hai hảo tướng, đang đi ở khu phố chợ. Ông rước Ngài và chăm lo bữa ăn đến bậc Đại Hiền Trí ấy; bậc Hiền Trí, đấng Bi Mẫn ở thế gian, đã chiếu sáng đến ông, và làm tâm tịnh tín ở đức Phật, ông hưởng vui ở cõi trời một kiếp. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng vật thực ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.329Ký sự về trưởng lão Nigguṇḍipupphiya
THA-AP329 · 105 đoạnTrưởng lão Nigguṇḍipupphiya kể một câu chuyện dài khác thường: kiếp xưa, ông là vị thiên nhân sắp mệnh chung; chư Thiên tiễn ông bằng ba lời chúc — hãy làm người, đạt niềm tin tối thượng vào Chánh Pháp, làm thiện bằng thân khẩu ý, và hướng dẫn người khác vào Phạm hạnh. Ông dao động vì không biết sẽ sanh về đâu; vị Thinh Văn Sumana của đức Phật Padumuttara đến chỉ dạy và làm ông chấn động; ông tịnh tín, đảnh lễ vị ấy và qua đời. Quả xưa của ông là việc đã nâng bông hoa nigguṇḍī đặt lên bảo tọa sư tử của đức Phật Padumuttara. Sau các kiếp trời và người, ông sanh làm đứa trẻ bảy tuổi đã biết nghiệp đen trắng; vào tu viện của đức Phật Gotama, thấy voi của vua Kosala thì nhớ nghiệp xưa, xuất gia lúc bảy tuổi, nghe tôn giả Ānanda thuyết pháp và chứng A-la-hán ngay tại chỗ đứng.330Ký sự về trưởng lão Sumanāveliya
THA-AP330 · 40 đoạnTrưởng lão Sumanāveliya kể vắn tắt: khi tất cả dân chúng cùng nhau tiến hành lễ cúng dường trọng thể đến đức Phật Vessabhū, ông thực hiện một khối vôi bột cùng vòng hoa đội đầu bằng bông hoa nhài và dâng lên trước bảo tọa sư tử; dân chúng kéo đến xem bông hoa tối thượng và hỏi ai đã cúng. Do sự tịnh tín, ông sanh lên cõi Hóa Lạc Thiên, và nơi nào tái sanh ông cũng là đối tượng yêu quý của tất cả. Ông còn ghi riêng quả của việc cả đời không phỉ báng các vị đạo sĩ đã chế ngự bản thân: ông là đối tượng được cúng dường của tất cả. Mười một kiếp trước ông làm Chuyển Luân Vương Sahassāra, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.331Ký sự về trưởng lão Pupphachattiya
THA-AP331 · 40 đoạnTrưởng lão Pupphachattiya kể vắn tắt: trong lúc đức Phật Siddhattha đang công bố Sự Thật, ông mang lại bông hoa sen trăm cánh mọc trong nước, làm thành chiếc lọng che bằng bông hoa và dâng lên Ngài. Đức Phật đứng ở Hội Chúng Tỷ-kheo nói kệ thọ ký cho người dâng lọng hoa, rồi giải tán hội chúng và bay lên trời; chiếc lọng che màu trắng cũng vươn lên, di chuyển ở phía trước Ngài. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của chiếc lọng bằng bông hoa ấy, ông không còn biết khổ cảnh, tám kiếp làm Chuyển Luân Vương Jalasikha, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.332Ký sự về trưởng lão Saparivārachattadāyaka
THA-AP332 · 108 đoạnTrưởng lão Saparivārachattadāyaka kể một câu chuyện dài: nghe đức Phật Padumuttara thuyết vị thế Bất Tử, ông về nhà lấy chiếc lọng che đã được tô điểm, đến gặp Ngài và ném chiếc lọng lên không trung với tâm mừng rỡ; chiếc lọng tự tiến đến và đứng yên trên đỉnh đầu đức Phật. Ngài đọc kệ thọ ký cho ông: bảy lần cai quản Thiên quốc, ba mươi hai lần Chuyển Luân Vương, và vào một trăm ngàn kiếp sau sẽ là thừa tự Giáo Pháp của đức Phật Gotama. Quả lọng đi theo ông qua các kiếp: rời cung điện cõi trời có lọng trắng che, hạ sanh vào bụng mẹ cũng có người cầm lọng trắng; bảy tuổi ông xuất gia, nghe tôn giả Sāriputta nói lời tùy hỷ cho lễ dâng lọng pha-lê của Bà-la-môn Sunanda thì nhớ lại nghiệp xưa và chứng A-la-hán. Bài này kết thúc phẩm Umāpupphiya với kệ tóm lược mười trưởng lão, hơn một trăm lẻ bảy câu kệ.333Ký sự về trưởng lão Gandhadhūpiya
THA-AP333 · 29 đoạnTrưởng lão Gandhadhūpiya kể vắn tắt: ông đã dâng cúng nhang thơm đến đức Thế Tôn Siddhattha — nhang ấy được bao phủ bằng mùi hương của các bông hoa nhài và phù hợp với đức Phật. Thấy Ngài ngồi trước Hội Chúng Tỷ-kheo như cột trụ bằng vàng, như ngọn lửa cháy rực, ông làm tâm tịnh tín, chắp tay lên, đảnh lễ ở bàn chân bậc Đạo Sư và ra đi hướng phía bắc. Kể từ chín mươi bốn kiếp, nhờ quả của việc cúng dường hương thơm ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.334Ký sự về trưởng lão Udakapūjaka
THA-AP334 · 32 đoạnTrưởng lão Udakapūjaka kể vắn tắt: ông nhìn thấy bậc Toàn Giác Padumuttara có màu da vàng chói đang đi bằng đường không trung. Ông dùng bàn tay múc nước và hắt lên không trung; đấng Đại Hùng, đức Phật, đấng Bi Mẫn, đã tiếp nhận. Đứng ở trên không trung, biết được ý định của ông, bậc Đạo Sư nói kệ thọ ký: do dâng cúng nước này và niềm phỉ lạc sanh khởi, ông không sanh vào khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp. Nhờ nghiệp ấy, ông đã từ bỏ hơn thua và đạt vị thế Bất Động; xưa ông từng là ba vị Chuyển Luân Vương Sahassarāja, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.335Ký sự về trưởng lão Punnāgapupphiya
THA-AP335 · 24 đoạnTrưởng lão Punnāgapupphiya kể vắn tắt: ông là người thợ săn sinh sống trong rừng rậm; thấy cây punnāga trổ hoa, ông tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng. Ông thu nhặt bông hoa xinh đẹp tỏa hương thơm ngào ngạt ấy, làm ngôi bảo tháp ở trên cát và dâng hoa lên đức Phật. Kể từ chín mươi hai kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường hoa ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Tamonuda, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.336Ký sự về trưởng lão Ekadussadāyaka
THA-AP336 · 84 đoạnTrưởng lão Ekadussadāyaka kể vắn tắt một câu chuyện nghèo mà giàu: ông là người gánh cỏ ở thành Haṁsavatī, sống bằng nghề gánh cỏ để nuôi các con. Nghe đấng Chiến Thắng Padumuttara hiện khởi ở thế gian, ông ngồi trong nhà suy nghĩ: mình không có vật gì xứng đáng để dâng — chỉ có tấm vải choàng duy nhất — và quyết định ươm trồng vật cúng dường bằng chính tấm vải ấy. Ông làm tâm tịnh tín, dâng tấm vải độc nhất và kêu lớn xin Ngài giúp vượt qua. Đức Phật tùy hỷ và thọ ký: một trăm ngàn kiếp không đi đến đọa xứ, ba mươi sáu lần Chúa của chư Thiên, ba mươi ba lần Chuyển Luân Vương, vải vóc không bao giờ thiếu. Quả của một tấm vải đi theo ông qua mọi kiếp, chín muồi ở kiếp cuối này: phiền não đã thiêu đốt, ông sống không còn lậu hoặc, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.337Ký sự về trưởng lão Phusitakampiya
THA-AP337 · 64 đoạnTrưởng lão Phusitakampiya kể vắn tắt: đức Phật Vipassī cùng tám trăm ngàn bậc Lậu Tận đi ra từ cổng tu viện; ông, vị mặc y da dê và vỏ cây, cầm lấy nước bông hoa kusumbha, làm tâm tịnh tín, chắp tay và rưới nước hoa lên đức Phật. Đức Phật tán dương việc làm của ông rồi ra đi. Năm ngàn giọt nước cho ông hai ngàn năm trăm kiếp cai quản Thiên quốc và hai ngàn năm trăm kiếp Chuyển Luân Vương, luôn mang tên Phusita; thân ông tỏa mùi trầm hương xa nửa kosa, người ngửi biết Phusita đã đến. Với nghiệp còn dư sót, ông thành tựu A-la-hán, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.338Ký sự về trưởng lão Pabhaṅkara
THA-AP338 · 88 đoạnTrưởng lão Pabhaṅkara kể vắn tắt: ngôi bảo tháp của đức Phật Padumuttara ngự trong khu rừng đông đúc thú dữ, bị cỏ cây dây leo bao phủ và sụp đổ, không ai dám đến đảnh lễ. Ông là người thợ rừng theo nghề của cha và ông nội; thấy bảo tháp, ông thiết lập tâm cung kính và nghĩ: người biết điều phải quấy thì không thể không dọn sạch bảo tháp của đức Phật rồi mới lo việc khác. Ông dọn sạch cỏ cây dây leo, đảnh lễ tám lượt rồi cúi mình ra đi. Do việc làm ấy, ông sanh cõi trời Đạo Lợi với cung điện vàng cao sáu mươi do-tuần, ba trăm lượt cai quản Thiên quốc, hai mươi lăm lần Chuyển Luân Vương, không thiếu hụt của cải, không bệnh cùi nhọt ghẻ lở, gai góc tự dời khỏi đường đi, tâm trong sạch định tĩnh, và ngồi một chỗ thành tựu A-la-hán. Kể từ một trăm ngàn kiếp trước, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.339Ký sự về trưởng lão Tiṇakuṭidāyaka
THA-AP339 · 68 đoạnTrưởng lão Tiṇakuṭidāyaka kể vắn tắt: ông là người làm công cho người khác ở thành Bandhumatī, sống lệ thuộc vào vật thực của người khác. Ngồi nơi vắng vẻ, ông suy nghĩ: đức Phật đã hiện khởi ở thế gian mà hành động hướng thượng của mình thì không có — thời điểm dọn sạch cảnh giới tái sanh đã đến. Ông đến gặp người chủ, xin công việc trong một ngày, vào rừng mang cỏ, cây gỗ, dây leo, dựng ba cây gậy làm cái lều bằng cỏ, cúng hiến cho Hội Chúng rồi trở về trong ngày hôm ấy. Do nghiệp ấy, ông sanh cõi trời Đạo Lợi với cung điện ngàn khu vực; nơi nào tái sanh cũng có lâu đài hiện diện theo ý định của ông, thú dữ và ma quỷ đều tránh xa, không ác mộng, niệm luôn hiện hữu. Chỉ nhờ cái lều nhỏ bằng cỏ, ông đắc chứng Giáo Pháp của đức Thế Tôn Gotama, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.340Ký sự về trưởng lão Uttareyyadāyaka
THA-AP340 · 88 đoạnTrưởng lão Uttareyyadāyaka kể vắn tắt: ông là vị Bà-la-môn ở thành Haṁsavatī, giảng huấn, thông thạo chú thuật, thông suốt ba tập Vệ-đà, được học trò trọng vọng. Ra khỏi thành nhằm mục đích rửa tội bằng nước, ông gặp đấng Chiến Thắng Padumuttara đi vào thành cùng một ngàn bậc Vô Lậu; thấy dáng vóc tao nhã của Ngài, ông làm tâm tịnh tín, chắp tay lên ở đầu, cúi chào và dâng cúng tấm áo choàng. Ông nâng tấm vải bằng hai tay và thảy lên — tấm vải che đến nơi nào hội chúng của đức Phật đứng đến nơi ấy, làm tấm che cho đoàn Tỷ-kheo đang đi khất thực. Đức Phật đứng ở đường lộ nói lời tùy hỷ và thọ ký dài cho ông: ba mươi ngàn kiếp hưởng vui cõi trời, năm mươi lần Chúa của chư Thiên, ba mươi sáu lần Chuyển Luân Vương, và kiếp cuối xuất gia chứng đắc Giáo Pháp của đức Phật Gotama. Kể từ một trăm ngàn kiếp trước, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.341Ký sự về trưởng lão Dhammasavaṇiya
THA-AP341 · 76 đoạnTrưởng lão Dhammasavaṇiya kể vắn tắt một câu chuyện về sức mạnh của một lần nghe pháp: kiếp xưa, ông là vị đạo sĩ tóc bện có khổ hạnh cao tột, bay trên hư không phất phơ y vỏ cây; bay đến phía trên đức Phật Padumuttara đang công bố bốn Sự Thật, ông không thể bay qua được — như con chim va vào tảng đá. Đáp xuống, ông nghe bậc Đạo Sư thuyết tính vô thường và học lấy sự suy tưởng về vô thường. Lúc lâm chung, ông nhớ lại buổi nghe pháp ấy và sanh cõi trời Đạo Lợi; ba mươi ngàn kiếp hưởng vui cõi trời, bảy mươi mốt lần Chuyển Luân Vương. Kiếp cuối, một vị Sa-môn ngồi ở nhà cha ông giảng câu kệ “các pháp hữu vi là vô thường”; nghe xong, ông nhớ lại việc làm quá khứ, ngồi ngay chỗ ấy chứng A-la-hán lúc bảy tuổi, và đức Phật cho ông tu lên bậc trên. Kể từ một trăm ngàn kiếp trước, nhờ quả của việc lắng nghe Chánh Pháp, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.342Ký sự về trưởng lão Ukkhittapadumiya
THA-AP342 · 70 đoạnTrưởng lão Ukkhittapadumiya kể vắn tắt: ông là người làm tràng hoa ở thành Haṁsavatī, lội xuống hồ sen hái hoa. Đấng Chiến Thắng Padumuttara cùng một trăm ngàn bậc có tâm an tịnh đi đến chỗ của ông, lưu tâm đến sự tiến hóa của ông. Thấy vị Trời của chư Thiên, ông ngắt đóa hoa sen ở cuống, thảy lên không trung và khấn xin các đóa sen tự đến duy trì trên đỉnh đầu Ngài; đấng Đại Hùng chú nguyện và chúng ở yên trên đỉnh đầu. Do nghiệp ấy, ông sanh cõi trời Đạo Lợi với cung điện tên Satapatta cao sáu mươi do-tuần, một ngàn lần Chúa của chư Thiên, bảy mươi lăm lần Chuyển Luân Vương. Chỉ nhờ một đóa sen hồng, kiếp cuối ông chứng đắc Giáo Pháp của đức Phật Gotama, phiền não đã thiêu đốt, sống không còn lậu hoặc. Bài này kết thúc phẩm Gandhodaka với kệ tóm lược mười trưởng lão, một trăm bốn mươi bốn câu kệ.343Ký sự về trưởng lão Ekapadumiya
THA-AP343 · 45 đoạnTrưởng lão Ekapadumiya kể vắn tắt một tiền thân loài chim: ông là con thiên nga chúa cao quý trong số các loài chim, đang lặn xuống hồ nước thiên nhiên vui giỡn. Đấng Chiến Thắng Padumuttara đi đến ở bên trên hồ; con thiên nga nhìn thấy vị Trời của chư Thiên, ngắt đóa sen hồng trăm cánh ở cuống, dùng mỏ gắp lấy, thảy lên bầu trời và cúng dường đến đức Phật tối thượng với tâm tịnh tín. Đức Phật đứng ở không trung nói lời tùy hỷ: do một đóa sen hồng này và các nguyện lực của tác ý, một trăm ngàn kiếp không đi đến đọa xứ. Kể từ một trăm ngàn kiếp trước, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.344Ký sự về trưởng lão Ti-uppalamāliya
THA-AP344 · 40 đoạnTrưởng lão Ti-uppalamāliya kể vắn tắt một tiền thân loài thú: ông là con khỉ ở bờ sông Candabhāgā, nhìn thấy đức Phật Vipassī, bậc Vô Nhiễm, đang ngồi trong vùng đồi núi, làm rực sáng tất cả các phương như cây sālā chúa trổ hoa. Hoan hỷ, tâm phấn chấn, con khỉ nâng ba đóa sen xanh lên trên đầu dâng đến bậc Đại Ẩn Sĩ, tôn kính ra đi hướng phía bắc; đang cúi mình ra đi với tâm trong sạch, nó rơi xuống giữa tảng đá và chấm dứt mạng sống. Do nghiệp ấy, nó sanh cõi trời Đạo Lợi, ba trăm lần cai quản Thiên quốc, năm trăm lần Chuyển Luân Vương. Kể từ chín mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường hoa ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.345Ký sự về trưởng lão Dhajadāyaka
THA-AP345 · 32 đoạnTrưởng lão Dhajadāyaka kể vắn tắt: đấng Đạo Sư tên Tissa là bậc trưởng thượng của thế gian; sau khi nhìn thấy sự đoạn tận mầm mống tái sanh — sự viên tịch của Ngài — ông đã treo lên lá cờ. Do nghiệp ấy, ông từ bỏ thân nhân loại và đi đến cõi trời Đạo Lợi, ba trăm lần cai quản Thiên quốc, năm trăm lần Chuyển Luân Vương, thọ hưởng nghiệp đã khéo thực hiện của mình. Kể từ chín mươi hai kiếp trước, nhờ quả của việc dâng cúng lá cờ ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.346Ký sự về trưởng lão Tikiṅkiṇipūjaka
THA-AP346 · 20 đoạnTrưởng lão Tikiṅkiṇipūjaka kể vắn tắt: ở không xa núi Hi-mã-lạp, có ngọn núi tên Bhūtagaṇa; tại nơi ấy, ông nhìn thấy tấm y phấn tảo vướng ở ngọn cây. Ông thu nhặt ba bông hoa kiṅkiṇi và, với tâm mừng rỡ, cúng dường tấm y ấy. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của ba đóa hoa ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.347Ký sự về trưởng lão Naḷāgārika
THA-AP347 · 36 đoạnTrưởng lão Naḷāgārika kể vắn tắt: ở không xa núi Hi-mã-lạp có ngọn núi tên Hārita; đấng Tự Chủ Nārada cư ngụ ở gốc cây tại nơi ấy. Ông thực hiện gian nhà bằng cây sậy, lợp bằng cỏ, dọn sạch sẽ con đường kinh hành và dâng cúng đến Ngài. Quả của việc ấy: ông hưởng vui ở thế giới chư Thiên trong mười bốn kiếp, bảy mươi bốn lần cai quản Thiên quốc và bảy mươi bốn lần Chuyển Luân Vương (bản dịch chép bảy mươi bảy), cung điện ngàn cột trụ rực rỡ. Thọ hưởng hai sự thành tựu xong, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, ông xuất gia trong Giáo Pháp của đức Thế Tôn Gotama, sống không còn lậu hoặc, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.348Ký sự về trưởng lão Campakapupphiya
THA-AP348 · 24 đoạnTrưởng lão Campakapupphiya kể vắn tắt: ở không xa núi Hi-mã-lạp có ngọn núi tên Cāpala; đức Phật tên Sudassana đã cư trú ở trong vùng đồi núi. Ông hái bông hoa ở núi Hi-mã-lạp, đang di chuyển ở không trung thì nhìn thấy đức Phật, đấng Vô Nhiễm, bậc đã vượt qua dòng nước lũ, không còn lậu hoặc. Ông đặt bảy bông hoa campaka ở trên đầu (bản dịch chép tám) rồi dâng lên đức Phật, đấng Tự Chủ, bậc Đại Ẩn Sĩ. Kể từ ba mươi mốt kiếp trước, nhờ quả của việc cúng dường hoa ấy, ông không còn biết khổ cảnh, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.349Ký sự về trưởng lão Padumapūjaka
THA-AP349 · 21 đoạnTrưởng lão Padumapūjaka kể: gần núi Hi-mã-lạp, trên núi Romasa, đức Phật Sambhava đang sống ngoài trời; ông rời chỗ ở, mang đóa sen hồng đến dâng và giữ đóa sen suốt một ngày rồi trở về. Nhờ phước ấy, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, và nay ông chứng đắc tuệ phân tích cùng các thắng trí.350Ký sự về trưởng lão Tiṇamuṭṭhidāyaka
THA-AP350 · 48 đoạnTrưởng lão Tiṇamuṭṭhidāyaka kể: khi còn là thợ săn trong rừng, ông dâng nắm cỏ làm chỗ ngồi cho đức Phật Upatissa, đảnh lễ rồi ra đi và bị sư tử giết ngay sau đó. Nhờ việc lành vừa làm, ông sinh lên cõi trời hưởng tòa lâu đài rực rỡ, rồi tái sinh làm người và đạt đến sự dứt sạch các ô nhiễm trong tâm.351Ký sự về trưởng lão Tindukaphaladāyaka
THA-AP351 · 20 đoạnTrưởng lão Tindukaphaladāyaka kể: ông thấy đức Phật đang ngồi giữa vùng đồi núi, sáng rực như cây kaṇikāra; ông ngắt cả chùm trái tinduka và dâng lên đức Phật Vessabhū với tâm tin tưởng, vui mừng. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.352Ký sự về trưởng lão Ekañjaliya
THA-AP352 · 28 đoạnTrưởng lão Ekañjaliya kể: ông thấy đức Phật đang ở bên bờ sông, rực rỡ như thỏi vàng nơi miệng lò nung, như than khadira cháy sáng, như sao osadhī; ông chỉ chắp tay kính lễ một lần. Nhờ đó, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh; bài ký sự này kết thúc phẩm Ekapadumiya, phẩm thứ ba mươi lăm.353Ký sự về trưởng lão Saddasaññaka
THA-AP353 · 25 đoạnTrưởng lão Saddasaññaka kể: khi còn là thợ săn trong rừng, ông nghe bậc Toàn Giác Sikhī giảng bốn Sự Thật cho đám đông, lắng nghe giọng nói ngọt ngào như tiếng chim karavīka và làm tâm mình tin tưởng vào âm vang giọng nói Phạm Thiên ấy. Nhờ niềm tin trong sạch đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh và nay đạt đến sự dứt sạch các ô nhiễm.354Ký sự về trưởng lão Yavakalāpiya
THA-AP354 · 24 đoạnTrưởng lão Yavakalāpiya kể: khi còn là người trồng lúa mạch ở thành Aruṇavatī, ông trải bó rơm lúa mạch xuống đường cho đức Phật Sikhī ngồi; Ngài biết ý ông và ngồi xuống tấm trải ấy. Ông khởi niềm hưng phấn và chết ngay tại chỗ; nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.355Ký sự về trưởng lão Kiṁsukapūjaka
THA-AP355 · 16 đoạnTrưởng lão Kiṁsukapūjaka kể: thấy cây kiṁsuka trổ hoa, ông chắp tay, tưởng nhớ đến đức Phật Siddhattha và cúng dường lên hư không. Nhờ đó, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh và nay chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.356Ký sự về trưởng lão Sakoṭakakoraṇḍadāyaka
THA-AP356 · 20 đoạnTrưởng lão Sakosakakoraṇḍadāyaka kể: ông thấy dấu chân của đức Phật Sikhī, khoác tấm da dê lên một bên vai và đảnh lễ dấu chân cao quý ấy; rồi ông ngắt cả chùm hoa koraṇḍa đang trổ và cúng dường nơi dấu chân có hình bánh xe. Nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.357Ký sự về trưởng lão Daṇḍadāyaka
THA-AP357 · 20 đoạnTrưởng lão Daṇḍadāyaka kể: ông vào rừng hoang, đốn cây tre làm thanh đòn ngang và dâng lên Hội Chúng; với tâm tin tưởng, ông đảnh lễ các bậc hành trì tốt đẹp, dâng thanh đòn rồi ra đi hướng về phía bắc. Nhờ đó, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.358Ký sự về trưởng lão Ambayāgudāyaka
THA-AP358 · 20 đoạnTrưởng lão Ambayāgudāyaka kể: đức Phật Độc Giác Sataraṁsī xuất định và đến chỗ ông để khất thực; ông dâng món cháo xoài với tâm ý trong sạch. Nhờ việc làm ấy, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.359Ký sự về trưởng lão Supuṭakapūjaka
THA-AP359 · 20 đoạnTrưởng lão Supuṭakapūjaka kể: đức Phật Vipassī rời chỗ nghỉ ban ngày, đi khất thực và đến gần chỗ ông; ông vui mừng dâng chiếc hộp đựng muối xinh đẹp lên đức Phật tối thượng và được vui hưởng ở cõi trời suốt một kiếp. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.360Ký sự về trưởng lão Mañcadāyaka
THA-AP360 · 20 đoạnTrưởng lão Mañcadāyaka kể: với tâm tin tưởng, ông tự tay dâng một chiếc giường lên đức Thế Tôn Vipassī; nhờ đó ông được xe voi, xe ngựa và xe của cõi trời, rồi đạt đến sự dứt sạch các ô nhiễm trong tâm. Suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.361Ký sự về trưởng lão Saraṇagamaniya
THA-AP361 · 16 đoạnTrưởng lão Saraṇagamaniya kể: khi còn là đạo sĩ lõa thể, ông cùng thuyền với một vị Tỷ-kheo; thuyền đang chìm, vị Tỷ-kheo cho ông chỗ nương nhờ. Nhờ việc tìm đến nương nhờ ấy, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.362Ký sự về trưởng lão Piṇḍapātika
THA-AP362 · 28 đoạnTrưởng lão Piṇḍapātika kể: bậc Toàn Giác Tissa từ cõi trời Đẩu Suất trở về và ở trong rừng lớn; ông dâng cúng vật thực, đảnh lễ Ngài với tâm tin tưởng rồi sinh lên cõi trời Đẩu Suất. Nhờ đó, suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh; bài ký sự kết thúc phẩm Saddasañña, phẩm thứ ba mươi sáu.363Ký sự về trưởng lão Mandāravapupphiya
THA-AP363 · 21 đoạnTrưởng lão Mandāravapupphiya kể: người thanh niên Maṅgala từ cõi trời Đạo Lợi xuống, cầm bông hoa mandārava đặt trên đỉnh đầu đức Phật Vipassī đang ngồi nhập định và giữ như thế suốt bảy ngày, rồi trở về cõi trời. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.364Ký sự về trưởng lão Kakkārupupphiya
THA-AP364 · 16 đoạnTrưởng lão Kakkārupupphiya kể: từ cõi trời Dạ Ma xuống cõi người, ông cầm bông hoa kakkāru dâng lên đức Gotama vinh quang và quý trọng. Nhờ đó, suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.365Ký sự về trưởng lão Bhisamuḷāladāyaka
THA-AP365 · 20 đoạnTrưởng lão Bhisamuḷāladāyaka kể: đấng Toàn Giác Phussa, bậc thông suốt mọi pháp, muốn sống độc cư và đến gần chỗ ông; ông làm tâm mình tin tưởng vào đấng Đại Bi, cầm rễ và củ sen dâng lên đức Phật tối thượng. Nhờ đó, suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.366Ký sự về trưởng lão Kesarapupphiya
THA-AP366 · 20 đoạnTrưởng lão Kesarapupphiya kể: khi còn là thầy pháp thuật ở núi Hi-mã-lạp, ông thấy đức Phật danh vọng lớn lao đang đi kinh hành; ông đặt ba bông hoa kesarī trên đầu, đến gần và cúng dường bậc Toàn Giác Vessabhū. Nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.367Ký sự về trưởng lão Aṅkolapupphiya
THA-AP367 · 20 đoạnTrưởng lão Aṅkolapupphiya kể: bậc Giác Ngộ Paduma đang sống ở núi Cittakūṭa; ông thấy cây aṅkola trổ hoa, thu nhặt hoa, đến gặp và cúng dường đấng Chiến Thắng Paduma. Nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.368Ký sự về trưởng lão Kadambapupphiya
THA-AP368 · 20 đoạnTrưởng lão Kadambapupphiya kể: ngồi ở nơi cao quý của tòa lâu đài, ông nhìn thấy đấng lãnh đạo thế gian có màu da vàng chói, như cột trụ bằng vàng, đủ ba mươi hai tướng tốt, đang đi trong khu phố chợ; ông cầm bông hoa kadamba cúng dường đức Phật Vipassī. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.369Ký sự về trưởng lão Uddālapupphiya
THA-AP369 · 16 đoạnTrưởng lão Uddālapupphiya kể: đấng Giác Ngộ Anoma đang sống ở bờ sông Gaṅgā; ông cầm bông hoa uddālaka cúng dường bậc không ai thắng nổi ấy. Nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.370Ký sự về trưởng lão Ekacampakapupphiya
THA-AP370 · 20 đoạnTrưởng lão Ekacampakapupphiya kể: bậc Giác Ngộ Upasanta sống trong vùng đồi núi; ông cầm một bông hoa campaka đến gần, với tâm tin tưởng và vui mừng cầm bằng hai tay cúng dường đấng Hiền Trí Độc Giác cao nhất. Nhờ đó, ông không rơi vào khổ cảnh trong suốt thời gian dài kể từ kiếp ấy.371Ký sự về trưởng lão Timirapupphiya
THA-AP371 · 20 đoạnTrưởng lão Timirapupphiya kể: đi xuôi dòng ở bờ sông Candabhāgā, ông thấy đức Phật sáng rực như cây sālā chúa đang trổ hoa; với tâm tin tưởng, vui mừng, ông cầm bông hoa timira rải lên đỉnh đầu đấng Hiền Trí Độc Giác cao nhất. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.372Ký sự về trưởng lão Salalapupphiya
THA-AP372 · 36 đoạnTrưởng lão Saḷalapupphiya kể: khi còn là loài kim-sỉ-điểu ở bờ sông Candabhāgā, ông hái bông hoa salala dâng đức Phật Vipassī; Ngài thọ nhận và ngửi bông hoa có hương thơm cõi trời trong khi ông đang nhìn, rồi ông đảnh lễ, chắp tay và leo lên núi. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh; bài này kết thúc phẩm Mandāravapupphiya, phẩm thứ ba mươi bảy.373Ký sự về trưởng lão Bodhivandaka
THA-AP373 · 25 đoạnTrưởng lão Bodhivandaka kể: thấy cây pāṭalī xanh tươi mọc trên mặt đất, ông đắp y một bên vai, chắp tay và đảnh lễ cây ấy như đảnh lễ cội Bồ Đề, với tâm cung kính hướng về bậc trong sạch trong ngoài, như đang đứng trước đức Phật Vipassī, biển lớn của lòng bi mẫn và trí tuệ. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.374Ký sự về trưởng lão Pāṭalipupphiya
THA-AP374 · 32 đoạnTrưởng lão Pāṭalipupphiya kể: ông đặt ba bông hoa pāṭalī vào lòng và đi ra bến sông để gội đầu; trên đường, ông thấy đức Phật Vipassī được học trò tháp tùng đi vào thành Bandhuma, rực sáng như hoa súng, như ngọn lửa tế thần, dẫn đầu hội chúng Tỷ-kheo, nên dâng cả ba bông hoa lên đức Phật tối thượng. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.375Ký sự về trưởng lão Ti-uppalamāliya
THA-AP375 · 40 đoạnTrưởng lão Tīṇuppalamāliya kể: khi còn là con khỉ ở bờ sông Candabhāgā, ông thấy đức Phật ngồi trong vùng đồi núi, làm rực sáng mọi phương; ông nâng ba đóa sen xanh trên đầu, dâng lên bậc Đại Ẩn Sĩ Phussa rồi cúi mình ra đi, rơi xuống giữa tảng đá và chết. Nhờ nghiệp lành ấy, ông sinh lên cõi trời Đạo Lợi, ba trăm lần làm vua trời và năm trăm lần làm Chuyển Luân Vương.376Ký sự về trưởng lão Paṭṭipupphiya
THA-AP376 · 28 đoạnTrưởng lão Paṭṭipupphiya kể: vào lúc bậc Đại Ẩn Sĩ Padumuttara nhập Niết-bàn, dân chúng tụ hội di chuyển nhục thân của Ngài giữa tiếng trống vang; với tâm tin tưởng, vui mừng, ông cúng dường bông hoa paṭṭi lên nhục thân ấy. Nhờ đó, suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.377Ký sự về trưởng lão Sattapaṇṇiya
THA-AP377 · 22 đoạnTrưởng lão Sattapaṇṇiya kể: bậc Toàn Giác Sumana, đấng lãnh đạo thế gian, xuất hiện ở đời; với tâm tin tưởng, vui mừng, ông cúng dường bông hoa thất diệp lên Ngài. Nhờ đó, suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, phiền não được thiêu đốt và ông chứng đắc tam minh cùng tuệ phân tích.378Ký sự về trưởng lão Gandhamuṭṭhiya
THA-AP378 · 22 đoạnTrưởng lão Gandhamuṭṭhiya kể: khi giàn hỏa thiêu đức Phật đang được thực hiện và các loại vật thơm được đặt vào, với tâm tin tưởng, vui mừng, ông cúng dường một nắm vật thơm. Nhờ đó, suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.379Ký sự về trưởng lão Citakapūjaka
THA-AP379 · 22 đoạnTrưởng lão Citakapūjaka kể: khi đức Thế Tôn Padumuttara đã nhập Niết-bàn và được đưa lên giàn hỏa thiêu, ông cúng dường bông hoa sālā. Nhờ đó, suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.380Ký sự về trưởng lão Sumanatālavaṇṭiya
THA-AP380 · 22 đoạnTrưởng lão Sumanatālavaṇṭiya kể: ông giữ chiếc quạt lá cọ vô cùng giá trị được phủ bằng các bông hoa nhài và dâng lên đức Thế Tôn Siddhattha. Nhờ đó, ông không rơi vào khổ cảnh trong suốt thời gian dài kể từ kiếp ấy.381Ký sự về trưởng lão Sumanadāmiya
THA-AP381 · 22 đoạnTrưởng lão Sumanadāmiya kể: ông làm tràng hoa nhài, nắm giữ tràng hoa và đứng ở phía trước đức Thế Tôn Siddhattha, bậc đã gội rửa tội lỗi, vị đạo sĩ khổ hạnh. Nhờ việc nắm giữ tràng hoa ấy, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.382Ký sự về trưởng lão Kāsumāriphaladāyaka
THA-AP382 · 34 đoạnTrưởng lão Kāsumāriphaladāyaka kể: ông thấy đức Phật ngồi trong vùng đồi núi, sáng rực như cây kaṇikāra đang cháy; với tâm tin tưởng, vui mừng, ông chắp tay lên đầu, cầm trái cây kāsumāri dâng lên đức Phật tối thượng. Nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh; bài này kết thúc phẩm Bodhivandana, phẩm thứ ba mươi tám.383Ký sự về trưởng lão Avaṇṭaphaladāyaka
THA-AP383 · 29 đoạnTrưởng lão Avaṭaphaladāyaka kể: đức Thế Tôn Sataraṁsī, đấng Tự Chủ, muốn sống độc cư nên ra đi khất thực; ông tay cầm trái cây, đến gần Ngài và dâng trái cây avaṇṭa với tâm tin tưởng, vui mừng. Nhờ đó, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.384Ký sự về trưởng lão Labujadāyaka
THA-AP384 · 34 đoạnTrưởng lão Labujadāyaka kể: khi còn là người phụ việc chùa ở thành Bandhumatī, ông thấy đức Phật đang di chuyển trên không trung; ông cầm trái cây bánh mì dâng lên, và Ngài đứng giữa hư không thọ nhận. Việc dâng cúng với tâm trong sạch làm khởi lên trong ông niềm vui và sự an lạc ngay trong đời này, và suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.385Ký sự về trưởng lão Udumbaraphaladāyaka
THA-AP385 · 26 đoạnTrưởng lão Udumbaraphaladāyaka kể: đấng cao nhất trong loài người đang ở bờ sông Vinatā, chú tâm và vô cùng định tĩnh; ông tin tưởng vào Ngài, cầm trái sung dâng lên đức Phật tối thượng. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.386Ký sự về trưởng lão Pilakkhaphaladāyaka
THA-AP386 · 22 đoạnTrưởng lão Pilakkhaphaladāyaka kể: ông thấy đức Phật Atthadassī, bậc danh vọng lớn lao, ở cuối khu rừng và dâng trái cây pilakkha với tâm tin tưởng, vui mừng. Nhờ đó, suốt một ngàn tám trăm kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.387Ký sự về trưởng lão Phārusaphaladāyaka
THA-AP387 · 22 đoạnTrưởng lão Phārusaphaladāyaka kể: bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đang đi trên đường; ông dâng trái cây phārusa lên Ngài. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.388Ký sự về trưởng lão Valliphaladāyaka
THA-AP388 · 26 đoạnTrưởng lão Valliphaladāyaka kể: dân chúng tụ hội vào rừng tìm trái cây; tại nơi ấy, ông thấy bậc Toàn Giác, đấng Tự Chủ, và dâng trái cây valli với tâm tin tưởng, vui mừng. Nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.389Ký sự về trưởng lão Kadaliphaladāyaka
THA-AP389 · 26 đoạnTrưởng lão Kadaliphaladāyaka kể: ông thấy đấng lãnh đạo thế gian sáng rực như cây kaṇikāra đang cháy, như mặt trăng ngày rằm, như cây đèn đang chiếu sáng; ông cầm trái chuối dâng lên bậc Đạo Sư, đảnh lễ rồi ra đi. Nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.390Ký sự về trưởng lão Panasaphaladāyaka
THA-AP390 · 26 đoạnTrưởng lão Panasaphaladāyaka kể: đấng Giác Ngộ Ajjuna, bậc Hiền Trí đầy đủ tánh hạnh và khéo về định, đang ở núi Hi-mã-lạp; ông cầm trái mít jīvajīvaka to bằng một hũ nước, đặt vào chậu bằng lá và dâng lên bậc Đạo Sư. Nhờ đó, ông không rơi vào khổ cảnh trong suốt thời gian dài kể từ kiếp ấy.391Ký sự về trưởng lão Soṇakoṭivīsa
THA-AP391 · 62 đoạnTrưởng lão Soṇakoṭivīsa kể: vào thời đức Phật Vipassī, ông xây một hang động ở kinh thành Bandhumā cho Hội Chúng bốn phương, trải lót nền hang bằng vải và phát nguyện được làm hài lòng bậc Toàn Giác, được xuất gia và đạt Niết-bàn; ông luân hồi chín mươi kiếp trong chói sáng. Ở kiếp cuối, ông sinh làm con trai độc nhất của nhà bá hộ cao cả ở Campā, được cha ban hai chục koṭi tiền, có lông dài bốn ngón tay mọc ở lòng bàn chân; ông xuất gia, chứng quả A-la-hán và được đức Phật xác định là người đứng đầu trong số các vị tinh tấn.392Ký sự tên Pubbakammapilotika
THA-AP392 · 160 đoạnTại hồ Anotatta, trước hội chúng Tỷ-kheo, đức Phật tự kể các nghiệp quá khứ của chính Ngài và phần dư sót còn chín muồi ngay trong kiếp cuối: các lần vu cáo bậc thánh (Phật Độc Giác Sarabhū, đệ tử Nanda, ẩn sĩ Bhīma), giết người anh em vì tài sản, ném đá Phật Độc Giác, xua voi tấn công bậc hiền trí, giết người bằng cây thương, vui mừng khi cá bị giết, chê bai đệ tử của Phật Phussa, đánh gục con trai dòng Malla, cho thuốc xổ và lời khinh miệt thời Jotipāla. Quả dư sót gồm các vụ vu cáo vì Sundarikā và Ciñcā, đá của Devadatta làm dập ngón chân, voi Nālāgirī, đau đầu, ba tháng ăn lúa mạch ở Verañjā, đau lưng, tiêu chảy và sáu năm khổ hạnh ở Uruvelā.393Ký sự về trưởng lão Piḷindivaccha
THA-AP393 · 906 đoạnTrưởng lão Piḷindivaccha kể lại tiền thân của mình: khi làm người gác cổng giàu có ở thành Haṁsavatī, ông đã khéo léo xin vua Ānanda cho thỉnh đức Phật Padumuttara về nhà, rồi dâng cúng một trăm ngàn lọng che cùng mọi vật dụng chưa từng ai dâng trước đây. Đức Phật tiên đoán ông sẽ được đức Phật Gotama đặt vào vị thế tối thắng và được chư thiên, A-tu-la kính trọng. Phần lớn bài kinh liệt kê phước báu riêng của từng món vật dụng đã dâng — từ lọng che, vải, bình bát cho đến nhang thơm — và kết thúc bằng chứng đắc quen thuộc: phiền não đã thiêu đốt, ba minh thành tựu, bốn tuệ phân tích và sáu thắng trí đã chứng đắc.394Ký sự về trưởng lão Sela
THA-AP394 · 387 đoạnTrưởng lão Sela kể tiền thân: là vị chủ quản đường lộ ở thành Haṁsavatī, ông tập hợp thân quyến và đủ mọi hạng người trong thành cùng chung sức làm phước, xây hội trường dâng lên Hội Chúng và thỉnh mời đức Phật. Bài còn ghi cuộc gặp đạo sĩ Keṇiya đang chuẩn bị vật hiến cúng và những kệ dài tán thán đức Phật là chỗ nương tựa của người sợ hãi; nhờ các việc dâng cúng hội trường, ghế ngồi và vật dụng, ông hưởng quả lành nhiều kiếp và cuối cùng cắt đứt trói buộc, sống không còn lậu hoặc.395Ký sự về trưởng lão Sabbakittika
THA-AP395 · 119 đoạnTrưởng lão Sabbakittika, vị đạo sĩ mang búi tóc, thấy đức Phật Padumuttara tỏa sáng như cây kaṇikāra bốc cháy và như sư tử không sợ hãi; ông trải y vỏ cây dưới chân Ngài, thoa dầu thơm lên thân Ngài rồi ngợi ca Ngài bằng mười câu kệ về giới, tuệ và Pháp. Đức Phật thọ ký: nhờ việc tán dương ấy, ông sướng vui cõi trời sáu mươi ngàn kiếp, về sau xuất gia trong giáo pháp của đức Phật Gotama và chứng đắc giải thoát.396Ký sự về trưởng lão Madhudāyaka
THA-AP396 · 83 đoạnTrưởng lão Madhudāyaka sống ở am thất bên bờ sông Sindhu, dạy học trò về truyền thống. Khi đức Phật Sumedha đến gần, ông trải thảm cỏ và tự tay dâng mật ong rừng lên Ngài; đức Phật thọ dụng và thọ ký ông sẽ hưởng vui cõi trời ba mươi ngàn kiếp nhờ việc dâng mật ong và thảm cỏ ấy. Về sau ông không còn rơi vào đường dữ và chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.397Ký sự về trưởng lão Padumakūṭāgāriya
THA-AP397 · 135 đoạnTrưởng lão Padumakūṭāgāriya vốn là thợ săn; trong rừng, ông thấy đức Phật Piyadassī đang an trú, liền hái sen hồng trăm cánh, dựng ngôi nhà mái nhọn phủ đầy hoa sen và chăm sóc hoa tươi suốt bảy ngày cho Ngài. Đức Phật thọ ký quả lành lớn lao: cung điện bằng hoa được giữ trên hư không cho ông qua nhiều kiếp, và về sau, theo lời dạy của đức Phật Gotama, ông biết trọn các lậu hoặc và chứng đắc giải thoát.398Ký sự về trưởng lão Bakkula
THA-AP398 · 135 đoạnTrưởng lão Bakkula sống cùng học trò ở am thất trên núi Sobhita gần dãy Hi-mã-lạp. Khi đức Thế Tôn Anomadassī đến am và mắc bệnh gió, ông cùng học trò cấp tốc lên núi hái đủ loại thuốc, bào chế nước thuốc dâng lên và cơn bệnh của đức Phật nhanh chóng dứt. Nhờ việc dâng thuốc ấy, ông nhiều kiếp ít bệnh tật, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc giải thoát.399Ký sự về trưởng lão Girimānanda
THA-AP399 · 123 đoạnTrưởng lão Girimānanda mất vợ, mất con trai, rồi cha mẹ và anh trai cùng thiêu trên một giàn hỏa; sầu muộn làm ông gầy ốm, rối loạn tâm trí, vào rừng sống bằng trái cây rụng. Đức Phật Sumedha đến dạy ông bằng các ví dụ lữ khách trú mưa và rắn lột da: người thân đến rồi đi như khách qua đường, than khóc không đổi được gì; ông lìa bỏ mũi tên sầu, dâng hoa giri lên Ngài và được thọ ký chứng đắc giải thoát về sau.400Ký sự về trưởng lão Salalamaṇḍapiya
THA-AP400 · 30 đoạnBài ngắn của trưởng lão Salalamaṇḍapiya: sau khi đức Phật Kakusandha nhập Niết-bàn, ông lấy hoa salala làm thành mái che tôn kính Ngài. Nhờ nghiệp lành ấy, ông sinh lên cõi trời Đạo Lợi, được cung điện cao nhất, và hoa salala che cho ông cả ngày lẫn đêm dù đang đi hay đứng; kiếp này ông cúng dường đức Phật, không còn biết đường dữ và sống không còn lậu hoặc.401Ký sự về trưởng lão Sabbadāyaka
THA-AP401 · 114 đoạnTrưởng lão Sabbadāyaka ở trong cung điện hóa hiện bên bờ biển, có hồ sen và dòng sông đầy cá, rùa và chim nước. Ông đến đảnh lễ đức Phật Sumedha, thỉnh Ngài cùng Hội Chúng trăm ngàn Tỷ-kheo về cung điện, tiếp đón bằng nhạc ngũ âm, dâng cơm nước dồi dào và mỗi vị một xấp vải đôi. Đức Phật thọ ký: ông hưởng vui cõi trời, nhiều lần làm Chuyển Luân Vương, được lọng vàng che mọi lúc, và về sau chứng đắc giải thoát trong giáo pháp của đức Phật Gotama.402Ký sự về trưởng lão Ajita
THA-AP402 · 168 đoạnTrưởng lão Ajita kể: kiếp trước ông gặp đức Phật Padumuttara ngồi trong núi Hi-mã-lạp, nhận ra Ngài nhờ học vấn xưa, rồi dâng dầu madhu và thắp đèn cúng dường suốt bảy ngày đêm. Đức Phật thọ ký ông sẽ vui ở cõi trời sáu mươi ngàn kiếp, có Thiên nhãn thấy xa tám kosa, và về sau là đệ tử tên Ajita của đức Phật Gotama. Bài kệ kết thúc bằng phần tóm lược của phẩm Piḷindivaccha và của cả nhóm một trăm bài thứ tư.403Ký sự về trưởng lão Tissametteyya
THA-AP403 · 117 đoạnTrưởng lão Tissametteyya kể: kiếp trước ông là đạo sĩ Sobhita thờ lửa trong núi, mong sinh lên cõi Phạm Thiên. Đức Phật Padumuttara đến, xin lửa và củi, rồi dạy ông rằng ngọn lửa đáng chăm sóc là sự diệt tận các pháp nhân, sự lắng dịu các ô nhiễm và sự từ bỏ ganh tỵ, bỏn xẻn. Ông trải tấm da dê mời Ngài ngồi, dâng trái tinduka trộn mật ong; nhờ đó ông không hề thiếu thốn của cải và nay đã đoạn tận mọi lậu hoặc.404Ký sự về trưởng lão Puṇṇaka
THA-AP404 · 66 đoạnTrưởng lão Puṇṇaka kể: khi đức Phật đấng Tự Chủ nhập Niết-bàn trên núi, thú rừng rống lên và ánh sáng lạ xuất hiện; ông đến nơi, dựng giàn hỏa thiêu và hỏa táng thi thể Ngài, rưới nước thơm lên. Một vị Dạ-xoa đứng giữa không trung đặt tên cho ông là Puṇṇaka, và nhờ công việc ấy, sau chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay sống không còn lậu hoặc.405Ký sự về trưởng lão Mettagū
THA-AP405 · 110 đoạnTrưởng lão Mettagū kể: kiếp trước ông dâng bơ lỏng và dầu đầy bình bát của đức Phật Sumedha và nguyện đạt sự an lạc trọn vẹn cùng vị thế Bất Động. Đức Phật thọ ký ông sẽ vui ở cõi trời một ngàn tám trăm kiếp, nhiều lần làm Thiên Vương và Chuyển Luân Vương, của cải vô lượng như đại dương, trái đất. Kiếp này ông bỏ sáu mươi koṭi vàng để xuất gia, theo thầy Bāvarī rồi gặp đức Phật Gotama và đạt vị thế Bất Động như đã nguyện.406Ký sự về trưởng lão Dhotaka
THA-AP406 · 115 đoạnTrưởng lão Dhotaka kể: kiếp trước ông là vị Bà-la-môn Chaḷaṅga ở thành Haṁsavatī, thấy các sa-môn con Phật sáng chiều lội sông vất vả, ông bỏ một trăm ngàn để xây cầu trên sông Gaṅgā dâng đức Phật Padumuttara. Đức Phật thọ ký quả báu của việc dâng cầu: kẻ thù và kẻ cướp không áp chế được, không bị nóng bức, có xe voi, xe ngựa hiện ra theo ý muốn; kiếp này ông theo đức Phật Gotama và đạt sự diệt tận các lậu hoặc.407Ký sự về trưởng lão Upasiva
THA-AP407 · 251 đoạnTrưởng lão Upasiva kể lại khu ẩn cư kỳ vĩ của mình bên hồ nước thiên nhiên dưới núi Anoma: sông suối, hoa trái, cá chim và muôn loài cùng các vị ẩn sĩ có thần thông sống chung. Đức Phật Padumuttara đến khất thực; ông trải thảm cỏ, dâng trái mít thơm và thoa trầm hương. Đức Phật thọ ký vật thực sẽ hiện ra theo tâm nguyện của ông ở bất cứ nơi nào, ông sẽ vui ở cõi trời ba mươi ngàn kiếp và về sau theo đức Phật Gotama đạt giải thoát.408Ký sự về trưởng lão Nandaka
THA-AP408 · 90 đoạnTrưởng lão Nandaka kể: kiếp trước ông là thợ săn trong rừng rậm, gặp đấng Tự Chủ Anuruddha đi sâu vào rừng tìm chỗ vắng; ông dựng mái che bằng bốn cây gậy phủ hoa sen dâng Ngài, rồi quăng bỏ cây cung và xuất gia. Nhờ nghiệp ấy, ông sinh lên cõi trời Đẩu Suất, có xe trời thắng một ngàn con ngựa, mái che che mát trăm do-tuần, không hề bị nóng bức; kiếp này ông theo đức Phật Gotama và đạt sự diệt tận các lậu hoặc.409Ký sự về trưởng lão Hemaka
THA-AP409 · 167 đoạnTrưởng lão Hemaka kể: kiếp trước ông là học trò của đạo sĩ Anoma, được đức Phật Piyadassī đến khu ẩn cư giáo giới; ông hóa hiện chiếc ghế đẩu toàn bằng châu báu dâng Ngài cùng trái mận đỏ to bằng bầu nước. Đức Phật thọ ký: ông sẽ vui ở cõi trời bảy mươi bảy kiếp, được vô số ghế bành bằng vàng bạc châu báu, sáu mươi ngàn voi, ngựa, xe và bò sữa hộ tống; kiếp này ông gặp đức Phật Gotama, đoạn tận mọi lậu hoặc và không còn tái sinh.410Ký sự về trưởng lão Todeyya
THA-AP410 · 214 đoạnTrưởng lão Todeyya kể thời ông còn là vua Vijaya ở kinh thành Ketumatī: chán ghét chiến tranh và vương quyền, ông từ bỏ voi ngựa, xe cộ, bò sữa, cung nữ và làng mạc để xuất gia ở Hy-mã-lạp. Ông thoa trầm hương cúng dường đức Phật Sumedha, được Ngài thọ ký sẽ thành đệ tử của Bà-la-môn Bāvarī, hỏi những câu hỏi khôn khéo và chứng đắc giải thoát.411Ký sự về trưởng lão Jatukaṇṇi
THA-AP411 · 218 đoạnTrưởng lão Jatukaṇṇi kể thời ông là con trai nhà triệu phú ở Hamsavatī, sống giữa nhạc vũ và đủ hạng người tìm đến nhà. Khi đức Phật Padumuttara ngự đến, ông thỉnh Ngài về nhà, phục vụ bằng nhạc và cơm nước, được thọ ký sẽ gặp đức Phật Gotama, xuất gia và sống an tịnh không còn mầm tái sinh.412Ký sự về trưởng lão Udena
THA-AP412 · 208 đoạnTrưởng lão Udena kể thời ông sống ẩn cư ở núi Paduma gần Hy-mã-lạp và cúng dường đức Phật. Nhờ phước ấy ông trải qua nhiều kiếp an lạc, cuối cùng chứng đắc tuệ phân tích và thắng trí. Cuối phẩm Metteyya có phần tóm lược liệt kê mười vị trưởng lão của phẩm và tổng số câu kệ.413Ký sự về trưởng lão Bhaddāli
THA-AP413 · 133 đoạnTrưởng lão Bhaddāli kể việc ông gặp đức Phật Sumedha, bậc bi mẫn đến Hy-mã-lạp tìm nơi độc cư, và tán dương trí tuệ của Ngài. Nhờ đó, ở mọi nơi tái sinh ông đều được sung sướng, kiếp cuối ông dập tắt ba lửa tham sân si, thiêu đốt phiền não và chứng đắc tam minh cùng tuệ phân tích.414Ký sự về trưởng lão Ekachattiya
THA-AP414 · 190 đoạnTrưởng lão Ekachattiya kể thời ông ẩn cư bên sông Candabhāgā và dâng cúng đức Phật một chiếc lọng (dù) duy nhất. Nhờ phước ấy ông được hưởng nhiều kiếp an lạc làm trời và người, làm Chuyển Luân Vương, và kiếp cuối chứng đắc tuệ phân tích, không còn lậu hoặc.415Ký sự về trưởng lão Tiṇasūlakachadaniya
THA-AP415 · 111 đoạnTrưởng lão Tiṇasūlakachādaniya kể: sau khi suy xét về sinh, già, chết, ông xuất gia sống độc cư và lấy cỏ cùng lá che phủ chỗ ở khi cúng dường đức Phật. Nhờ đó ông trải qua nhiều kiếp không biết khổ cảnh, kiếp cuối thiêu đốt phiền não và chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.416Ký sự về trưởng lão Madhumaṁsadāyaka
THA-AP416 · 50 đoạnTrưởng lão Madhumaṁsadāyaka kể thời ông là người bán thịt heo ở Bandhumatī: ông nấu món thịt ngọt, đựng đầy một bình bát dâng lên hội chúng Tỷ-kheo và được vị trưởng lão chúc phúc. Nhờ đó ông sinh cõi trời Đạo Lợi, luôn có mưa cơm nước, và kiếp cuối biết rõ các lậu hoặc, sống không còn lậu hoặc.417Ký sự về trưởng lão Nāgapallavaka
THA-AP417 · 26 đoạnTrưởng lão Nāgapallavaka kể ngắn gọn: ông sống ở vườn thượng uyển thành Bandhumatī, khi đấng Lãnh Đạo Thế Gian ngồi gần chỗ ở của ông, ông dâng cúng mầm (chồi) cây nāga. Nhờ đó ông chứng đắc tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí trong kiếp cuối.418Ký sự về trưởng lão Ekadīpiya
THA-AP418 · 74 đoạnTrưởng lão Ekadīpiya kể: khi đức Phật Siddhattha viên tịch, chư Thiên và loài người cùng cúng dường bậc Tối Thượng Trong Hai Loại Chúng Sinh; ông thắp một ngọn đèn cúng dường. Nhờ phước ấy ông trải qua nhiều kiếp an lạc, kiếp cuối thiêu đốt phiền não và chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.419Ký sự về trưởng lão Ucchaṅgapupphiya
THA-AP419 · 30 đoạnTrưởng lão Ucchaṅgapupphiya kể: khi là người làm tràng hoa ở thành Bandhumatī, ông lấy bông hoa chất bên hông dâng lên đức Phật Vipassī. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, và nay các phiền não đã thiêu đốt hết, ông sống không còn lậu hoặc.420Ký sự về trưởng lão Yāgudāyaka
THA-AP420 · 86 đoạnTrưởng lão Yāgudāyaka kể: sông lũ khiến các vị Tỷ-kheo sống ở rừng không đi khất thực được, ông liền lấy gạo của mình nấu cháo dâng cho năm vị. Nhờ đó ông nhiều lần làm chúa chư Thiên và Chuyển Luân Vương, kiếp cuối xuất gia chứng quả A-la-hán, và hưởng năm lợi ích của việc dâng cháo: không bệnh, sắc đẹp, chuyên chú Pháp, đủ cơm nước và tuổi thọ.421Ký sự về trưởng lão Patthodanadāyaka
THA-AP421 · 58 đoạnTrưởng lão Patthodanadāyaka kể: khi là người đi rừng, ông gặp đức Phật Tự Chủ từ rừng đi ra khất thực và dâng gói cơm mang theo của mình. Nhờ đó ông ba mươi sáu lần làm chúa chư Thiên, ba mươi ba lần làm Chuyển Luân Vương, tài sản nhiều như dòng sông, và suốt chín mươi bốn kiếp không rơi vào khổ cảnh.422Ký sự về trưởng lão Mañcadāyaka
THA-AP422 · 64 đoạnTrưởng lão Mañcadāyaka kể: sau thời đức Phật Siddhattha nhập diệt, ông là thợ đóng ghế thuộc giai cấp hạ tiện, tự tay làm một chiếc ghế dài khéo đẹp dâng cho hội chúng Tỷ-kheo. Nhờ đó, giường nằm quý giá tự hiện ra cho ông mọi kiếp, ông năm mươi lần làm chúa chư Thiên, tám mươi lần làm Chuyển Luân Vương, và suốt chín mươi bốn kiếp không rơi vào khổ cảnh. Bài kết thúc phẩm Bhaddāli với phần tóm lược danh sách các trưởng lão trong phẩm.423Ký sự về trưởng lão Sakiṁsammajjaka
THA-AP423 · 61 đoạnTrưởng lão Sakiṁsammajjaka kể: ông cầm chổi quét dọn quanh cội Bồ Đề của đức Phật Vipassī rồi đảnh lễ cây Pāṭalī; trên đường về ông bị trăn nuốt nhưng được sinh lên cõi trời. Quả của việc quét dọn là tâm luôn trong sạch, không bệnh tật, không sầu muộn, và tầng định nào muốn cũng tự thành tựu.424Ký sự về trưởng lão Ekadussadāyaka
THA-AP424 · 86 đoạnTrưởng lão Ekadussadāyaka kể: khi là người gánh cỏ nghèo ở thành Haṁsavatī, ông chỉ có một tấm vải choàng duy nhất và dâng lên đức Phật Padumuttara với lời nguyện xin được đưa qua bờ. Đức Phật thọ ký ông một trăm ngàn kiếp không rơi vào đọa xứ; từ đó vải vóc không bao giờ thiếu, mỗi bước chân đều có vải hiện ra.425Ký sự về trưởng lão Ekāsanadāyaka
THA-AP425 · 102 đoạnTrưởng lão Ekāsanadāyaka kể: khi là ẩn sĩ Nārada ở núi Gosita, ông trải giường gỗ và tấm da dê mời đức Phật Padumuttara ngồi và xin Ngài chữa trị cơn bệnh của mình. Đức Phật thọ ký ông một trăm ngàn kiếp không rơi vào đọa xứ; từ đó ghế ngồi tự hiện ra mọi nơi ông muốn, và kiếp cuối ông nắm lấy chiếc ghế bành Giáo Pháp, sống không còn lậu hoặc.426Ký sự về trưởng lão Sattakadambapupphiya
THA-AP426 · 30 đoạnTrưởng lão Sattakadambapupphiya kể: ở sườn núi gần Hi-mã-lạp, nơi bảy vị Phật từng cư ngụ, ông hái bảy bông hoa kadamba tung lên cúng dường với tâm nghĩ về phước báu. Nhờ đó, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh và nay phiền não đã thiêu đốt hết.427Ký sự về trưởng lão Koraṇḍapupphiya
THA-AP427 · 42 đoạnTrưởng lão Koraṇḍapupphiya kể: ông là thợ rừng sống bằng nghề giết thú; đức Phật Tissa vì thương tưởng đã lưu lại ba dấu bàn chân gần chỗ ông ở. Ông khởi tâm tịnh tín, hái hoa koraṇḍa cúng dường nơi dấu chân cao nhất; nhờ đó da ông luôn có màu hoa koraṇḍa sáng ngời và suốt chín mươi hai kiếp không rơi vào khổ cảnh.428Ký sự về trưởng lão Ghatamaṇḍadāyaka
THA-AP428 · 42 đoạnTrưởng lão Ghatamaṇḍadāyaka kể: ông dâng bơ lỏng nguyên chất cho đức Phật Sucintita đang bị bệnh gió hành hạ trong khu rừng lớn. Quả lành thật lạ: sông và biển tự cung cấp bơ cho ông, đất trở thành mật ngọt, cây cối trở thành cây như ý; ông năm mươi lần làm chúa chư Thiên, năm mươi mốt lần làm Chuyển Luân Vương, và suốt chín mươi bốn kiếp không rơi vào khổ cảnh.429Ký sự về trưởng lão Ekadhammasavaṇiya
THA-AP429 · 82 đoạnTrưởng lão Ekadhammasavaṇiya kể: khi là đạo sĩ tóc bện bay trên hư không, ông không thể bay qua phía trên đức Phật Padumuttara, liền đáp xuống và tình cờ nghe Ngài thuyết về vô thường — chỉ một pháp ấy. Ông ghi nhớ nhận biết vô thường suốt nhiều kiếp; đến kiếp cuối, nghe lại câu kệ vô thường lúc bảy tuổi, ông nhớ lại và chứng quả A-la-hán ngay tại chỗ ngồi.430Ký sự về trưởng lão Sucintita
THA-AP430 · 141 đoạnTrưởng lão Sucintita kể: khi là nông dân ở Haṁsavatī, ông tự nhủ không nên ăn lúa mới trước khi dâng cúng, liền mang lúa đến thỉnh đức Phật Padumuttara. Đức Phật dạy nên xác định dâng cho Hội Chúng rồi đưa các Tỷ-kheo về nhà dâng cúng; ông làm đúng như vậy và thọ hưởng tám điều lợi ích, tài sản không lường được, ba trăm lần cai quản Thiên quốc và năm trăm lần làm Chuyển Luân Vương.431Ký sự về trưởng lão Soṇṇakiṅkaṇiya
THA-AP431 · 70 đoạnTrưởng lão Soṇṇakiṅkaṇiya kể: khi là vị tu khổ hạnh mang y vỏ cây, sức lực cạn kiệt vì bệnh nặng, ông tưởng nhớ đức Phật Atthadassī, dựng một bảo tháp trên bãi cát và tự tay rải hoa kiṅkaṇī bằng vàng lên tháp. Nhờ đó ông hưởng an lạc bao la ở cõi trời, năm mươi tám lần cai quản Thiên quốc, bảy mươi mốt lần làm Chuyển Luân Vương, và suốt một ngàn tám trăm kiếp không rơi vào khổ cảnh.432Ký sự về trưởng lão Soṇṇakontarika
THA-AP432 · 64 đoạnTrưởng lão Soṇṇakontarika kể: ông lấy nước bằng cái bầu, đến rửa chân đức Phật Padumuttara và dâng bầu nước; theo lời Ngài dạy, ông đặt nước ở cạnh bàn chân Ngài. Đức Phật tùy hỷ thọ ký ý định của ông thành tựu; từ đó ngày đêm luôn có người cầm cây gậy vàng đứng trước ông — việc làm nhỏ trở thành quả lớn. Bài kết thúc phẩm Sakiṁsammajjaka với phần tóm lược.433Ký sự về trưởng lão Ekavihāriya
THA-AP433 · 53 đoạnBài mở đầu phẩm Ekavihāri ca ngợi đức Phật Kassapa của kiếp Bhadda: bậc không chướng ngại, tâm như hư không, thường trú không tánh, có tâm đại bi và rành phương thức huấn luyện. Người kể nghe Pháp của Ngài, xuất gia, rồi vì bị quấy rối bởi sự chung đụng nên sống một mình trong rừng đáng yêu; sự yên tịnh của thân trở thành nhân duyên cho sự yên tịnh của tâm, và ông chứng đắc giải thoát.434Ký sự về trưởng lão Ekasaṁkhiya
THA-AP434 · 54 đoạnTrưởng lão Ekasaṁkhiya kể: trong lễ hội ở cội Đại Bồ Đề của đức Phật Vipassī, ông suy luận vị có cội Bồ Đề được cúng dường như thế hẳn là đức Phật tối thượng, liền cầm tù và vỏ ốc phục vụ và thổi suốt ngày bên cội Bồ Đề. Nhờ đó nhạc cụ luôn vang lên quanh ông mọi kiếp — ngay cả khi còn trong bụng mẹ — và ông đạt đến vị thế bất động.435Ký sự về trưởng lão Pāṭihīrasaññaka
THA-AP435 · 38 đoạnTrưởng lão Pāṭihīrasaññaka kể: khi đức Phật Padumuttara vào thành, do năng lực của Ngài, trống không ai vỗ cũng vang lên, đàn vīṇā tự phát ra âm thanh. Chứng kiến điều kỳ diệu ấy, ông khởi tâm tịnh tín và suy tưởng về đức Phật; nhờ đó suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.436Ký sự về trưởng lão Ñāṇatthavika
THA-AP436 · 38 đoạnTrưởng lão Ñāṇatthavika kể: thấy đức Phật sáng rực như cây kaṇikāra cháy sáng, như cây đèn, như vàng tỏa sáng, ông đặt xuống đồ đạc, khoác da dê một bên vai và nói lời ngợi ca trí tuệ của Ngài — bậc đã xua tan bóng tối si mê và thể hiện ánh sáng trí tuệ. Nhờ đó, suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.437Ký sự về trưởng lão Ucchukhaṇḍika
THA-AP437 · 26 đoạnTrưởng lão Ucchukhaṇḍika kể: khi là người gác cổng ở thành Bandhumatī, ông thấy đức Phật Vipassī và dâng lên Ngài một khúc mía với tâm tịnh tín, vui mừng. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.438Ký sự về trưởng lão Kalambadāyaka
THA-AP438 · 22 đoạnTrưởng lão Kalambadāyaka kể ngắn gọn: ông tự tay dâng một bông hoa kalamba lên đức Phật Romaso đang ngụ trong vùng đồi núi. Nhờ đó, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.439Ký sự về trưởng lão Ambāṭakadāyaka
THA-AP439 · 22 đoạnTrưởng lão Ambāṭakadāyaka kể ngắn gọn: gặp đức Phật Tự Chủ, bậc không bị đánh bại, trong rừng, ông cầm trái cây ambāṭaka dâng lên Ngài. Nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.440Ký sự về trưởng lão Harītakadāyaka
THA-AP440 · 50 đoạnTrưởng lão Harītakadāyaka kể: ông mang nhiều loại trái cây và thấy bậc Đại Hiền Trí đang bị bệnh hành hạ, không người phục vụ nơi sườn núi; ông dâng trái harītaka làm thuốc, cơn bệnh lắng dịu ngay. Đức Phật nói lời tùy hỷ chúc ông an vui ở mọi nơi và không bệnh hoạn; nhờ việc dâng thuốc ấy, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.441Ký sự về trưởng lão Ambapiṇḍiya
THA-AP441 · 38 đoạnTrưởng lão Ambapiṇḍiya kể: kiếp xưa là voi chúa ngà dài đi trong rừng lớn, ông gặp đức Phật Siddhattha và dâng một chùm xoài; Ngài thọ lãnh và thọ dụng trong lúc ông trầm tư ngắm nhìn. Nhờ tâm tịnh tín ấy, ông sanh lên cõi trời Đẩu Suất, rồi làm Chuyển Luân Vương, và suốt chín mươi bốn kiếp không rơi vào khổ cảnh.442Ký sự về trưởng lão Jambuphaliya
THA-AP442 · 40 đoạnTrưởng lão Jambuphaliya kể: ông hái trái cây đầu mùa và với tâm trong sạch dâng lên đức Phật Padumuttara khi Ngài đi khất thực. Nhờ nghiệp ấy, ông từ bỏ sự hơn thua, đạt vị thế bất động, và suốt một trăm ngàn kiếp không rơi vào khổ cảnh.443Ký sự về trưởng lão Vibhīṭakamiñjiya
THA-AP443 · 33 đoạnTrưởng lão Vibhīṭakamiñjiya kể: ông buộc phần hột và ruột của trái vibhīṭaka bằng dây leo và dâng lên đức Phật Kakusandha đang tham thiền trong vùng đồi núi. Nhờ việc dâng cúng nhỏ bé ấy, ngay trong chính kiếp này ông đã thoát mọi khổ cảnh.444Ký sự về trưởng lão Koladāyaka
THA-AP444 · 30 đoạnTrưởng lão Koladāyaka kể: khi là ẩn sĩ mặc y vỏ cây và da dê, ông mang một túi nặng trái táo về lều; đức Phật Sikhī biết rõ mọi thời điểm đã đến lều của ông. Ông tịnh tín tâm, đảnh lễ Ngài và nâng trái táo bằng cả hai tay dâng lên; nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.445Ký sự về trưởng lão Billaphaliya
THA-AP445 · 30 đoạnTrưởng lão Billaphaliya kể: lều của ông bên bờ sông Candabhāgā rải rác cây billa; thấy trái billa thơm ngát, ông tưởng nhớ đức Phật, hớn hở chất đầy gói và dâng trái chín lên đức Phật Kakusandha với tâm trong sạch. Nhờ đó, ngay trong chính kiếp này ông đã thoát mọi khổ cảnh.446Ký sự về trưởng lão Bhallātakadāyaka
THA-AP446 · 38 đoạnTrưởng lão Bhallātakadāyaka kể: thấy đức Phật Atthadassī đi trên chóp đỉnh rừng như cây sālā chúa trổ hoa, ông trải tấm cỏ, thỉnh Ngài xuống lều và dâng trái bhallātaka; Ngài thọ dụng trong lúc ông trầm tư ngắm nhìn, rồi ông đảnh lễ Ngài. Nhờ đó, suốt một ngàn tám trăm kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.447Ký sự về trưởng lão Uttalipupphiya
THA-AP447 · 22 đoạnTrưởng lão Uttalipupphiya kể ngắn gọn: ông lấy một tràng hoa uttalī dâng lên cội Bồ-đề là cây Nigrodha xanh tươi. Nhờ việc cúng dường cội Bồ-đề ấy, ngay trong chính kiếp này ông đã thoát mọi khổ cảnh.448Ký sự về trưởng lão Ambāṭakiya
THA-AP448 · 26 đoạnTrưởng lão Ambāṭakiya kể ngắn gọn: đức Phật Vessabhū vào rừng sālā đang trổ hoa và ngồi nơi hiểm trở của ngọn núi như sư tử cao quý; ông tự tay cúng dường trái ambāṭaka lên Ngài với tâm tịnh tín, vui mừng. Nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.449Ký sự về trưởng lão Sīhāsanika
THA-AP449 · 34 đoạnTrưởng lão Sīhāsanika kể: với tâm tịnh tín, vui mừng, ông dâng bảo tọa sư tử lên đức Phật Padumuttara, bậc tìm lợi ích cho mọi chúng sanh. Nhờ đó, ở cõi chư Thiên hay cõi người ông đều được cung điện rộng lớn và những ghế bành bằng vàng, bạc, hồng ngọc, ngọc ma-ni; suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.450Ký sự về trưởng lão Pādapīṭhiya
THA-AP450 · 46 đoạnTrưởng lão Pādapīṭhiya kể: với tâm tịnh tín, vui mừng, ông làm ghế kê chân bên cạnh bảo tọa sư tử của đức Phật Sumedha, bậc đã giúp nhiều chúng sanh vượt qua rồi vào Niết-bàn. Nhờ phước ấy, ở cõi trời Đạo Lợi và mọi nơi ông đi, ghế đẩu vàng hiện ra cho ông; suốt ba mươi ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.451Ký sự về trưởng lão Vedikāraka
THA-AP451 · 34 đoạnTrưởng lão Vedikāraka kể: ông làm viền rào khéo léo quanh cội Bồ-đề của đức Phật Padumuttara và làm tâm mình tịnh tín. Nhờ đó, các vật dụng sang trọng từ không trung rơi xuống, giữa trận chiến ông không hề sợ hãi, cung điện xinh đẹp với giường quý hiện ra theo ước muốn; suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.452Ký sự về trưởng lão Bodhighariya
THA-AP452 · 60 đoạnTrưởng lão Bodhighariya kể: với tâm tịnh tín, ông cho làm căn nhà nơi cội Bồ-đề của đức Phật Siddhattha. Nhờ đó ông sanh lên cõi trời Đẩu Suất, sống trong ngôi nhà châu báu không lạnh không nóng; từng là Chuyển Luân Vương với thành phố và lâu đài do vị Trời Vissakamma hóa hiện, toàn bằng vàng, ngọc ma-ni và bạc; nay ông đạt đến Niết-bàn, vị thế an tịnh không gì hơn được.453Ký sự về trưởng lão Jagatidāyaka
THA-AP453 · 37 đoạnTrưởng lão Jagatidāyaka kể: với tâm tịnh tín, ông cho làm nền đất nơi cội Bồ-đề của bậc Hiền Trí Dhammadassī. Nhờ đó, dù ngã từ vực thẳm, từ núi hay từ cây xuống ông đều có chỗ nâng đỡ; trộm cướp không áp bức, vua chúa không khinh thường, ông vượt trội mọi kẻ thù và được tôn vinh ở mọi nơi sanh về.454Ký sự về trưởng lão Morahatthiya
THA-AP454 · 34 đoạnTrưởng lão Morahatthiya kể: ông cầm cánh quạt lông công đến dâng đức Phật với tâm tịnh tín. Nhờ tác ý và nguyện lực ấy, ba ngọn lửa tham, sân, si trong ông được dập tắt, ông đạt sự an lạc lớn lao; các lậu hoặc đã đoạn tận, không còn tái sanh, và suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.455Ký sự về trưởng lão Sīhāsanavījaka
THA-AP455 · 22 đoạnTrưởng lão Sīhāsanavījaka kể: ông đảnh lễ cội Bồ-đề của đức Thế Tôn Tissa, rồi lấy quạt hầu quạt bảo tọa sư tử ở nơi ấy. Nhờ phước hầu quạt, suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.456Ký sự về trưởng lão Ti-ukkādhāraka
THA-AP456 · 22 đoạnTrưởng lão Ti-ukkādhāraka kể: với tâm tịnh tín, ông cầm ba ngọn đuốc ở cội Bồ-đề của đức Phật Padumuttara. Nhờ phước dâng đuốc, suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.457Ký sự về trưởng lão Akkamanadāyaka
THA-AP457 · 22 đoạnTrưởng lão Akkamanadāyaka kể: ông dâng tấm lót chân đến đấng Hiền Trí Kakusandha, vị Bà-la-môn toàn hảo, trong lúc Ngài nghỉ ngơi giữa ngày. Nhờ phước ấy, ngay trong kiếp này ông không còn biết đến khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.458Ký sự về trưởng lão Vanakoraṇḍiya
THA-AP458 · 23 đoạnTrưởng lão Vanakoraṇḍiya kể: ông cầm bông hoa koraṇḍa rừng dâng lên đức Thế Tôn Siddhattha, bậc Trưởng Thượng của thế gian. Nhờ phước cúng dường đức Phật, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.459Ký sự về trưởng lão Ekachattiya
THA-AP459 · 50 đoạnTrưởng lão Ekachattiya kể: giữa mặt đất nóng như than hừng, đức Phật Padumuttara đi kinh hành ngoài trời; ông cầm chiếc lọng trắng đi đường xa đến, dâng lên Ngài để che lạnh, nóng và gió. Nhờ đó ông làm Chúa chư Thiên ba mươi kiếp, Chuyển Luân Vương năm trăm lần, và đến nay chiếc lọng trắng vẫn được cầm che cho ông trong mọi thời điểm.460Ký sự về trưởng lão Jātipupphiya
THA-AP460 · 38 đoạnTrưởng lão Jātipupphiya kể: khi đức Thế Tôn Padumuttara viên tịch, ông làm những vòng hoa đội đầu đặt lên nhục thân Ngài, rồi làm tâm tịnh tín và sanh về cõi Hóa Lạc Thiên. Nhờ phước cúng dường hoa, mưa hoa từ bầu trời rơi xuống cho ông vào mọi thời điểm, ở cõi người ông là vị vua có danh vọng lớn lao, và ngay hôm nay mưa hoa vẫn rơi cho ông vào mọi lúc.461Ký sự về trưởng lão Paṭṭipupphiya
THA-AP461 · 22 đoạnTrưởng lão Paṭṭipupphiya kể: khi nhục thân đức Phật được đưa đi, tiếng trống đang vang lên, ông cúng dường bông hoa paṭṭi với tâm tịnh tín, vui mừng. Nhờ phước cúng dường nhục thân, suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.462Ký sự về trưởng lão Gandhapūjaka
THA-AP462 · 32 đoạnTrưởng lão Gandhapūjaka kể: khi giàn hỏa thiêu đức Phật đang được thực hiện và các vật thơm nhiều loại được mang lại, ông cúng dường một nắm vật thơm với tâm tịnh tín, vui mừng. Nhờ phước cúng dường lễ hỏa táng, suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.463Ký sự về trưởng lão Sālakusumiya
THA-AP463 · 25 đoạnTrưởng lão Sālakusumiya kể: khi đức Thế Tôn Padumuttara viên tịch và được đặt lên giàn hỏa thiêu, ông cúng dường bông hoa sālā. Nhờ phước cúng dường lễ hỏa táng, suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh; nay các lậu hoặc đã đoạn tận và ông sống không còn lậu hoặc.464Ký sự về trưởng lão Citakapūjaka
THA-AP464 · 22 đoạnTrưởng lão Citakapūjaka kể: khi đức Thế Tôn Sikhī, đấng quyến thuộc của thế gian, đang được hỏa thiêu, ông dâng lên giàn hỏa thiêu tám bông hoa campaka. Nhờ phước ấy, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.465Ký sự về trưởng lão Citakanibbāpaka
THA-AP465 · 22 đoạnTrưởng lão Citakanibbāpaka kể: khi nhục thân của bậc Đại Ẩn Sĩ Vessabhū đang được đốt cháy, ông cầm nước thơm làm nguội giàn hỏa thiêu. Nhờ phước nước thơm ấy, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.466Ký sự về trưởng lão Setudāyaka
THA-AP466 · 22 đoạnTrưởng lão Setudāyaka kể: khi đức Thế Tôn Vipassī đang đi kinh hành ở trước mặt, với tâm tịnh tín, vui mừng, ông cho thực hiện cây cầu. Nhờ phước dâng cây cầu, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.467Ký sự về trưởng lão Sumanatālavaṇṭiya
THA-AP467 · 22 đoạnTrưởng lão Sumanatālavaṇṭiya kể: ông dâng chiếc quạt lá cọ phủ đầy hoa nhài đến đức Thế Tôn Siddhattha và mang danh vọng lớn lao. Nhờ phước chiếc quạt, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.468Ký sự về trưởng lão Avaṇṭaphaliya
THA-AP468 · 26 đoạnTrưởng lão Avaṇṭaphaliya kể: đức Thế Tôn Sataraṁsī, đấng Tự Chủ không bị đánh bại, ưa thích độc cư, ra đi khất thực; ông cầm trái cây trên tay, đến gặp đấng Nhân Ngưu và dâng trái avaṇṭa với tâm tịnh tín. Nhờ phước dâng trái cây, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.469Ký sự về trưởng lão Labujadāyaka
THA-AP469 · 34 đoạnTrưởng lão Labujadāyaka kể: khi là người phụ việc tu viện ở thành Bandhumatī, ông thấy đức Phật đang di chuyển trên không trung, liền cầm trái mít dâng lên; bậc có danh vọng lớn lao thọ lãnh ngay giữa không trung. Nhờ đó ông đạt niềm vui lớn và sự an lạc thù thắng, tái sanh nơi nào cũng có châu báu hiện lên, và suốt chín mươi mốt kiếp không rơi vào khổ cảnh.470Ký sự về trưởng lão Pilakkhaphaladāyaka
THA-AP470 · 22 đoạnTrưởng lão Pilakkhaphaladāyaka kể: sau khi nhìn thấy đức Phật Atthadassī, bậc có danh vọng lớn lao, ở cuối rừng, với tâm tịnh tín, vui mừng, ông dâng lên trái của cây sung. Nhờ phước dâng trái cây, suốt một ngàn tám trăm kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.471Ký sự về trưởng lão Sayampaṭibhāṇiya
THA-AP471 · 58 đoạnTrưởng lão Sayampaṭibhāṇiya cất lời ca ngợi đức Phật bằng mười câu hỏi lặp đi lặp lại: ai nhìn thấy đấng Nhân Ngưu chói sáng như cây kakudha, bậc xua tan tăm tối, đánh trống Giáo Pháp, gầm tiếng sư tử, làm cho đất bằng phẳng và chúng sanh hiểu rõ, mà không sanh tâm tịnh tín? Nhờ phước ca ngợi đức Phật, suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.472Ký sự về trưởng lão Nimittavyākaraṇiya
THA-AP472 · 68 đoạnTrưởng lão Nimittavyākaraṇiya kể: xưa ông là Bà-la-môn ở núi Hi-mã-lạp với năm mươi bốn ngàn đệ tử tinh thông kinh Vệ-đà. Khi điềm lành xuất hiện — đất chuyển động, người mù được sáng mắt — ông giải thích đó là dấu hiệu đức Phật tối thượng sắp ra đời, trấn an dân chúng và thuyết giảng năm giới cấm. Nhờ phước giải thích điềm báo, suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.473Ký sự về trưởng lão Naḷamāliya
THA-AP473 · 33 đoạnTrưởng lão Naḷamāliya kể: ông nhìn thấy bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, đấng Lãnh Đạo Thế Gian, đang di chuyển trên chóp đỉnh khu rừng; cầm tràng hoa sậy trên tay, ông cúng dường đến đấng Đại Hùng, bậc xứng đáng cúng dường, vị thương tưởng tất cả thế gian. Nhờ phước cúng dường đức Phật, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.474Ký sự về trưởng lão Maṇipūjaka
THA-AP474 · 90 đoạnTrưởng lão Maṇipūjaka kể: bên hồ lớn gần núi Hi-mã-lạp, ông thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian Padumuttara bay trên không trung, chói sáng như bông hoa súng; không tìm được hoa, ông lấy viên ngọc ma-ni trên đầu mình cúng dường và nguyện quả lành. Đức Phật thọ ký cho ông danh vọng lớn lao: ông làm Chúa chư Thiên sáu mươi kiếp, Chuyển Luân Vương hàng trăm lần, tám mươi sáu ngàn người vợ vây quanh, mọi vật dụng bằng vàng, ngọc ma-ni, hồng ngọc hiện ra theo ước muốn, và nay ông đạt vị thế Bất Động.475Ký sự về trưởng lão Ukkāsatika
THA-AP475 · 66 đoạnTrưởng lão Ukkāsatika kể: dẫn đầu nhóm phụ nữ vào núi Hi-mã-lạp, ông thấy đức Phật Kosika như mặt trăng ngày rằm đang thiền ở núi Cittakūṭa; ông cầm một trăm ngọn đuốc đặt vòng quanh Ngài, đứng hầu bảy ngày đêm, rồi dâng một phần vật thực khi Ngài xuất thiền và được sanh lên cõi trời Đẩu Suất. Về sau ông là Chuyển Luân Vương năm mươi lăm kiếp với thành phố Sobhana toàn bằng vàng, luôn có ánh sáng quanh mình một trăm do-tuần ngày cũng như đêm.476Ký sự về trưởng lão Sumanavījaniya
THA-AP476 · 22 đoạnTrưởng lão Sumanavījaniya kể: ông cầm cây quạt hoa nhài ở cội Bồ-đề của đức Thế Tôn Vipassī và quạt mát cội Bồ-đề cao nhất. Nhờ phước hầu quạt, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.477Ký sự về trưởng lão Kummāsadāyaka
THA-AP477 · 22 đoạnTrưởng lão Kummāsadāyaka kể: trong khi bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī đang đi tìm kiếm vật thực, ông nhìn thấy bình bát của Ngài trống không và đặt đầy sữa đông vào. Nhờ phước sữa đông, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.478Ký sự về trưởng lão Kusaṭṭhadāyaka
THA-AP478 · 22 đoạnTrưởng lão Kusaṭṭhadāyaka kể: với tâm tịnh tín, vui mừng, ông dâng cúng tám thẻ vật thực đến đức Thế Tôn Kassapa, vị Bà-la-môn toàn hảo. Nhờ phước ấy, ngay trong chính kiếp này ông không biết đến khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.479Ký sự về trưởng lão Giripunnāgiya
THA-AP479 · 22 đoạnTrưởng lão Giripunnāgiya kể: lúc bậc Toàn Giác Sobhita cư ngụ tại núi Cittakūṭa, ông hái bông hoa nguyệt quế mọc ở núi và cúng dường đến đấng Tự Chủ. Nhờ phước cúng dường đức Phật, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.480Ký sự về trưởng lão Vallikāraphaladāyaka
THA-AP480 · 22 đoạnTrưởng lão Vallikāraphaladāyaka kể: lúc bậc Toàn Giác Sumana cư ngụ tại thành Takkarā, ông cầm trái cây vallikāra dâng cúng đến đấng Tự Chủ. Nhờ phước dâng trái cây, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.481Ký sự về trưởng lão Pānadhidāyaka
THA-AP481 · 78 đoạnTrưởng lão Pānadhidāyaka kể: khi đức Thế Tôn Anomadassī rời chỗ nghỉ trưa bước lên đường, ông mang đôi dép khéo làm đến đặt dưới chân Ngài và thỉnh Ngài bước lên. Đức Phật bước lên đôi dép và thọ ký: người dâng dép sẽ cai quản Thiên quốc năm mươi lăm lần, làm Chuyển Luân Vương một ngàn lần, và trong thời đức Phật Gotama sẽ là người thừa tự Giáo Pháp, biết rõ tất cả lậu hoặc và vào Niết-bàn. Ông xuất gia bằng xe ngựa và chứng A-la-hán ngay khi tóc đang được cạo.482Ký sự về trưởng lão Pulinacaṅkamiya
THA-AP482 · 36 đoạnTrưởng lão Pulinacaṅkamiya kể: xưa ông là thợ săn thú rừng, trong lúc tìm linh dương ông nhìn thấy con đường kinh hành; với tâm tịnh tín, vui mừng, ông ôm cát bằng vạt y và rải lên đường kinh hành của đấng Thiện Thệ quang vinh. Nhờ phước rải cát, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.483Ký sự về trưởng lão Paṁsukūlasaññaka
THA-AP483 · 37 đoạnTrưởng lão Paṁsukūlasaññaka kể: đức Thế Tôn Tissa, đấng Tự Chủ, cởi tấm y may từ vải bị quăng bỏ rồi đi vào trú xá; ông, đang cầm cung và dao cong đi tìm thức ăn trong rừng, nhìn thấy tấm y ấy treo trên ngọn cây, liền đặt cung xuống, chắp tay lên đầu, tưởng nhớ đức Phật tối thượng và đảnh lễ tấm y với niềm vui dạt dào. Nhờ phước đảnh lễ, suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.484Ký sự về trưởng lão Buddhasaññaka
THA-AP484 · 74 đoạnTrưởng lão Buddhasaññaka kể: khi còn là thầy dạy Vệ-đà, ông nghe tin đức Phật Siddhattha xuất hiện, liền cùng các đệ tử lên đường đi gặp Ngài. Mới đi được nửa đường, ông phát bệnh và qua đời trong khi tưởng nhớ đến đức Phật; nhờ sự tưởng nhớ ấy, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.485Ký sự về trưởng lão Bhisadāyaka
THA-AP485 · 78 đoạnTrưởng lão Bhisadāyaka kể: đang đói, ông nhổ củ sen ở hồ để ăn thì gặp đức Phật Padumuttara bay ngang; ông thỉnh Ngài nhận mật ong, củ sen, sữa, bơ lỏng và rễ sen của mình. Sau khi cúng dường, ông bị sét đánh chết ngay tại chỗ, sinh lên cõi trời Đẩu Suất và hưởng nhiều an lạc; nhờ phước dâng củ sen, suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.486Ký sự về trưởng lão Ñāṇatthavika
THA-AP486 · 119 đoạnTrưởng lão Ñāṇatthavika kể: sống ẩn cư ở phía nam Hi-mã-lạp, sau tám năm ông mới nghe tin đức Phật Sumedha xuất hiện, liền lên đường đến sông Candavatī và tán dương trí tuệ của Ngài bằng sáu câu kệ. Đức Phật Sumedha thọ ký cho ông nhiều kiếp an lạc và sẽ chứng A-la-hán lúc bảy tuổi trong thời đức Phật Gotama; nhờ phước ngợi ca trí tuệ, suốt ba mươi ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.487Ký sự về trưởng lão Candanamāliya
THA-AP487 · 130 đoạnTrưởng lão Candanamāliya kể: sau khi xuất gia sống ở bờ sông, ông tiếp đón một vị khách chói sáng mà không biết đó là đức Phật Sumedha, liền dâng chỗ ngồi, trái xoài, hoa sālā và trầm hương. Đức Phật thọ ký cho ông nhiều kiếp an lạc và cuối cùng chứng A-la-hán; nhờ phước cúng dường ấy, suốt ba mươi ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.488Ký sự về trưởng lão Dhātupūjaka
THA-AP488 · 22 đoạnTrưởng lão Dhātupūjaka kể vắn tắt: khi đức Phật Siddhattha Niết-bàn, ông đưa các thân quyến đến và cùng thực hiện việc cúng dường xá-lợi. Nhờ phước cúng dường xá-lợi ấy, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.489Ký sự về trưởng lão Pulinuppādaka
THA-AP489 · 150 đoạnTrưởng lão Pulinuppādaka kể: khi là đạo sĩ Devaḷa ở Hi-mã-lạp với tám mươi bốn ngàn đệ tử, ông dựng ngôi bảo tháp bằng cát, dâng hoa cúng dường và giảng cho đệ tử về các đức Phật. Sau khi chết, ông hiện về khuyên đệ tử đừng sầu muộn, rồi hưởng nhiều kiếp an lạc ở cõi trời và làm Chuyển Luân Vương; nhờ phước cúng dường cát, suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.490Ký sự về trưởng lão Taraṇiya
THA-AP490 · 66 đoạnTrưởng lão Taraṇiya kể: khi là con rùa sống ở sông Vinakā, ông mời đức Phật Atthadassī bước lên lưng và đưa Ngài qua sông với tâm từ ái. Đức Phật thọ ký ông sẽ hưởng an lạc cõi trời một ngàn tám trăm kiếp và sau này vượt qua dòng chảy nghi hoặc; nhờ phước đưa vượt qua ấy, ông không rơi vào khổ cảnh.491Ký sự về trưởng lão Dhammaruci
THA-AP491 · 106 đoạnTrưởng lão Dhammaruci kể: khi là thanh niên Megha, ông nghe đức Phật Dīpaṅkara thọ ký cho ẩn sĩ Sumedha và cùng xuất gia với vị ấy, nhưng bị bạn xấu xúi giục, phạm tội giết mẹ, đọa địa ngục Avīci lâu dài. Nhiều kiếp sau, nghe tiếng kêu Gotama trên biển, ông nhớ lại hiểu biết cũ, sinh ở Sāvatthī, gặp đức Phật Gotama lúc bảy tuổi và được Ngài nhắc chuyện xưa.492Ký sự về trưởng lão Sālamaṇḍapiya
THA-AP492 · 136 đoạnTrưởng lão Sālamaṇḍapiya kể: ông dựng bốn cây gậy làm mái che phủ hoa sālā trên đức Phật Piyadassī đang nhập định trong rừng và cầm giữ suốt bảy ngày. Đức Phật mỉm cười thọ ký cho ông nhiều kiếp được mưa hoa sālā rơi xuống, mái che hoa theo khắp nơi, và cuối cùng chứng ngộ trong thời đức Phật Gotama; nhờ phước cúng dường ấy, suốt một ngàn tám trăm kiếp ông không rơi vào khổ cảnh. Bài kết thúc phẩm Paṁsukūla với phần tóm lược mười bài của phẩm.493Ký sự về trưởng lão Tikiṅkaṇipupphiya
THA-AP493 · 33 đoạnTrưởng lão Tikiṅkaṇipupphiya kể: ông nhìn thấy đức Phật Vipassī ngồi trong vùng đồi núi, chói sáng như cây kaṇikāra, liền lấy ba bông hoa kiṅkaṇi dâng lên và đi nhiễu quanh Ngài. Nhờ phước cúng dường đức Phật ấy, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.494Ký sự về trưởng lão Paṁsukūlapūjaka
THA-AP494 · 30 đoạnTrưởng lão Paṁsukūlapūjaka kể: ở núi Udaṅgaṇa gần Hi-mã-lạp, ông nhìn thấy tấm y may từ vải bị quăng bỏ treo trên ngọn cây, liền hái ba bông hoa kiṅkaṇi và mừng rỡ cúng dường tấm y, biểu tượng của bậc A-la-hán. Nhờ việc làm ấy, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.495Ký sự về trưởng lão Koraṇḍapupphiya
THA-AP495 · 42 đoạnTrưởng lão Koraṇḍapupphiya kể: vốn là thợ rừng sống bằng việc giết thú, không có điều lành nào, ông được đức Phật Tissa vì lòng thương tưởng lưu lại ba dấu chân quanh chỗ ở. Ông mừng rỡ, làm tâm tịnh tín và hái một nhúm hoa koraṇḍa cúng dường dấu chân; nhờ đó suốt chín mươi hai kiếp ông không rơi vào khổ cảnh và có làn da màu hoa koraṇḍa ngời sáng.496Ký sự về trưởng lão Kiṁsukapupphiya
THA-AP496 · 26 đoạnTrưởng lão Kiṁsukapupphiya kể vắn tắt: nhìn thấy cây kiṁsuka trổ hoa, ông chắp tay, tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng và cúng dường hoa ở không trung. Nhờ việc làm ấy, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.497Ký sự về trưởng lão Upaḍḍhadussadāyaka
THA-AP497 · 42 đoạnTrưởng lão Upaḍḍhadussadāyaka kể: là người làm thuê ở thành Haṁsavatī, ông gặp vị Thinh Văn Sujāta của đức Phật Padumuttara đang tìm vải bị quăng bỏ ở đống rác, liền dâng cúng một nửa số vải của mình và cúi đầu đảnh lễ. Nhờ đó ông nhiều lần làm Chúa của chư Thiên và Chuyển Luân Vương, và suốt một trăm ngàn kiếp không rơi vào khổ cảnh.498Ký sự về trưởng lão Ghatamaṇḍadāyaka
THA-AP498 · 42 đoạnTrưởng lão Ghatamaṇḍadāyaka kể: thấy đức Thế Tôn vào rừng lớn và bị bệnh gió hành hạ, ông làm tâm tịnh tín và đem dâng bơ lỏng nguyên chất. Nhờ phước ấy, sông Bhāgīrathī và bốn đại dương tự cung cấp bơ lỏng cho ông, đất và cây cỏ hóa thành mật ngọt và cây như ý; ông nhiều lần làm Chúa của chư Thiên và Chuyển Luân Vương.499Ký sự về trưởng lão Udakadāyaka
THA-AP499 · 26 đoạnTrưởng lão Udakadāyaka kể vắn tắt: với tâm tịnh tín và ý vui mừng, ông cúng dường bình nước uống đến hội chúng Tỷ-kheo vô thượng của đức Phật Padumuttara. Nhờ đó, bất cứ ở đỉnh núi, ngọn cây, không trung hay đất liền, hễ muốn nước uống là nước hiện ra ngay; suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.500Ký sự về trưởng lão Pulinathūpiya
THA-AP500 · 147 đoạnTrưởng lão Pulinathūpiya kể: khi là đạo sĩ Nārada ở núi Yamaka, tự xét mình được mọi người tôn vinh mà không có thầy để tôn kính, ông liền dựng ngôi bảo tháp bằng cát bên sông Amarikā dành cho các đức Phật, dâng ba ngàn bông hoa kiṅka bằng vàng và lễ bái sáng chiều để tự răn mình. Nhiều kiếp sau, sinh ở Sāvatthī, thấy cha mẹ dựng tháp vàng, ông nhớ lại tháp cát và chứng A-la-hán ngay tại chỗ ngồi.501Ký sự về trưởng lão Naḷakuṭidāyaka
THA-AP501 · 46 đoạnTrưởng lão Naḷakuṭidāyaka kể: gần núi Hārita, ông làm gian nhà bằng cây sậy, lợp mái cỏ, dọn sạch đường kinh hành và dâng cúng đến bậc Tự Chủ Nārada. Nhờ nghiệp ấy, ông sinh lên cõi trời Đạo Lợi, hưởng cung điện và nhiều kiếp làm vua trời, Chuyển Luân Vương; suốt ba mươi mốt kiếp không rơi vào khổ cảnh, cuối cùng các phiền não dứt sạch.502Ký sự về trưởng lão Piyālaphaladāyaka
THA-AP502 · 47 đoạnTrưởng lão Piyālaphaladāyaka kể: xưa là thợ săn, ông gặp đức Phật trong rừng, với tâm tịnh tín tự tay dâng trái piyāla lên đức Phật tối thượng. Nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh; nay phiền não đã thiêu đốt, ông sống không còn lậu hoặc. Cuối phẩm có phần tóm lược của phẩm Kiṅkaṇipupphiya và tóm lược các phẩm.503Ký sự về trưởng lão Tikaṇikārapupphiya
THA-AP503 · 161 đoạnTrưởng lão Tikaṇikārapupphiya kể: đức Phật Sumedha ngồi kiết già trong núi Hi-mã-lạp; ông là vị du hành trên không, dâng ba bông hoa kaṇikāra, hoa úp ngược che bóng cho đức Phật. Nhờ đó ông sinh cõi trời Đạo Lợi với cung điện kaṇikārī, năm trăm lần làm vua trời, ba trăm lần Chuyển Luân Vương, bảy tuổi chứng A-la-hán; suốt ba mươi ngàn kiếp không rơi vào khổ cảnh.504Ký sự về trưởng lão Ekapattadāyaka
THA-AP504 · 50 đoạnTrưởng lão Ekapattadāyaka kể: ông là thợ gốm ở Haṁsavatī, dâng một bình bát đất sét làm khéo lên đức Phật tối thượng. Nhờ đó ông hưởng đĩa vàng, chiếu quý, và như hạt giống ít gieo vào ruộng tốt cho quả nhiều, phước dâng bình bát cũng vậy; suốt chín mươi mốt kiếp không rơi vào khổ cảnh.505Ký sự về trưởng lão Kāsumāriphaladāyaka
THA-AP505 · 26 đoạnTrưởng lão Kāsumāriphaladāyaka kể: thấy đức Phật chói sáng như cây kaṇikāra trong vùng đồi núi, ông chắp tay, dâng trái kāsumārika với tâm tịnh tín vui mừng. Nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh; nay phiền não đã dứt, ông sống không còn lậu hoặc.506Ký sự về trưởng lão Avaṭaphaliya
THA-AP506 · 26 đoạnTrưởng lão Avaṭaphaliya kể: gặp đấng Nhân Ngưu đi khất thực, ông dâng một nắm trái avaṭa với tâm tịnh tín vui mừng. Nhờ đó, suốt chín mươi bốn kiếp ông không biết khổ cảnh; nay các phiền não đã thiêu đốt, ông sống không còn lậu hoặc.507Ký sự về trưởng lão Vāraphaliya
THA-AP507 · 22 đoạnTrưởng lão Vāraphaliya kể: khi đấng Toàn Giác đang đi trên đường, ông dâng trái vāra lên Ngài. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh; nay phiền não đã dứt sạch, ông sống không còn lậu hoặc. (Tên vị trưởng lão trong các đoạn Pāli là Pādaphaliya.)508Ký sự về trưởng lão Mātuluṅgaphaladāyaka
THA-AP508 · 26 đoạnTrưởng lão Mātuluṅgaphaladāyaka kể: thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian chói sáng như mặt trăng rằm, ông tự tay dâng trái chanh lên bậc Đạo Sư. Nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh; nay ông sống không còn lậu hoặc.509Ký sự về trưởng lão Ajeliphaladāyaka
THA-AP509 · 26 đoạnTrưởng lão Ajeliphaladāyaka kể: đức Phật Ajjuna cư ngụ ở núi Hi-mã-lạp; ông dâng một chậu trái ajeli cùng trái jīvajīvaka và chattapaṇṇa lên bậc Đạo Sư. Nhờ đó, suốt chín mươi bốn kiếp ông không biết khổ cảnh; nay phiền não đã dứt, ông sống không còn lậu hoặc.510Ký sự về trưởng lão Amodaphaliya
THA-AP510 · 22 đoạnTrưởng lão Amodaphaliya kể: khi đấng Toàn Giác đang đi trên đường, ông dâng trái amoda lên Ngài. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh; nay các phiền não đã thiêu đốt, ông sống không còn lậu hoặc.511Ký sự về trưởng lão Tālaphaladāyaka
THA-AP511 · 26 đoạnTrưởng lão Tālaphaladāyaka kể: đấng Tự Chủ Sataraṁsī đi khất thực, ông dâng một nắm trái thốt nốt với tâm tịnh tín vui mừng. Nhờ đó, suốt chín mươi bốn kiếp ông không biết khổ cảnh; nay ông sống không còn lậu hoặc.512Ký sự về trưởng lão Nāḷikeradāyaka
THA-AP512 · 48 đoạnTrưởng lão Nāḷikeradāyaka kể: là người phụ việc tu viện ở Bandhumatī, ông dâng trái dừa lên đức Phật đang đi trên hư không, với tâm ý trong sạch nên được hạnh phúc lớn. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh, thiên nhãn thanh tịnh; cuối phẩm là phần tóm lược của phẩm Kaṇikāra.513Ký sự về trưởng lão Kurañjiyaphaladāyaka
THA-AP513 · 29 đoạnTrưởng lão Kurañjiyaphaladāyaka kể: xưa là thợ săn, ông gặp đức Phật trong rừng, tự tay dâng trái kurañjiya lên đức Phật tối thượng là Phước Điền. Nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh; nay phiền não đã dứt, ông sống không còn lậu hoặc.514Ký sự về trưởng lão Kapitthaphaladāyaka
THA-AP514 · 22 đoạnTrưởng lão Kapitthaphaladāyaka kể: khi đấng Toàn Giác đang đi trên đường, ông dâng trái táo rừng lên Ngài. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh; nay các phiền não đã thiêu đốt, ông sống không còn lậu hoặc.515Ký sự về trưởng lão Kosumbhaphaladāyaka
THA-AP515 · 22 đoạnTrưởng lão Kosumbhaphaladāyaka kể: khi đấng Nhân Ngưu chói sáng như cây kakudha đang đi trên đường, ông dâng trái kosumbha lên Ngài. Nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh; nay ông sống không còn lậu hoặc.516Ký sự về trưởng lão Ketakapupphiya
THA-AP516 · 26 đoạnTrưởng lão Ketakapupphiya kể: bên sông Vinatā, ông dâng bông hoa ketaka thơm ngọt lên đức Phật tối thượng với tâm tịnh tín vui mừng. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh; nay phiền não đã dứt, ông sống không còn lậu hoặc.517Ký sự về trưởng lão Nāgapupphiya
THA-AP517 · 22 đoạnTrưởng lão Nāgapupphiya kể: khi đấng Toàn Giác đang đi trên đường, ông dâng bông hoa nāga lên Ngài. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh; nay các phiền não đã thiêu đốt, ông sống không còn lậu hoặc.518Ký sự về trưởng lão Ajjunapupphiya
THA-AP518 · 38 đoạnTrưởng lão Ajjunapupphiya kể: xưa là chim kim-sỉ-điểu bên sông Candabhāgā, ông dâng bông hoa ajjuna lên đấng Tự Chủ với tâm tịnh tín phấn khởi. Nhờ nghiệp ấy ông sinh cõi trời Đạo Lợi, hưởng cung điện và hoa che mát; cuối cùng phiền não dứt sạch, sống không còn lậu hoặc.519Ký sự về trưởng lão Kuṭajapupphiya
THA-AP519 · 30 đoạnTrưởng lão Kuṭajapupphiya kể: đức Phật Sudassana ở vùng đồi núi gần núi Cāvala; ông bay trên không, cầm bông hoa kuṭaja, chắp tay dâng lên đấng Tự Chủ. Nhờ đó ông hưởng nhiều quả báu ở cõi trời và người; nay phiền não đã dứt, ông sống không còn lậu hoặc.520Ký sự về trưởng lão Ghosasaññaka
THA-AP520 · 30 đoạnTrưởng lão Ghosasaññaka kể: xưa là thợ săn, ông nghe đức Phật Sikhī công bố bốn Sự Thật và thuyết giảng vị thế Bất Tử; ông làm tâm tịnh tín nơi âm vang của đức Phật và vượt qua cảnh giới khó vượt. Nhờ sự nhận biết ấy, suốt ba mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh; nay ông sống không còn lậu hoặc.521Ký sự về trưởng lão Sabbaphaladāyaka
THA-AP521 · 110 đoạnTrưởng lão Sabbaphaladāyaka kể: ông là Bà-la-môn Varuṇa sống ẩn cư trong rừng; đức Phật Padumuttara đến khu ẩn cư, ông dâng cúng mọi loại trái cây và phục vụ Ngài. Nhờ đó ông hưởng tài sản lớn, làm vua trời và Chuyển Luân Vương nhiều lần; suốt nhiều kiếp không rơi vào khổ cảnh, cuối cùng chứng đắc các thắng trí và tuệ phân tích.522Ký sự về trưởng lão Padumadhāraka
THA-AP522 · 36 đoạnTrưởng lão Padumadhāraka kể: gần núi Hi-mã-lạp, đức Phật Sambhava sống ngoài trời ở núi Romasa; ông rời nơi cư ngụ, cầm giữ đóa hoa sen trong một ngày để tôn vinh đức Phật rồi trở về. Nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh; cuối phẩm là phần tóm lược của phẩm Phaladāyaka.523Ký sự về trưởng lão Tiṇamuṭṭhidāyaka
THA-AP523 · 53 đoạnTrưởng lão Tiṇamuṭṭhidāyaka kể: gần núi Lambaka, đấng Toàn Giác Upatissa đi kinh hành ngoài trời; ông là thợ săn, dâng một nắm cỏ làm vật lót ngồi đến đức Phật, đảnh lễ rồi ra đi hướng về phía bắc. Nhờ đó ông hưởng nhiều quả báu; nay phiền não đã dứt, ông sống không còn lậu hoặc.524Ký sự về trưởng lão Mañcadāyaka
THA-AP524 · 26 đoạnTrưởng lão Mañcadāyaka kể: với tâm tịnh tín, ông tự tay dâng một cái giường đến đức Thế Tôn Vipassī. Nhờ đó ông được phương tiện di chuyển tốt ở cõi trời và người, đạt đoạn tận các lậu hoặc; suốt chín mươi mốt kiếp không biết khổ cảnh.525Ký sự về trưởng lão Saraṇagamaniya
THA-AP525 · 22 đoạnTrưởng lão Saraṇagamaniya kể: ông là đạo sĩ lõa thể cùng thuyền với một vị Tỷ-kheo; khi thuyền vỡ, vị Tỷ-kheo ban cho ông sự nương nhờ quy y. Nhờ phước quy y ấy, suốt ba mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh; nay phiền não đã dứt, ông sống không còn lậu hoặc.526Ký sự về trưởng lão Abbhañjanadāyaka
THA-AP526 · 30 đoạnTrưởng lão Abbhañjanadāyaka kể: ở vườn hoa của đức vua tại Bandhumatī, ông gặp đức Phật không còn lậu hoặc, với tâm tịnh tín vui mừng dâng dầu thoa lên Ngài. Nhờ đó ông hưởng nhiều quả báu ở hai cõi; nay các phiền não đã thiêu đốt, ông sống không còn lậu hoặc.527Ký sự về trưởng lão Supaṭadāyaka
THA-AP527 · 22 đoạnTrưởng lão Supaṭadāyaka kể: khi đấng Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī đi ra sau giờ nghỉ trưa, ông dâng tấm vải đẹp và nhẹ lên Ngài, được vui thích ở cõi trời một kiếp. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh; nay ông sống không còn lậu hoặc.528Ký sự về trưởng lão Daṇḍadāyaka
THA-AP528 · 27 đoạnTrưởng lão Daṇḍadāyaka kể: ông vào rừng đốn tre, làm cây gậy chống và dâng đến Hội Chúng; với tâm tịnh tín ông đảnh lễ các vị hành trì tốt đẹp rồi ra đi hướng về phía bắc. Nhờ đó, suốt chín mươi bốn kiếp ông không biết khổ cảnh; nay ông sống không còn lậu hoặc. Cuối bài là dấu hết phần tụng thứ hai mươi ba.529Ký sự về trưởng lão Girinelapūjaka
THA-AP529 · 26 đoạnTrưởng lão Girinelapūjaka kể: xưa là thợ săn lang thang trong rừng, ông gặp đức Phật, đấng thông suốt tất cả các pháp, và cúng dường bông hoa nela lên đấng Đại Bi với tâm tịnh tín vui mừng. Nhờ đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh; nay ông sống không còn lậu hoặc.530Ký sự về trưởng lão Bodhisammajjaka
THA-AP530 · 106 đoạnTrưởng lão Bodhisammajjaka kể: ông hốt lá rụng ở sân bảo tháp nơi cây Bồ-đề và đem đi đổ, thọ lãnh hai mươi phần công đức: luân hồi hai cõi trời người, sinh gia tộc cao quý, da vàng đẹp, không bệnh tật. Nhờ nghiệp quét sân ấy, cuối cùng ông chứng đắc các tuệ phân tích và thắng trí, sống không còn lậu hoặc.531Ký sự về trưởng lão Āmaṇḍaphaladāyaka
THA-AP531 · 30 đoạnTrưởng lão Āmaṇḍaphaladāyaka kể: đang mang gánh trái cây, ông gặp đức Phật Padumuttara đi kinh hành sau khi ra khỏi định, liền chắp tay đảnh lễ và dâng cúng trái cây āmaṇḍa với tâm tịnh tín, vui mừng. Nhờ đó, suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, và nay đã thiêu đốt hết phiền não, sống không còn lậu hoặc.532Ký sự về trưởng lão Sugandha
THA-AP532 · 196 đoạnTrưởng lão Sugandha kể: ở kiếp Bhadda, ông là con trai triệu phú ở Bārāṇasī, gặp đức Phật Kassapa ở Lộc Uyển, xuất gia, thành vị Pháp sư và hết lòng tán dương màu da vàng chói cùng đức hạnh của đức Phật giữa đại chúng. Nhờ nghiệp ấy, thân ông toả hương thơm kỳ diệu suốt các kiếp sau; ông giảng giải quả báu của việc ngợi ca: danh vọng, an lạc, dễ mến, và cuối cùng đoạn tận lậu hoặc, không còn biết đến khổ cảnh.533Ký sự về trưởng lão Mahākaccāna
THA-AP533 · 113 đoạnTrưởng lão Mahākaccāna kể: trong một kiếp xưa làm đạo sĩ ở Hi-mã-lạp, ông nghe đức Phật Padumuttara tán dương vị Kaccāyana — người giảng giải chi tiết điều Phật nói tóm tắt — liền cúng dường hoa và phát nguyện vị thế ấy. Đức Phật chú nguyện ông sẽ thành Thinh Văn của đức Phật Gotama, nghe nhiều học rộng, hiểu rõ ý của bậc Hiền Trí; nay ông đã được đặt vào vị thế tối thắng và chứng A-la-hán.534Ký sự về trưởng lão Vakkali
THA-AP534 · 154 đoạnTrưởng lão Vakkali kể: kiếp xưa nghe đức Phật Padumuttara tán dương vị Tỷ-kheo đứng đầu về đức tin, ông cúng dường bảy ngày và phát nguyện vị thế ấy. Kiếp cuối, từ thuở nằm ngửa ông đã được đức Phật che chở, lớn lên mê đắm sắc thân của Phật, được Ngài dạy: ai thấy Pháp là thấy Ta. Ông gieo mình xuống núi Gijjhakūṭa, được năng lực Phật đỡ xuống an toàn, nghe Pháp về sanh diệt của các uẩn rồi chứng A-la-hán và được tuyên bố đứng đầu về đức tin.535Ký sự về trưởng lão Mahākappina
THA-AP535 · 170 đoạnTrưởng lão Mahākappina kể: kiếp xưa làm quan phân xử ở Haṁsā, ông cúng dường đức Phật Padumuttara và phát nguyện vị thế vị giáo giới Tỷ-kheo đứng đầu. Trải qua các kiếp hộ độ năm trăm vị Phật Độc Giác, làm vua Kappina ở Kukkuṭa, ông nghe tin đức Phật xuất hiện, bỏ vương quyền, nhờ lời chân thật về Tam Bảo mà vượt sông an toàn, xuất gia cùng một ngàn cận thần và chứng A-la-hán, rồi giáo giới cho cả ngàn vị cùng dứt sạch lậu hoặc.536Ký sự về trưởng lão Dabba
THA-AP536 · 170 đoạnTrưởng lão Dabba kể: kiếp xưa ở Haṁsavatī, ông nghe đức Phật Padumuttara tán dương vị phân bố chỗ trú ngụ, liền cúng dường bảy ngày và phát nguyện vị thế ấy. Ông từng chửi mắng một vị Thinh Văn đã sạch lậu hoặc thời Phật Vipassī nên kiếp cuối bị vu cáo nhiều lần, nhưng nhờ dâng cơm sữa mà được năm yếu tố tốt đẹp. Sanh ở Kusinārā, rơi xuống từ giàn hỏa thiêu của mẹ nên có tên Dabba, ông giải thoát lúc bảy tuổi và được đặt vào vị thế đứng đầu về phân bố chỗ trú ngụ.537Ký sự về trưởng lão Kumārakassapa
THA-AP537 · 115 đoạnTrưởng lão Kumārakassapa kể: kiếp xưa làm Bà-la-môn, ông trang hoàng mái che bằng vải nhiều màu và châu báu, cúng dường đức Phật Padumuttara bảy ngày và phát nguyện vị thế vị thuyết giảng hay đứng đầu. Trải qua kiếp làm nai con của Nigrodha và kiếp cùng sáu vị Tỷ-kheo leo núi giữ lời dạy khi Giáo Pháp của Phật Kassapa suy tàn, nay ông sanh ở Rājagaha, được vua Kosala nuôi dưỡng, cảm hóa vua Pāyāsi và đạt vị thế tối thắng.538Ký sự về trưởng lão Bāhiya
THA-AP538 · 174 đoạnTrưởng lão Bāhiya kể: kiếp xưa nghe đức Phật Padumuttara tán dương vị Tỷ-kheo có thắng trí nhạy bén, ông cúng dường bảy ngày và phát nguyện vị thế ấy. Kiếp cuối sanh ở Bhārukaccha, đắm thuyền, mặc y vỏ cây, được dân chúng ngộ nhận là A-la-hán; nhờ vị Thiên nhân quở trách, ông tìm đến đức Phật ở Sāvatthī, nghe bài Pháp thâm sâu về Không tánh và đoạn tận lậu hoặc, rồi viên tịch ngay sau đó và được đức Phật cho xây tháp thờ.539Ký sự về trưởng lão Koṭṭhita
THA-AP539 · 122 đoạnTrưởng lão Mahākoṭṭhita kể: kiếp xưa làm Bà-la-môn ở Haṁsavatī, ông nghe đức Phật Padumuttara đặt một vị Thinh Văn vào vị thế đứng đầu về bốn tuệ phân tích, liền cúng dường bảy ngày và phát nguyện vị thế ấy. Sau nhiều kiếp làm vua trời và Chuyển Luân Vương, kiếp cuối ông sanh vào gia tộc Bà-la-môn giàu có ở Sāvatthī, xuất gia, và ngay khi cạo tóc, đắp y đã chặt đứt tà kiến, chứng A-la-hán và được đặt vào vị thế tối thắng về các pháp phân tích.540Ký sự về trưởng lão Uruvelakassapa
THA-AP540 · 182 đoạnTrưởng lão Uruvelakassapa kể: thời đức Phật Padumuttara, nghe Ngài tuyên bố vị Thinh Văn có hội chúng lớn, ông thỉnh Phật và dâng đại thí, phát nguyện có hội chúng đông đảo và được thọ ký. Thời đức Phật Phussa, ba anh em ông là hậu duệ của vua Bārāṇasī, xin vua cho hộ độ đức Phật và cung phụng Ngài trọn đời. Trải qua nhiều kiếp, có đời theo tà kiến của đạo sĩ lõa thể Guṇa rồi được Phạm Thiên Nārada chỉ dạy mà bỏ; kiếp cuối, ông tu khổ hạnh tóc bện ở Uruvelā với một ngàn đệ tử, được đức Phật nhiếp phục, xuất gia theo lối “được gọi đến”, chứng A-la-hán và được tuyên bố đứng đầu trong các vị có hội chúng lớn.541Ký sự về trưởng lão Rādha
THA-AP541 · 126 đoạnTrưởng lão Rādha kể: nghe đức Phật Padumuttara tuyên bố vị Tỷ-kheo đứng đầu về tài biện giải, ông đảnh lễ phát nguyện và được thọ ký. Nhờ nghiệp lành, ông từng làm vua trời ba trăm lần và Chuyển Luân Vương năm trăm lần. Kiếp cuối, sanh vào nhà Bà-la-môn nghèo ở Giribbaja, ông từng dâng một muỗng thức ăn cho tôn giả Sāriputta; về già xin xuất gia bị từ chối vì yếu đuối, đức Phật hỏi thăm, Sāriputta nhớ ơn xưa và cho ông xuất gia, ông sớm chứng đắc đoạn tận lậu hoặc và được tuyên bố đứng đầu về tài biện giải.542Ký sự về trưởng lão Mogharāja
THA-AP542 · 156 đoạnTrưởng lão Mogharāja kể: nghe đức Phật Padumuttara tán dương vị Thinh Văn mặc y thô xấu, ông phát nguyện vị thế đứng đầu ấy. Vì nghiệp đốt nền đất gian nhà nghỉ chân, ông chịu thiêu đốt ở địa ngục một ngàn năm, năm trăm kiếp bị đóng dấu từ lúc mới sanh và năm trăm kiếp bị bệnh phong cùi. Kiếp cuối làm vua mà không tìm được an lạc vì bệnh phong, ông xuất gia, làm học trò đạo sĩ Bāvarī, đến hỏi đức Phật cách nhìn thân này là không để Thần Chết không thấy được; nghe kệ xong ông thành Tỷ-kheo A-la-hán, tự may y thô xấu từ vải lượm ở đống rác, bãi tha ma, đường lộ, và được tuyên bố đứng đầu trong các vị mặc y thô xấu.543Ký sự về trưởng lão Lakuṇṭakabhaddiya
THA-AP543 · 137 đoạnTrưởng lão Lakuṇṭakabhaddiya kể: nghe đức Phật Padumuttara tán dương vị Thinh Văn có giọng nói ngọt ngào, ông phát nguyện và được thọ ký. Đời chim cu gáy thời đức Phật Phussa, ông hót cúng dường và dâng chùm xoài chín, bị chim ưng giết khi đang hoan hỷ hướng về Phật. Thời đức Phật Kassapa, là tướng quân của vua Kiki, ông đề nghị giảm kích thước bảo tháp dự định xây bảy do-tuần xuống một do-tuần; quả báo khiến kiếp cuối thân hình ông thấp bé, bị khinh thường, nhưng nhờ cúng dường bằng giọng hót xưa kia, ông thành vị đứng đầu trong các Tỷ-kheo có giọng nói ngọt ngào và chứng A-la-hán.544Ký sự về trưởng lão Kaṅkhārevata
THA-AP544 · 82 đoạnTrưởng lão Kaṅkhārevata kể: một trăm ngàn kiếp trước, nghe đức Phật Padumuttara tán dương vị Tỷ-kheo đứng đầu về thiền, ông phát nguyện vị thế ấy và được thọ ký sẽ thành đệ tử của đức Phật Gotama tên Revata. Kiếp cuối, sanh ở Koliya, ông xuất gia nhưng còn nhiều hoài nghi về điều được phép và không được phép; được đức Phật giảng Pháp tối thượng giải tỏa hết, ông an trú trong thiền và được tuyên bố đứng đầu trong số các Tỷ-kheo có thiền chứng.545Ký sự về trưởng lão Sīvali
THA-AP545 · 170 đoạnTrưởng lão Sīvali kể: thời đức Phật Padumuttara, ông là vị Sát-đế-lỵ cúng dường đại thí bảy ngày, phát nguyện vị thế đứng đầu về lợi lộc và được thọ ký. Thời đức Phật Vipassī, khi hội đoàn tìm không ra sữa đông tươi và mật ong cho bữa cúng dường, ông dâng hai món mình có, nghiền chung lại cúng Phật và Tăng. Một đời làm vua, ông ra lệnh ngăn chận cổng thành bảy ngày khiến nhiều người bị canh giữ; quả báo là kiếp cuối ông nằm bảy năm trong bụng mẹ Suppavāsā và bảy ngày bị kẹt ở cửa sanh, nhưng sanh ra an toàn, xuất gia ngay ngày chào đời, chứng A-la-hán trong khi cạo tóc, và được tuyên bố đứng đầu trong các vị có được lợi lộc.546Ký sự về trưởng lão Vaṅgīsa
THA-AP546 · 193 đoạnTrưởng lão Vaṅgīsa kể: thời đức Phật Padumuttara, ông là vị Bà-la-môn giỏi tranh luận, cúng dường bảy ngày, xưng tán đức Phật bằng những lời kính lễ và phát nguyện vị thế đứng đầu về tài biện giải, được thọ ký. Kiếp cuối, bảy tuổi đã thông suốt Vệ-đà và đánh bại các nhà tranh luận; gặp tôn giả Sāriputta, ông xin xuất gia, được đưa đến đức Phật, trổ tài xem sọ người chết đoán nơi tái sanh nhưng thất bại trước sọ của vị Phật Độc Giác, liền cầu xin xuất gia. Thơ kệ của ông nảy sanh ngay theo sự việc chứ không soạn trước; đức Phật tuyên bố ông đứng đầu trong các vị có tài biện giải, và ông chứng A-la-hán.547Ký sự về trưởng lão Nandaka
THA-AP547 · 90 đoạnTrưởng lão Nandaka kể: nghe đức Phật Padumuttara tán dương vị Thinh Văn đứng đầu về việc giáo giới các Tỷ-kheo-ni, ông thỉnh Phật và Tăng chúng thọ thực rồi phát nguyện vị thế ấy và được thọ ký. Kiếp cuối, sanh vào nhà triệu phú ở Sāvatthī, ông xuất gia khi đức Phật nhận tu viện Jeta, sớm chứng A-la-hán; theo thỉnh cầu, ông giảng Pháp cho năm trăm Tỷ-kheo-ni và tất cả đều thành bậc không còn lậu hoặc, nên được tuyên bố đứng đầu trong số các vị giáo giới Tỷ-kheo-ni.548Ký sự về trưởng lão Kāḷudāyi
THA-AP548 · 122 đoạnTrưởng lão Kāḷudāyi kể: nghe đức Phật Padumuttara tán dương vị Thinh Văn đứng đầu về việc tạo niềm tịnh tín cho các gia đình, ông đảnh lễ và phát nguyện vị thế ấy, được thọ ký sẽ là đệ tử Udāyi của đức Phật Gotama. Kiếp cuối, ông sanh cùng ngày với thái tử Siddhattha, lớn lên làm bạn thân của Ngài; được vua Suddhodana phái đi, ông gặp đức Phật, xuất gia, chứng A-la-hán, rồi thỉnh đức Phật về Kapilavatthu và tạo niềm tịnh tín cho đại gia tộc, nên được tuyên bố đứng đầu trong số các vị tạo niềm tịnh tín cho các gia đình.549Ký sự về trưởng lão Abhaya
THA-AP549 · 122 đoạnTrưởng lão Abhaya kể tiền thân: là con trai một Bà-la-môn ở thành Haṁsavatī, thông suốt các bộ Vệ-đà, ông nghe đức Phật Padumuttara thuyết pháp không một lời thừa hay lạc đề nên xuất gia, soạn bốn bài kệ tán dương Ngài và thuyết giảng suốt đời. Nhờ phước tán dương, suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh; kiếp cuối ông là con vua Bimbisāra, bị bạn xấu và ngoại đạo dẫn lệch, nhưng khi đến hỏi đức Phật ông đã xuất gia và chứng A-la-hán.550Ký sự về trưởng lão Lomasakaṅgiya
THA-AP550 · 106 đoạnTrưởng lão Lomasakaṅgiya kể: trong kiếp Bhadda, ông và Candana xuất gia dưới thời đức Phật Kassapa, trọn đời làm tròn bổn phận rồi sinh lên cõi trời Đẩu Suất; kiếp sau ông là con dòng Sakya ở Kapilavatthu. Ông chứng kiến đức Phật dẹp lòng kiêu mạn của dòng Sakya, được Thiên tử Candana thúc đẩy đi học kinh Bhaddekaratta, vào rừng tu tập và chứng A-la-hán.551Ký sự về trưởng lão Vanavaccha
THA-AP551 · 86 đoạnTrưởng lão Vanavaccha kể nhiều kiếp gắn với rừng: xuất gia dưới thời đức Phật Kassapa, có kiếp làm chim bồ câu sống gần một vị Tỷ-kheo đầy đủ đức hạnh trong rừng và được vị ấy cho ăn, thuyết pháp. Kiếp cuối ông sinh ở Kapilavatthu, từ trong thai đã hướng về đời sống rừng, làm bạn với vương tử Siddhattha, rồi xuất gia theo Ngài, gặp trưởng lão Kassapa và chứng sáu thắng trí.552Ký sự về trưởng lão Cūḷasugandha
THA-AP552 · 173 đoạnTrưởng lão Cūḷasugandha kể: sinh ở Bārāṇasī trong gia đình giàu có, ông nghe đức Phật Kassapa thuyết pháp, quy y trọn đời và lau chùi nền hương thất của Ngài bằng chất thơm trong tám ngày mỗi tháng, nguyện cho thân mình có hương thơm. Đức Phật thọ ký ông sẽ có thân thơm và hương đức hạnh; kiếp cuối, ngay từ khi sinh ra ở Sāvatthī, thân ông đã tỏa hương vượt mọi hương liệu, và ông xuất gia chứng đoạn tận lậu hoặc. Cuối bài là phần tóm lược của phẩm Bhaddiya và phần tóm lược của tất cả các phẩm.553Ký sự về trưởng lão Yasa
THA-AP553 · 117 đoạnTrưởng lão Yasa kể tiền thân giàu sang bên hồ nước đầy chim thú và nhạc trời: ông đến đảnh lễ đức Phật Sumedha, thỉnh Ngài cùng hội chúng về cư ngụ của mình, dâng cơm nước và y phục. Đức Phật thọ ký ông sẽ hưởng lạc cõi trời, nhiều lần làm Chuyển Luân Vương, và đến thời đức Phật Gotama sẽ chứng A-la-hán, rống tiếng sư tử trong hội chúng Tỷ-kheo.554Ký sự về trưởng lão Nadīkassapa
THA-AP554 · 28 đoạnTrưởng lão Nadīkassapa kể ngắn gọn: khi đức Phật Padumuttara đi khất thực, ông dâng trái cây đầu mùa tốt nhất lên bậc Đạo Sư. Nhờ nghiệp ấy ông đạt vị thế bất động, vượt hơn thua; suốt một trăm ngàn kiếp không rơi vào khổ cảnh — đó là quả của việc dâng cúng trái cây đầu mùa.555Ký sự về trưởng lão Gayākassapa
THA-AP555 · 30 đoạnTrưởng lão Gayākassapa kể: thuở làm ẩn sĩ mặc y da dê, ông mang trái táo về am; đức Phật đơn độc không ai sánh bằng đã đến am của ông. Ông làm tâm tịnh tín, hai tay nâng trái táo dâng lên đức Phật; suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh — đó là quả của việc dâng cúng trái táo.556Ký sự về trưởng lão Kimbila
THA-AP556 · 30 đoạnTrưởng lão Kimbila kể: khi đức Phật Kakusandha nhập Niết-bàn, ông lấy tràng hoa salala làm mái che cúng dường. Nhờ đó ông sinh lên cõi trời Đạo Lợi, được lâu đài hạng nhất, ngày đêm đi hay đứng đều được hoa salala che phủ; và việc cúng dường đức Phật ngay trong kiếp ấy khiến ông không còn rơi vào khổ cảnh.557Ký sự về trưởng lão Vajjiputta
THA-AP557 · 26 đoạnTrưởng lão Vajjiputta kể: đức Phật có ngàn ánh hào quang, đấng tự chủ không bị đánh bại, vừa ra khỏi nơi độc cư đi khất thực; ông có nắm trái cây trong tay, đến gần Ngài với tâm tịnh tín, vui mừng và dâng trái cây savaṇṭa. Suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh — đó là quả của việc dâng cúng trái cây.558Ký sự về trưởng lão Uttara
THA-AP558 · 158 đoạnTrưởng lão Uttara kể: đức Phật Sumedha lên núi Hi-mã-lạp độc cư; ông bấy giờ là người có phép thuật bay trên không, thấy hào quang của đức Phật tỏa khắp rừng nên làm tâm tịnh tín, hái ba bông hoa kaṇikāra cúng dường, và ba bông hoa ấy úp ngược che bóng cho đức Phật. Nhờ nghiệp ấy ông hưởng mọi sung túc ở cõi trời và cõi người, bảy tuổi đã xuất gia và chứng A-la-hán, được đức Phật cho tu lên bậc trên.559Ký sự về trưởng lão Uttara khác
THA-AP559 · 22 đoạnTrưởng lão Uttara khác kể: khi đức Phật Siddhattha nhập Niết-bàn, ông tập hợp quyến thuộc lại và cùng cúng dường xá-lợi của Ngài. Nhờ việc cúng dường xá-lợi ấy, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh.560Ký sự về trưởng lão Bhaddaji
THA-AP560 · 78 đoạnTrưởng lão Bhaddaji kể: đang lội xuống hồ nhổ củ sen vì đói, ông nghe tiếng y phấn tảo của đức Phật Padumuttara bay trên không, liền thỉnh Ngài thọ lãnh mật ong, củ sen, sữa và bơ; đức Phật ngự xuống nhận và chúc phúc cho ông. Về am, ông treo củ sen lên cây tưởng nhớ việc dâng cúng thì bị sét đánh chết, sinh lên cõi trời Đẩu Suất, hưởng quả của việc dâng cúng củ sen và cuối cùng đoạn tận mọi lậu hoặc, không còn tái sinh.561Ký sự về trưởng lão Sīvaka
THA-AP561 · 22 đoạnTrưởng lão Sīvaka kể ngắn gọn: khi đức Phật Vipassī đang đi tìm vật thực với bình bát trống, ông đã đổ đầy sữa kem vào bát của Ngài. Nhờ việc dâng cúng vật thực ấy, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh — đó là quả của phần sữa kem dâng cúng.
Ký Sự Trưởng Lão Ni · Therīapadāna
40 bài
1Ký sự về SumedhāTHI-AP1 · 83 đoạnSumedhā cùng hai người bạn gái Dhanañjānī và Khemā dâng cúng trú xá cho hội chúng có đức Phật đứng đầu vào thời đức Phật Koṇāgamana. Nhờ phước ấy, các bà nhiều kiếp sinh lên các cõi trời và làm chánh hậu của các vị vua; đến thời đức Phật Kassapa, Sumedhā làm bạn với bảy công chúa của vua Kikī, giữ giới trong sạch ngay trong đời sống tại gia, và cuối cùng đạt đến Niết-bàn.2Ký sự về Mekhalādāyikā
THI-AP2 · 26 đoạnMekhalādāyikā kể rằng trong một kiếp xưa bà đã cho xây bảo tháp của đức Phật Siddhattha và tự tay dâng cúng sợi dây thắt lưng cho công trình, rồi khi tháp hoàn thành lại dâng thêm một lần nữa với lòng tịnh tín. Nhờ phước ấy, suốt chín mươi bốn kiếp bà không biết đến khổ cảnh, và trong kiếp cuối bà đã đốt sạch phiền não, sống không còn lậu hoặc.3Ký sự về Maṇḍapadāyikā
THI-AP3 · 22 đoạnMaṇḍapadāyikā kể rằng trong một kiếp xưa bà đã cho làm mái che cho đức Phật Koṇāgamana và thường xuyên dâng cúng y đến Ngài. Nhờ nghiệp phước ấy, bà đi đến xứ sở, phố chợ hay kinh thành nào cũng được mọi người tôn vinh, và cuối cùng bà đốt sạch phiền não, chứng giải thoát.4Ký sự về Saṅkamanatthā
THI-AP4 · 26 đoạnSaṅkamanatthā kể: khi đức Phật Vipassī đang đi trên đường, bà bước ra khỏi nhà, cúi mình nằm phủ phục xuống đất để Ngài bước lên đầu mình. Nhờ lòng tin trong sáng ấy, bà sinh lên cõi trời Đẩu Suất, và cuối cùng sống không còn lậu hoặc, chứng đắc bốn tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí.5Ký sự về Naḷamālikā
THI-AP5 · 40 đoạnTrưởng lão ni Naḷamālikā kể lại tiền thân: bà từng là chim kinnarī ở bờ sông Candabhāgā, đã cầm tràng hoa sậy cúng dường đức Phật tự chủ. Nhờ nghiệp ấy bà làm chánh hậu của nhiều vị vua trời và Chuyển Luân Vương, rồi cuối cùng xuất gia và chứng quả A-la-hán.6Ký sự về Ekapiṇḍapātadāyikā
THI-AP6 · 58 đoạnEkapiṇḍapātadāyikā từng là vợ vua Bandhumā ở thành Bandhumatī. Ngồi nơi thanh vắng, bà nhận ra mình chưa làm điều lành nào và sợ sẽ rơi vào địa ngục, nên xin vua cho mời một vị sa-môn rồi tự tay dâng một bình bát đầy thức ăn thượng hạng, thoa dầu thơm và phủ vải đôi. Nhờ phước ấy bà làm chánh hậu của ba mươi vua trời và hai mươi Chuyển Luân Vương, chín mươi mốt kiếp không biết khổ cảnh, và cuối cùng dứt sạch lậu hoặc.7Ký sự về Kaṭacchubhikkhādāyikā
THI-AP7 · 46 đoạnTrưởng lão ni Kaṭacchubhikkhādāyikā kể: trong một kiếp trước bà đã dâng một muỗng thức ăn lên đức Phật Tissa khi Ngài đi khất thực, và được Ngài thọ ký sẽ làm chánh hậu của nhiều vị vua trời và Chuyển Luân Vương, cuối cùng xuất gia và chứng Niết-bàn. Đúng như lời thọ ký, bà nay đã đạt vị thế không lay chuyển.8Ký sự về Sattuppalamālikā
THI-AP8 · 82 đoạnSattuppalamālikā kể: kiếp xưa bà là vợ vua Aruṇa ở thành Aruṇavatī; cầm bảy đóa sen xanh, bà chờ đức Phật đi qua và dâng cúng — bảy đóa hoa tỏa ra làm mái che trên đầu Phật. Nhờ phước ấy, bà làm chánh hậu của bảy mươi vị vua trời và sáu mươi ba đấng Chuyển Luân Vương, da màu hoa sen và thơm như sen, rồi cuối cùng chứng ngộ, không còn tái sinh.9Ký sự về Pañcadīpikā
THI-AP9 · 102 đoạnPañcadīpikā kể: kiếp xưa bà là nữ du sĩ ở thành Haṁsavatī, ngồi bảy ngày dưới cội Bồ-đề và đến ngày thứ bảy thắp năm ngọn đèn cúng dường cháy cho đến sáng. Nhờ phước ấy, bà ở cung điện “Ngũ Đăng” giữa trăm ngàn ngọn đèn, có thiên nhãn nhìn khắp không gì che được, và kiếp cuối bảy tuổi đã chứng A-la-hán.10Ký sự về Udakadāyikā
THI-AP10 · 72 đoạnUdakadāyikā là cô gái gánh nước thuê ở thành Bandhumatī, nghèo đến mức không có vật gì đáng giá để dâng cúng ruộng phước cao quý nhất, nên bà cung cấp nước tại bể chứa. Nhờ việc lành ấy, bà sinh lên cõi trời Đạo Lợi, có cung điện riêng, làm chánh hậu của năm mươi vua trời và hai mươi vua chuyển luân, muốn nước là có ngay, và suốt chín mươi mốt kiếp không biết đến cảnh khổ.11Ký sự về Ekuposathikā
THI-AP11 · 86 đoạnEkūposathikā trong một kiếp xưa là cô nô tỳ đội nước ở thành Bandhumatī. Thấy vua Bandhumā bỏ việc triều chính để giữ ngày trai giới, bà suy xét cảnh khổ và sự nghèo khó của mình, làm cho tâm hoan hỷ rồi cũng giữ một ngày Bát quan trai giới. Nhờ đó bà sinh lên cõi trời Đạo Lợi, làm hoàng hậu của sáu mươi bốn vua trời và sáu mươi ba vua chuyển luân; kiếp cuối, mới bảy tuổi bà xuất gia và chưa đầy nửa tháng đã chứng quả A-la-hán.12Ký sự về Salalapupphikā
THI-AP12 · 34 đoạnTrong một kiếp xưa, bà là chim kinnarī sống bên sông Candabhāgā. Thấy đức Phật Vipassī đang đi kinh hành, bà hái bông hoa saḷala dâng lên; Ngài nhận lấy và ngửi hoa thơm. Nhờ việc cúng dường ấy, suốt chín mươi mốt kiếp bà không rơi vào cảnh khổ, và nay đã hết lậu hoặc.13Ký sự về Modakadāyikā
THI-AP13 · 30 đoạnModakadāyikā kể: kiếp xưa bà là nữ tỳ gánh nước ở thành Bandhumatī; trên đường đi, gặp một vị sa-môn tâm thanh tịnh, bà dâng ba viên bánh modaka với lòng tin và niềm vui. Nhờ việc lành ấy, bà không rơi vào cõi khổ suốt chín mươi mốt kiếp, và cuối cùng đạt đến chỗ đứng không lay chuyển, sống không còn lậu hoặc.14Ký sự về Ekāsanadāyikā
THI-AP14 · 98 đoạnEkāsanadāyikā kể: kiếp xưa bà là cô gái ở thành Haṁsavatī; một trưa nắng, thấy vị sa-môn đi qua, bà trải một chỗ ngồi mời ngài nghỉ và dâng đầy bát. Nhờ phước của một chỗ ngồi ấy, bà làm hoàng hậu của tám mươi vị vua trời và bảy mươi đấng Chuyển Luân Vương, không bao giờ thiếu của cải, và cung điện luôn có chiếc ghế dài tuyệt hảo chờ sẵn theo ý muốn.15Ký sự về Pañcadīpadāyikā
THI-AP15 · 102 đoạnPañcadīpadāyikā từng là nữ du sĩ ở thành Haṁsavatī. Bà ngồi tịnh tín bảy ngày đêm dưới cội Bồ-đề, đến ngày thứ bảy dâng năm ngọn đèn cháy sáng cho đến khi mặt trời mọc. Nhờ phước ấy bà có cung điện “Ngũ Đăng” cao sáu mươi do-tuần, làm chánh hậu của tám mươi vua trời và một trăm Chuyển Luân Vương, có thiên nhãn trong sạch, và trong kiếp cuối bà chứng A-la-hán lúc mới bảy tuổi.16Ký sự về Naḷamālikā
THI-AP16 · 46 đoạnTrong một kiếp xưa, bà là chim kinnarī bên sông Candabhāgā; thấy đức Phật tự giác, bà chắp tay, cầm tràng hoa sậy cúng dường Ngài. Nhờ nghiệp lành ấy, bà sinh lên cõi trời Đạo Lợi, nhiều kiếp làm hoàng hậu của các vua trời và vua chuyển luân, và kiếp này xuất gia trong giáo pháp của đức Phật dòng Sakya, hết sạch lậu hoặc.17Ký sự về Mahāpajāpatigotamī
THI-AP17 · 771 đoạnBài ký sự dài về Mahāpajāpatigotamī — người dì và mẹ nuôi của đức Phật: bà xin vào Niết-bàn trước đức Phật cùng năm trăm vị ni, được Ngài cho phép, từ biệt hội chúng, thể nhập các tầng thiền rồi viên tịch; lễ trà tỳ của bà được chư Thiên và đức Phật cùng hội chúng tiễn đưa vô cùng trọng thể. Phần sau, bà tự kể tiền thân: thời đức Phật Padumuttara bà cúng dường bảy ngày và được thọ ký sẽ là dì của đức Phật Gotama, đứng đầu các vị ni kỳ cựu về đức tin lâu năm.18Ký sự về Khemā
THI-AP18 · 383 đoạnKhemā kể hành trình nhiều kiếp: thời đức Phật Padumuttara, bà sinh ở Haṁsavatī, dâng vật thực bảy ngày cho đức Phật và Tăng đoàn rồi nguyện vị thế đứng đầu về đại trí tuệ; thời đức Phật Vipassī bà xuất gia mười ngàn năm, khéo về duyên khởi và bốn Sự Thật; thời đức Phật Koṇāgamana bà cùng hai người bạn dâng tu viện; thời đức Phật Kassapa bà là công chúa Samaṇī, bị cha vua Kikī không cho xuất gia nên cùng sáu chị em giữ Phạm hạnh thiếu nữ tại nhà hai mươi ngàn năm và học thuộc Kinh Mahānidāna. Kiếp cuối, bà là công chúa xứ Madda, vợ vua Bimbisāra, mê sắc đẹp nên tránh đức Phật; nhờ vua cho ca sĩ ca ngợi Veḷuvana, bà đến vườn, thấy người nữ do đức Phật hóa hiện già đi trong chớp mắt, nghe Ngài dạy quán bất mỹ, đạt Pháp nhãn, xuất gia, nửa tháng sau chứng A-la-hán và được tuyên bố đứng đầu về đại trí tuệ.19Ký sự về Uppalavaṇṇā
THI-AP19 · 338 đoạnUppalavaṇṇā, vị Tỷ-kheo-ni đứng đầu về thần thông, kể nhiều đời tu tập của mình: làm công chúa rồng Vimalā, bà phát nguyện theo gương vị ni thần thông của đức Phật Padumuttara; làm con gái vua Kikī, bà cùng sáu chị em sống phạm hạnh tại gia hai mươi ngàn năm; bà từng là mẹ của năm trăm vị Phật Độc Giác. Kiếp cuối, sinh ở thành Sāvatthī, bà xuất gia, nửa tháng chứng A-la-hán, thắng Māra và được đức Phật xác nhận đứng đầu về thần thông.20Ký sự về Paṭācārā
THI-AP20 · 188 đoạnPaṭācārā kể: kiếp xưa ở thành Haṁsavatī, nghe đức Phật Padumuttara khen vị ni đứng đầu về Luật, bà phát nguyện và được thọ ký sẽ thành Paṭācārā, vị ni giỏi Luật nhất vào thời đức Phật Gotama. Kiếp cuối, sau khi mất cả hai con, chồng, cha mẹ và em trai trong thời gian ngắn, bà đau khổ đến loạn trí; được đức Phật nhắc «không ai bảo vệ được người đã bị cái chết khuất phục», bà tỉnh lại, xuất gia, chứng A-la-hán và học trọn bộ Luật.21Ký sự về Kuṇḍalakesā
THI-AP21 · 221 đoạnBhaddā Kuṇḍalakesā kể: vào thời đức Phật Padumuttara, nghe Ngài đặt vị ni Subhā lên hàng đầu về thắng trí nhanh nhạy, bà cúng dường và phát nguyện đạt vị trí ấy; thời đức Phật Kassapa, bà là con gái thứ tư của vua Kikī, giữ đời trong sạch tại gia suốt hai mươi ngàn năm cùng sáu người chị em. Ở kiếp cuối, bà là con gái triệu phú ở Giribbaja, đem lòng yêu tên cướp Sattuka, bị hắn lừa lên núi để cướp trang sức và giết mình; nhờ nhanh trí, bà giết hắn trước, rồi xuất gia với nhóm ngoại đạo, thấy dấu hiệu bàn tay đứt đầy dòi bọ, đến hỏi đức Phật, nghe Pháp về uẩn, xứ, giới, chứng Pháp nhãn, và khi rửa chân nhìn nước sinh diệt mà tâm được giải thoát, được đức Phật tuyên bố đứng đầu về thắng trí nhanh nhạy.22Ký sự về Kisāgotamī
THI-AP22 · 162 đoạnTrưởng lão ni Kisāgotamī kể hành trình nhiều kiếp: thời đức Phật Padumuttara bà phát nguyện vị thế của vị ni mặc y thô; thời đức Phật Kassapa bà là công chúa Dhammā sống Phạm hạnh tại gia hai mươi ngàn năm cùng sáu chị em. Kiếp cuối, sau khi con trai chết, bà bồng xác con đi xin thuốc cho đến khi đức Phật dạy đi tìm hạt cải từ nhà chưa từng có người chết, khiến bà tỉnh ngộ về vô thường, xuất gia và chứng quả A-la-hán.23Ký sự về Dhammadinnā
THI-AP23 · 147 đoạnDhammadinnā kể: kiếp xưa bà là nữ tỳ đội nước, dâng bánh cho tôn giả Sujāta rồi được nhận làm con dâu; nghe đức Phật Padumuttara khen vị ni thuyết Pháp đứng đầu, bà phát nguyện và được thọ ký. Vào thời Phật Kassapa, bà là công chúa Sudhammā, cùng sáu chị em sống phạm hạnh tại gia hai mươi ngàn năm. Kiếp cuối, là vợ một cư sĩ ở Giribbaja, sau khi chồng chứng quả Bất Lai, bà xin xuất gia, chứng A-la-hán và trả lời thấu đáo mọi câu hỏi sâu của chồng cũ, được đức Phật khen là vị ni thuyết Pháp không ai sánh bằng.24Ký sự về Sakulā
THI-AP24 · 142 đoạnSakulā từng là công chúa ở Haṁsavatī, em gái khác mẹ của đức Phật Padumuttara; nghe Ngài đặt một Tỷ-kheo-ni vào vị thế đứng đầu về thiên nhãn, bà dâng cúng và nguyện đạt thiên nhãn, được thọ ký sẽ là đệ tử của đức Phật Gotama. Vào thời đức Phật Kassapa, bà là nữ du sĩ khất thực được một ít dầu, thắp đèn hầu bảo tháp suốt đêm với tâm trong sạch, nhờ đó đi đâu cũng có đèn lớn cháy sáng và nhìn xuyên tường, đá, núi. Trong kiếp cuối, sinh vào gia đình Bà-la-môn giàu có, thấy đức Phật vào thành sáng chói với danh vọng, bà xuất gia, sớm chứng A-la-hán và được đặt đứng đầu về thiên nhãn.25Ký sự về Nandā—Mỹ Nhân của Xứ Sở
THI-AP25 · 218 đoạnNandā là em gái của đức Phật, nhan sắc nổi danh là mỹ nhân của xứ sở, chỉ đứng sau Yasodharā. Vào thời đức Phật Padumuttara, bà đã cúng dường trọng hậu và phát nguyện đứng đầu các Tỷ-kheo-ni về thiền; kiếp cuối, dù được mẹ quở trách và xuất gia, bà vẫn quyến luyến sắc đẹp và tuổi trẻ. Đức Phật hóa hiện một người nữ đẹp hơn bà, rồi để bà tận mắt thấy thân ấy nứt vỡ, hôi thối ngay trước mặt mình; nghe đức Phật dạy quán bất tịnh, bà nhàm chán sắc thân, chứng quả A-la-hán ngay tại chỗ và được đặt lên vị trí đứng đầu về thiền.26Ký sự về Soṇā
THI-AP26 · 98 đoạnSoṇā từng sinh trong gia đình triệu phú vào thời đức Phật Padumuttara; nghe Ngài tán dương vị Tỷ-kheo-ni đứng đầu về tinh tấn, bà nguyện đạt vị thế ấy và được Ngài thọ ký sẽ là đệ tử của đức Phật Gotama. Trong kiếp cuối, bà sinh ở Sāvatthī, có mười người con trai; khi chồng xuất gia ngoài ý muốn của bà, bà cũng xuất gia, và trong lúc được giao đun nước, bà đặt nồi lên bếp, ngồi xuống định tâm, quán các uẩn là vô thường, khổ, vô ngã rồi chứng A-la-hán. Đức Phật nói bài kệ về một ngày sống tinh tấn và tuyên bố bà đứng đầu về sự khởi phát tinh tấn.27Ký sự về Bhaddākāpilānī
THI-AP27 · 282 đoạnBhaddākāpilānī kể đời mình gắn liền với người chồng qua nhiều kiếp — sau này là tôn giả Mahākassapa: là vợ triệu phú Videha, bà cùng chồng xây bảo tháp bảy do-tuần thờ đức Phật Padumuttara; một kiếp khác, vì tâm sân, bà dâng bát đầy bùn cho vị Phật Độc Giác nên nhiều kiếp mang hơi miệng hôi, rồi sám hối, rửa bát dâng lại bơ thơm và dâng viên ngói vàng vào tháp Phật Kassapa nên được thân thể tốt đẹp. Kiếp cuối, bà là con gái Bà-la-môn ở Sāgalā, kết hôn với Pipphalāyana Kassapa; cả hai cùng xuất gia và bà chứng A-la-hán.28Ký sự về Yasodharā
THI-AP28 · 393 đoạnỞ tuổi bảy mươi tám, trưởng lão ni Yasodharā — nguyên là vương phi của Bồ-tát — báo trước rằng thọ hành của bà sẽ chấm dứt ngay trong ngày, đến đảnh lễ đức Phật để sám hối và xin phép nhập diệt. Theo lời đức Phật, bà thị hiện thần thông lớn lao: hóa thân chim khổng lồ bao trùm vũ trụ, che phủ một ngàn thế giới bằng đóa sen, rồi kể lại công hạnh vô lượng kiếp của mình — từ thời Phật Dīpaṅkara, khi là Sumittā bà đã dâng năm trong tám nắm hoa sen cho ẩn sĩ Sumedha — và sau khi xuất gia cùng một ngàn người hầu cận, bà chứng đắc các thắng trí chỉ trong nửa tháng.29Ký sự về 10.000 vị Tỷ-kheo-ni
THI-AP29 · 62 đoạnMười ngàn Tỷ-kheo-ni do Yasodharā dẫn đầu cùng kể: vào thời đức Phật Dīpaṅkara, các bà đến dự buổi công bố về Sumedha và Sumittā và nguyện trong cuộc gặp gỡ đời sau sẽ là vợ của ngài, vì từ lâu các bà đã buông bỏ tất cả — bố thí, trì giới, hành thiền và mọi hưởng thụ. Qua nhiều kiếp làm phước và hưởng quyền thế, đến kiếp cuối các bà sinh trong nhiều gia tộc ở thành của dòng Sakya, được lợi lộc và danh vọng cao nhất, rồi xuất gia và chưa đầy nửa tháng tất cả đều đạt giải thoát.30Ký sự về 18.000 vị Tỷ-kheo-ni
THI-AP30 · 255 đoạnMười tám ngàn Tỷ-kheo-ni dòng Sakya do Yasodharā dẫn đầu đến gặp đức Phật, trình thần thông đúng theo năng lực, xin Ngài tha thứ mọi lỗi vì không biết, và theo lời Ngài dạy, trình các phép biến hóa lớn — trong đó có hình con công vũ trụ. Các bà kể mình từng là vợ của Ngài khi còn tại gia, đã nhiều ngàn koṭi lần bị cho đi làm vợ, làm người giúp việc, làm vật thực và đã xả bỏ mạng sống, tài sản, con cái vì Ngài mà không bất bình; vào thời đức Phật Dīpaṅkara, các bà là thiếu nữ Bà-la-môn mang hoa đến cuộc tụ hội và được thọ ký. Kiếp cuối, các bà sinh trong gia tộc Sakya, xuất gia, chưa đầy nửa tháng đã chạm đến bốn Sự Thật, và phẩm Kuṇḍalakesī khép lại với phần tóm lược danh sách các vị.31Ký sự về các Tỷ-kheo-ni đứng đầu là Yasavatī
THI-AP31 · 53 đoạnMười tám ngàn vị Tỷ-kheo-ni công nương dòng Sát-đế-lỵ, đứng đầu là Yasavatī, cùng trình lên đức Phật: mọi việc lành các bà từng làm — dâng vật dụng cho chư Phật, Phật Độc Giác và các đệ tử — đều hướng về Ngài, nên các bà được sinh cùng nhau vào dòng Sát-đế-lỵ, sống trong cung như ở vườn Nandana của chư thiên. Rồi các bà nhàm chán đời sống ấy, cùng xuất gia và chỉ trong vài ngày đều đạt Niết-bàn.32Ký sự về các vị Tỷ-kheo-ni thiếu nữ Bà-la-môn
THI-AP32 · 178 đoạnTám mươi bốn ngàn Tỷ-kheo-ni thiếu nữ Bà-la-môn bạch với đức Phật rằng các bà từng thuộc về Ngài qua nhiều kiếp, trình các phép biến hóa thần thông và tuyên bố đã làm chủ thần thông, thiên nhĩ, trí biết tâm người khác cùng các tuệ phân tích. Các bà kể nguồn gốc: vào thời đức Phật Padumuttara, viên quan Jaṭila cho xây cầu qua sông Gaṅgā ở cửa thành Haṁsavatī và một trú xá cho các Tỷ-kheo bị dòng sông ngăn trở; đàn bà, đàn ông, thiếu niên và nhiều thiếu nữ cùng góp công — rải cát, quét đường, dựng cờ phướn — và đức Phật thọ ký rằng Jaṭila sẽ thành Phật trong kiếp Bhadda còn những người góp công sẽ gặp lại nhau. Nhờ nghiệp ấy các bà hưởng hạnh phúc cõi trời và cõi người không đếm được, kiếp cuối sinh trong gia tộc Bà-la-môn ở cung của người con dòng Sakya, được tôn trọng, xuất gia và lìa bỏ tham ái.33Ký sự về Uppaladāyikā
THI-AP33 · 102 đoạnTrong một kiếp xưa, Uppaladāyikā là vợ của vua Aruṇa ở thành Aruṇavatī. Sợ hãi khi nhận ra mình chưa làm điều lành nào và chắc sẽ rơi vào địa ngục, bà xin nhà vua ban cho một vị sa-môn, rồi đổ đầy bình bát của vị ấy bằng vật thực thượng hạng và dâng lên với tâm hớn hở. Nhờ đó bà làm hoàng hậu của một ngàn vua trời và một ngàn vua chuyển luân; kiếp cuối sinh vào gia tộc Sakya, xuất gia và chưa đến đêm thứ bảy đã đạt được bốn Sự Thật.34Ký sự về Sigālamātā
THI-AP34 · 122 đoạnTrưởng lão ni Sigālamātā kể: thời đức Phật Padumuttara, bà nghe nói về vị ni đứng đầu về đức tin, phát nguyện vị thế ấy và tu trọn ba môn học, được thọ ký sẽ là mẹ của Sigālaka trong thời đức Phật Gotama. Kiếp cuối, sau khi nghe đức Phật dạy con trai mình, bà chứng quả Dự Lưu, xuất gia, và nhờ tu tập niệm Phật bà chứng A-la-hán, được đức Phật xác nhận là vị ni thiên về đức tin hạng nhất.35Ký sự về Sukkā
THI-AP35 · 131 đoạnSukkā kể lại nhiều kiếp liên tiếp: vào thời các đức Phật Vipassī, Sikhī, Vessabhū, Kakusandha, Koṇāgamana và Kassapa, bà đều xuất gia, học rộng, thông thạo Giáo Pháp và thuyết giảng làm rạng rỡ giáo pháp. Ở kiếp cuối, bà sinh vào gia đình triệu phú ở Giribbaja, xuất gia trước mặt vị ni Dhammadinnā và ngay trong lúc tóc đang được cạo đã đốt sạch phiền não; khi bà thuyết giảng, nhiều ngàn người thấu hiểu Pháp, khiến một vị dạ-xoa đi vòng quanh thành loan tin.36Ký sự về Rūpanandā
THI-AP36 · 102 đoạnTrưởng lão ni Abhirūpanandā kể: thời đức Phật Vipassī bà cúng dường lọng vàng trên tháp xá-lợi nên nhiều kiếp sinh ra xinh đẹp vượt trội; kiếp cuối là công chúa Nandā dòng Sakya, đẹp đến mức gây tranh chấp nên được cho xuất gia. Vì tự hào sắc đẹp, bà tránh gặp đức Phật; Ngài dùng thần thông hiện ba người nữ trẻ, già, chết để bà chấn động, tu tập đề mục bất tịnh và chứng quả A-la-hán.37Ký sự về Aḍḍhakāsī
THI-AP37 · 66 đoạnAḍḍhakāsī kể: vào thời đức Phật Kassapa, bà là một Tỷ-kheo-ni giữ giới và biết đủ, nhưng một lần nổi tâm ác, bà mắng một vị ni đã sạch lậu hoặc là «đồ kỹ nữ» — ác nghiệp ấy khiến bà bị nung nấu trong địa ngục và nhiều kiếp sinh làm kỹ nữ. Kiếp cuối, xinh đẹp như tiên nữ, bà lại bị đưa vào nghề gái điếm ở thành Giribbaja; nghe đức Phật thuyết Pháp, bà xuất gia, thọ giới lớn qua sứ giả vì đường đi có kẻ xấu chận đường, rồi chứng ngộ và dứt hẳn thân phận cũ.38Ký sự về Puṇṇā
THI-AP38 · 82 đoạnTrưởng lão ni Puṇṇikā (Puṇṇā) kể: qua nhiều thời đức Phật bà từng là vị ni học rộng nhưng tự cao vì sự hiểu biết của mình, nên kiếp cuối sinh làm con gái người nữ tỳ đội nước trong nhà ông Anāthapiṇḍika. Khi đi đội nước, bà nói Pháp cho một vị Bà-la-môn tin rằng tắm nước rửa sạch tội, khiến vị ấy xuất gia và chứng A-la-hán; sau đó bà cũng được trả tự do, xuất gia và chứng quả.39Ký sự về Ambapālī
THI-AP39 · 66 đoạnTrưởng lão ni Ambapālī kể: tiền thân bà là em gái của đức Phật Phussa, từng ước nguyện sắc đẹp; nhưng trong một kiếp khác, vì sân hận bà đã khiến người mắng nhiếc một vị Tỷ-kheo-ni, nên phải đọa địa ngục và làm gái điếm suốt mười ngàn kiếp. Nhờ một kiếp sống Phạm hạnh trong thời đức Phật Kassapa, cuối cùng bà sinh làm Ambapālī, xuất gia và chứng quả A-la-hán với đầy đủ thắng trí.40Ký sự về Pesalā
THI-AP40 · 82 đoạnPesalā kể: vào kiếp Bhadda, thời đức Phật Kassapa, bà sinh trong gia đình cư sĩ ở Sāvatthī, quy y, thọ giới, và được nghe đức Phật Kassapa công bố sự giác ngộ của Ngài — “mắt, trí, tuệ, minh và ánh sáng đã sinh khởi” — rồi học Pháp và vấn hỏi các Tỷ-kheo. Nhờ nghiệp ấy bà sinh lên cõi trời Đạo Lợi; trong kiếp cuối, sinh vào đại gia đình triệu phú, bà nghe Chánh Pháp gồm các Sự Thật, xuất gia, suy xét ý nghĩa của các Sự Thật và chứng A-la-hán, có trí phân tích trong sạch. Bài của bà khép lại phẩm Khattiyā, phần tóm lược các phẩm và toàn bộ Ký sự về các trưởng lão ni.