Ký sự về trưởng lão Vanavaccha
Trưởng lão Vanavaccha kể nhiều kiếp gắn với rừng: xuất gia dưới thời đức Phật Kassapa, có kiếp làm chim bồ câu sống gần một vị Tỷ-kheo đầy đủ đức hạnh trong rừng và được vị ấy cho ăn, thuyết pháp. Kiếp cuối ông sinh ở Kapilavatthu, từ trong thai đã hướng về đời sống rừng, làm bạn với vương tử Siddhattha, rồi xuất gia theo Ngài, gặp trưởng lão Kassapa và chứng sáu thắng trí.
Điểm thực hànhỞ gần người có đức hạnh thì niềm tin và thói quen tốt tự nảy nở; hãy chọn môi trường và bạn đồng tu nâng đỡ việc tu của mình.
Trưởng Lão Ký Sự Phẩm Bhaddiya Vanavaccha
thuyết giảng đã hiện khởi đấng
cao quý tên Kassapa có danh tiếng vĩ đại,
là thân quyến của đấng Phạm Thiên (dòng dõi Bà-la-môn).
Ở vào kiếp Bhadda này, thân quyến của đấng Phạm Thiên (dòng dõi Bà-la-môn), có danh tiếng vĩ đại, tên là Kassapa theo dòng họ, đã hiện khởi — đấng thuyết giảng cao quý nhất.
gia trong Giáo Pháp của đức Phật ấy.
Tôi đã thực hành Phạm hạnh đến hết
cuộc đời và đã chết đi từ nơi ấy.
Lúc bấy giờ, tôi đã xuất gia trong Giáo Pháp của đức Phật ấy. Tôi đã thực hành Phạm hạnh đến hết cuộc đời và đã chết đi từ nơi ấy.
các nguyện lực của tác ý,
sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến
cõi trời Đạo Lợi.
Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
chim bồ câu ở trong khu rừng.
Tại nơi ấy có vị tỳ khưu đầy đủ
đức hạnh cư ngụ, luôn luôn thỏa thích với thiền.
Mệnh chung từ nơi ấy, tôi đã trở thành con chim bồ câu ở trong khu rừng. Tại nơi ấy có vị Tỷ-kheo đầy đủ đức hạnh cư ngụ, luôn luôn thỏa thích với thiền.
tâm từ ái, có lòng bi mẫn,
có vẻ mặt hoan hỷ, là vị có hành xả,
rành rẽ về các tâm vô lượng.
có tâm từ ái, có lòng bi mẫn, luôn luôn có vẻ mặt hoan hỷ; là vị có hành xả, vị anh hùng vĩ đại, rành rẽ về các tâm vô lượng.
bị chướng ngại, có thiên hướng về
sự lợi ích cho tất cả chúng sanh. Không bao lâu sau,
tôi đã có được niềm tin ở vị Thinh Văn ấy của đấng Thiện Thệ.
(Vị ấy) có sự suy tầm không bị chướng ngại, có thiên hướng về sự lợi ích cho tất cả chúng sanh. Không bao lâu sau, tôi đã có được niềm tin ở vị Thinh Văn ấy của đấng Thiện Thệ.
đến ở cạnh bàn chân của vị
ấy đang ngồi. Có lần nọ, vị ấy cho thức ăn,
và có một lần thuyết giảng Giáo Pháp.
Khi ấy, tôi đây đã đi đến ở cạnh bàn chân của vị ấy đang ngồi. Có lần nọ, vị ấy cho thức ăn, và có một lần thuyết giảng Giáo Pháp.
trai của đấng Chiến Thắng với lòng yêu thương bao la.
Từ nơi đó chết đi, tôi đã đi đến cõi trời như là đã
đi về nhà của chính mình sau cuộc hành trình ở xứ lạ.
Khi ấy, tôi đã phục vụ người con trai của đấng Chiến Thắng với lòng yêu thương bao la. Từ nơi đó chết đi, tôi đã đi đến cõi trời như là đã đi về nhà của chính mình sau cuộc hành trình ở xứ lạ.
vào loài người nhờ vào nghiệp phước thiện.
Tôi đã từ bỏ gia
đình và đã xuất gia một cách mau chóng.
Mệnh chung từ cõi trời, tôi đã hạ sanh vào loài người nhờ vào nghiệp phước thiện. Tôi đã từ bỏ gia đình và đã xuất gia một cách mau chóng.
đạo sĩ khổ hạnh,
Bà-la-môn, du sĩ ngoại đạo, tôi đã sống ở
trong rừng hàng trăm (kiếp sống).
Là vị Sa-môn, đạo sĩ khổ hạnh, Bà-la-môn, là du sĩ ngoại đạo — tôi cũng từng như thế; sau khi trở thành như vậy, tôi đã sống ở trong rừng, hàng trăm (kiếp sống) như thế.
ở thành Kapilavatthu đáng yêu có người Bà-la-môn Vacchagotta.
Tôi đã nhập thai ở
người vợ của ông ta.
Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, ở thành Kapilavatthu đáng yêu có người Bà-la-môn Vacchagotta. Tôi đã nhập thai ở người vợ của ông ta.
khát và đã có quyết định về
việc cư ngụ ở
rừng vào lúc gần được lâm bồn.
Khi tôi đã nhập thai, mẹ của tôi (là sản phụ) đã có niềm khao khát và đã có quyết định về việc cư ngụ ở rừng vào lúc gần được lâm bồn.
Khi tôi đang
ra khỏi bào thai, mọi người đã đỡ
lấy tôi bằng tấm y ca-sa.
Do đó, mẹ đã sanh ra tôi ở bên trong khu rừng đáng yêu. Khi tôi đang ra khỏi bào thai, mọi người đã đỡ lấy tôi bằng tấm y ca-sa.
tộc Sakya đã được sanh ra.
Tôi đã trở thành người bạn yêu quý của vị ấy,
được tin tưởng, vô cùng tự hào.
Sau đó, vương tử Siddhattha biểu tượng của gia tộc Sakya đã được sanh ra. Tôi đã trở thành người bạn yêu quý của vị ấy, được tin tưởng, vô cùng tự hào.
tú của chúng sanh đang ra đi sau khi đã từ bỏ danh vọng vĩ đại,
tôi cũng đã xuất gia và đã
đi đến núi Hi-mã-lạp.
Khi con người ưu tú của chúng sanh đang ra đi sau khi đã từ bỏ danh vọng vĩ đại, tôi cũng đã xuất gia và đã đi đến núi Hi-mã-lạp.
về pháp giũ bỏ, có sự cư ngụ ở rừng,
vị đáng được tôn kính. Tôi đã được nghe về sự hiện khởi của đấng Chiến
Thắng và tôi đã đi đến gặp đấng Điều Phục Nhân.
người cư ngụ ở rừng, đáng được tôn kính, vị Kassapa, người thuyết giảng pháp giũ bỏ, Tôi đã được nghe về sự hiện khởi của đấng Chiến Thắng và tôi đã đi đến gặp đấng Điều Phục Nhân.
Ngài đã thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi.
Sau đó, tôi đã xuất gia và
cũng đã quay về lại khu rừng.
Ngài đã thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi, trong lúc giảng giải về mọi ý nghĩa. Sau đó, tôi đã xuất gia và cũng đã quay về lại khu rừng.
tôi đã chạm đến sáu thắng trí. Ôi, điều lợi ích đã
được đạt thành tốt đẹp cho tôi, tôi đã được
người bạn tốt thương tưởng!
Tại nơi ấy, trong khi sống không xao lãng, tôi đã chạm đến sáu thắng trí. Ôi, điều lợi ích đã được đạt thành tốt đẹp cho tôi, tôi đã được người bạn tốt thương tưởng!
tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói),
tôi sống không còn lậu hoặc.
Các phiền não của tôi đã bị thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
đã thực hành lời dạy đức Phật
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng. đã thực hành lời dạy đức Phật
tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng;
tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí tôi đã chứng đắc; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Trưởng lão Vanavaccha đã nói những lời kệ ấy như vậy. Ký sự về trưởng lão Vanavaccha, bài thứ 9.