Ký sự về 18.000 vị Tỷ-kheo-ni
Mười tám ngàn Tỷ-kheo-ni dòng Sakya do Yasodharā dẫn đầu đến gặp đức Phật, trình thần thông đúng theo năng lực, xin Ngài tha thứ mọi lỗi vì không biết, và theo lời Ngài dạy, trình các phép biến hóa lớn — trong đó có hình con công vũ trụ. Các bà kể mình từng là vợ của Ngài khi còn tại gia, đã nhiều ngàn koṭi lần bị cho đi làm vợ, làm người giúp việc, làm vật thực và đã xả bỏ mạng sống, tài sản, con cái vì Ngài mà không bất bình; vào thời đức Phật Dīpaṅkara, các bà là thiếu nữ Bà-la-môn mang hoa đến cuộc tụ hội và được thọ ký. Kiếp cuối, các bà sinh trong gia tộc Sakya, xuất gia, chưa đầy nửa tháng đã chạm đến bốn Sự Thật, và phẩm Kuṇḍalakesī khép lại với phần tóm lược danh sách các vị.
Điểm thực hànhHãy thực hành thiện hạnh, đừng thực hành ác hạnh — người sống theo Pháp sẽ ngủ an lạc ở đời này và đời sau.
Trưởng Lão Ni Ký Sự Phẩm Kuṇḍalakesī Ký sự về mười tám ngàn Tỷ-kheo-ni do Yasodharā dẫn đầu
xuất thân dòng Sakya
đứng đầu là Yasodharā
đã đi đến gặp đấng Toàn Giác.
Tất cả mười tám ngàn vị ni
đều có đại thần lực.
Trong khi đảnh lễ ở bàn chân của bậc Hiền Trí,
các vị ni trình rõ đúng theo năng lực rằng:
sự sanh, sự già, sự bệnh,
và sự chết đã được cạn kiệt.
an tịnh, không còn lậu hoặc.
Bạch đấng Lãnh Đạo, chúng con đã đi đến vị thế Bất Tử,
nếu có điều sai trái gì trước đây
Bạch đấng Đại Hiền Trí, nếu có điều sai trái gì trước đây của tất cả chúng con
vì không biết là lỗi lầm,
bạch đấng Hướng Đạo xin Ngài hãy tha thứ cho chúng con.”
các nàng cũng nên thị hiện thần thông.
“Là những người thực hành theo Giáo Pháp của Ta,
Và hãy chặt đứt sự nghi ngờ đã có cho tất cả các chúng.”
hãy chặt đứt sự nghi ngờ đã có
“Bạch đấng Đại Hùng,
vui vẻ, có dáng vóc đáng yêu,
bạch đấng Đại Hùng, tất cả đã là vợ của Ngài
tất cả đã là vợ của Ngài lúc còn tại gia.
trong số một trăm chín mươi sáu ngàn phụ nữ
một trăm chín mươi sáu ngàn
ở nhà của Ngài,
chúng con là những vị đứng đầu, là những người chủ quản tất cả.
Là những người có được sắc đẹp, tánh tình, và đức hạnh,
ở vào tuổi thanh xuân, có lời nói đáng yêu,
tất cả chư Thiên cũng như loài người đều quý trọng (chúng con).
chư Thiên cũng như loài người
tất cả mười tám ngàn vị ni
đều xuất thân dòng Sakya,
một ngàn vị ni có danh tiếng
là những vị đứng đầu, là những người chủ quản.
(các cô ấy) đã vượt qua dục giới,
đã được an trú vào sắc giới.
Không có gì tương đương với sắc đẹp
của một ngàn cô ấy.”
Sau khi đảnh lễ bậc Toàn Giác,
các vị ni đã phô bày thần thông đến bậc Đạo Sư.
Các vị ni cũng đã thị hiện đại thần lực với nhiều hình thức khác loại.
Các vị ni cũng đã thị hiện đại thần lực
(Các vị ni đã thị hiện) cơ thể tương đương với bầu vũ trụ,
đầu là (đảo) Kuru ở về phía bắc,
hai cánh là hai hòn đảo,
thân mình là đảo Jambu.
Và đuôi công là cái hồ ở phía nam
nhưng các lông chim là các cành lá khác nhau,
mặt trăng và mặt trời là cặp mắt to,
núi Meru là chóp đỉnh.
Ngọn núi của bầu vũ trụ là mỏ chim.
Trong lúc phe phẩy cây Jambu cùng với cội rễ (làm cây quạt),
Trong lúc phe phẩy cây Jambu cùng với cội rễ (làm cây quạt), các vị ni đã đi đến
và đảnh lễ đấng Lãnh Đạo Thế Gian.
các vị ni đã thị hiện hình dáng con voi, con ngựa,
ngọn núi, và biển cả,
rồi mặt trăng, mặt trời, núi Meru,
và vóc dáng của vị trời Sakka.
chúng con là các vị Yasodharā
bạch đấng Hữu Nhãn, chúng con là các vị Yasodharā xin đảnh lễ ở bàn chân (Ngài).
chúng con đã được hoàn thành nhờ vào quyền uy của Ngài.
Bạch vị Anh Hùng, bạch đấng Lãnh Đạo của nhân loại, chúng con đã được hoàn thành
chúng con đã có năng lực về các loại thần thông
và thiên nhĩ giới,
chúng con đã có năng lực về trí biết tâm của người khác.
Bạch đấng Đại Hiền Trí, chúng con đã có năng lực
Chúng con biết được đời sống trước đây,
thiên nhãn được thanh tịnh,
tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt,
giờ đây không còn tái sanh nữa.
trí của chúng con về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ,
và tương tợ như thế về phép biện giải
Bạch đấng Đại Hùng, trí của chúng con
là được thành tựu trong sự hiện diện của Ngài.
đối với các đấng Lãnh Đạo Thế Gian trước đây
sự gặp gỡ đối với các đấng Lãnh Đạo Thế Gian trước đây đã được chúng con nhìn thấy rõ.
Nhiều hành động hướng thượng của chúng con
là nhằm mục đích về Ngài.
xin Ngài nhớ lại thiện nghiệp trước đây của chúng con.
Bạch bậc Hiền Trí, xin Ngài nhớ lại
là nhằm mục đích về Ngài.
phước báu đã được tích lũy bởi chúng con
sau khi đã tránh xa những nơi không thích hợp
và đã ngăn trừ điều không giới hạnh,
là nhằm mục đích về Ngài.
mạng sống đã được chúng con hy sinh
nhiều ngàn koṭi lần.
Ngài đã bố thí chúng con nhằm mục đích làm vợ (kẻ khác)
Chúng con không có bất bình về điều ấy
là nhằm mục đích về Ngài.
nhiều ngàn koṭi lần.
Ngài đã bố thí chúng con vì sự hỗ trợ (kẻ khác)
Chúng con không có bất bình về điều ấy
là nhằm mục đích về Ngài.
nhiều ngàn koṭi lần.
Ngài đã bố thí chúng con nhằm mục đích vật thực (cho kẻ khác)
Chúng con không có bất bình về điều ấy
là nhằm mục đích về Ngài.
Chúng con đã từ bỏ nhiều ngàn koṭi mạng sống.
Chúng con đã từ bỏ các mạng sống
‘Chúng ta sẽ thực hiện sự giải thoát khỏi nỗi sợ hãi.’
Chúng con đã từ bỏ các mạng sống (nghĩ rằng):
các đồ trang sức được dùng cho phụ nữ,
cùng nhiều vải vóc các loại,
và các vật dụng của phụ nữ
là nhằm mục đích về Ngài.
Chúng con đã dứt bỏ tài sản, lúa gạo,
các ngôi làng, và các phố chợ.
các ruộng vườn, những người con trai và những người con gái
Bạch đấng Đại Hiền Trí, các ruộng vườn, những người con trai và những người con gái đã được dứt bỏ.
những con voi, ngựa, trâu bò,
luôn cả các nữ tỳ và tớ gái
là nhằm mục đích về Ngài.
không thể đếm được những con voi, ngựa, trâu bò, luôn cả các nữ tỳ và tớ gái đã được dứt bỏ
Về việc Ngài bảo chúng con rằng:
‘Ta sẽ cho vật thí đến người hành khất,’
chúng con không nhìn thấy sự bất bình của chúng con
trong khi Ngài bố thí vật thí tối thượng.
chúng con đã trải qua nhiều khổ đau khác loại
và ở sự luân hồi với nhiều hình thức
là nhằm mục đích về Ngài.
không thể đếm được,
đạt được sung sướng chúng con không vui thích
và không có tâm bực bội trong những khổ đau,
chúng con được quân bình trong mọi trường hợp
là nhằm mục đích về Ngài.
Theo lộ trình mà bậc Toàn Giác (quá khứ)
đã khẳng định về pháp (giải thoát),
sau khi trải qua an lạc và khổ đau.
thì đấng Đại Hiền Trí đã đạt đến sự Giác Ngộ
Bạch đấng Phạm Thiên, bậc Toàn Giác,
đấng Lãnh Đạo Thế Gian Gotama,
với các đấng Bảo Hộ Thế Gian khác.
Ngài với chúng con đã có nhiều lần gặp gỡ
nhiều hành động hướng thượng của chúng con
là nhằm mục đích về Ngài.
trong lúc Ngài tầm cầu Phật Pháp.”
Chúng con là những nữ tỳ của Ngài
và một trăm ngàn kiếp,
Vào thuở bốn a-tăng-kỳ
bậc Đại Anh Hùng,
vị Lãnh Đạo Thế Gian Dīpaṅkara đã hiện khởi.
những người ở khu vực vùng biên địa
Sau khi đã thỉnh mời đức Như Lai,
con đường đi đến của Ngài
làm sạch sẽ con đường đi đến của Ngài với tâm hoan hỷ.
Vào thời điểm ấy,
người ấy đã là vị Bà-la-môn tên Sumedha,
và đã sửa soạn con đường
của đấng Toàn Tri đang đi đến.
Vào thời điểm ấy,
tất cả chúng con đã có xuất thân là Bà-la-môn.
những đóa hoa mọc trên đất liền và dưới nước.
Chúng con đã mang đến cuộc tụ hội
Vào lúc ấy, đức Phật Dīpaṅkara,
bậc Đại Hùng có danh tiếng vĩ đại ấy
bậc Đại Hùng có danh tiếng vĩ đại ấy đã chú nguyện
cho vị ẩn sĩ có tâm ý hướng thượng.
quả đất (đã) lay chuyển, gào thét,
rung động cùng với Thiên giới.
Trong khi tuyên dương hành động của vị ẩn sĩ có tâm ý hướng thượng ấy,
hành động của vị ẩn sĩ có tâm ý hướng thượng ấy,
Các tiên nữ và loài người,
luôn cả chúng con cùng với chư Thiên
phẩm vật cúng dường khác nhau
rồi đã ước nguyện.
Đức Phật tên Jotidīpa (Dīpaṅkara) đã chú nguyện cho các vị ấy rằng:
Đức Phật tên Jotidīpa (Dīpaṅkara)
“Những điều đã được ước nguyện vào ngày hôm nay
sẽ trở thành hiện thực.”
điều đức Phật đã chú nguyện cho chúng con trước đây vô lượng kiếp.
Ấy là điều đức Phật đã chú nguyện cho chúng con
Trong khi tùy hỷ lời nói ấy,
chúng con đã là những người hành động như thế.
việc làm đã được thực hiện tốt đẹp ấy.
Tại nơi ấy, chúng con đã có tâm tịnh tín
Chúng con đã sanh vào bản thể trời và người
với số lần không thể đếm được.
Chúng con đã trải qua an lạc và khổ đau
ở các cõi trời và loài người.
Khi đạt đến kiếp sống cuối cùng,
chúng con đã sanh ra trong gia tộc Sakya.
Chúng con có sắc đẹp, có của cải,
do đó có danh vọng và giới hạnh.
Chúng con có sự thành tựu vẹn toàn thân thể,
được vô cùng kính trọng ở các gia đình.
Lợi lộc, danh vọng, cung kính,
sự hội tụ của các pháp thế gian,
và tâm bị khổ não là không có,
chúng con sống không sợ hãi.
Khi ấy, điều này đã được đức Thế Tôn nói ra
ở trong kinh thành của đức vua (Suddhodana).
việc hỗ trợ trước đây của các vị Sát-đế-lỵ:
Và đấng Anh Hùng đã chỉ ra việc hỗ trợ trước đây
“Người nữ nào là hữu ân,
người nữ nào cùng chung vui sướng khổ đau,
người nữ nào nói lời hữu ích,
và người nữ nào có lòng thương tưởng, –
thời hãy thực hành pháp thiện hạnh,
chớ thực hành ác hạnh ấy.
Người thực hành Giáo Pháp thọ hưởng an lạc
ở đời này và đời sau.”
Sau khi từ bỏ gia đình,
chúng con đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
Chưa đạt đến nửa tháng,
chúng con đã chạm đến bốn Sự Thật.
y phục, vật thực,
thuốc men, và chỗ nằm ngồi
Nhiều người đem đến cho chúng con
tợ như các làn sóng của biển cả.
Các phiền não của chúng con đã được thiêu đốt,
tất cả các hữu đã được xóa sạch.
Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói),
chúng con sống không còn lậu hoặc.
Quả vậy, chúng con đã thành công mỹ mãn,
trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
đã thành tựu tam minh,
đã thực hành lời dạy của đức Phật
Bốn (tuệ) phân tích,
tám giải thoát,
và sáu thắng trí đã được chúng con đắc chứng;
chúng con đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Như vậy là có khổ đau đa dạng
và thành công nhiều hình thức.
Được đạt đến trạng thái thanh tịnh,
chúng con nhận lãnh mọi sự thành tựu.
Những nàng nào bố thí chính bản thân mình
vì mục đích phước báu của vị đại ẩn sĩ
là có sự thành tựu về bạn hữu,
còn vị thế Niết Bàn là không còn tạo tác.
“Quá khứ,
hiện tại, và vị lai đãđược cạn kiệt,
tất cả nghiệp của chúng con đã được cạn kiệt.
Bạch đấng Hữu Nhãn, chúng con xin đảnh lễ ở bàn chân (Ngài).”
“Ta sẽ nói điều gì hơn nữa về các nàng là những người đang tiến đến Niết Bàn?
“Ta sẽ nói điều gì hơn nữa
(là cảnh giới mà) sự tạo tác và điều sai trái đã được tịnh lặng.”
Bởi vì các nàng đã đạtđược vị thế Bất Tử,
Nghĩa là
Mười tám ngàn Tỷ-kheo-ni, sinh ra trong dòng Sakya, do Yasodharā dẫn đầu, đã đến gặp đấng Toàn Giác. Tất cả mười tám ngàn vị, đều có thần thông lớn. Khi đảnh lễ dưới chân bậc Hiền Trí, họ trình bày đúng theo năng lực của mình rằng: Sinh, già, bệnh, và chết đã cạn kiệt, bạch đấng Đại Hiền Trí. trạng thái an tịnh, không còn ô nhiễm, bạch đấng Lãnh Đạo, chúng con đã đi đến trạng thái bất tử. Nếu trước đây có điều gì sai trái, của tất cả chúng con, bạch đấng Đại Hiền Trí, vì không biết mà phạm lỗi, xin Ngài tha thứ cho chúng con, bạch đấng Hướng Đạo.” Các nàng cũng hãy trình thần thông, “Là những người làm theo giáo pháp của Ta, và hãy cắt đứt nghi ngờ cho tất cả hội chúng.” hãy cắt đứt nghi ngờ còn có, “Bạch đấng Đại Hùng, Yasodharā, đáng yêu, dáng vẻ dễ nhìn, tất cả, bạch đấng Đại Hùng, đều đã là vợ của Ngài khi còn tại gia. Trong số một trăm ngàn phụ nữ, chín mươi sáu ngàn nữa, trong nhà của Ngài, bạch đấng Anh Hùng, chúng con là những người đứng đầu, chủ quản tất cả. Có sắc đẹp, tính nết và đức hạnh, đang tuổi thanh xuân, nói lời đáng yêu, tất cả đều quý trọng chúng con, chư thiên cũng như loài người, Tất cả mười tám ngàn vị, đều sinh ra trong dòng Sakya, một ngàn vị cùng với Yasodharā, là những người đứng đầu, chủ quản. Đã vượt qua cõi dục, đã trụ vào cõi sắc. Không gì sánh bằng sắc đẹp, của một ngàn vị ấy, bạch đấng Đại Hiền Trí.” Sau khi đảnh lễ bậc Toàn Giác, họ trình thần thông trước bậc Đạo Sư. Nhiều vị với nhiều hình dạng khác nhau, cũng trình thần thông lớn, Thân bằng cả vòng vũ trụ, đầu là đảo Kuru phía bắc, hai cánh là hai hòn đảo, thân mình là đảo Jambu. Đuôi công là cái hồ phía nam, lông chim là các cành lá khác nhau, mặt trăng và mặt trời là đôi mắt, núi Meru là chóp đỉnh. Núi vòng vũ trụ là mỏ chim. Cây Jambu cùng gốc rễ được phe phẩy làm quạt, phe phẩy quạt, họ đi đến, và đảnh lễ đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Họ hiện hình voi, ngựa, núi và biển cả, rồi mặt trăng, mặt trời, núi Meru, và hình dáng của trời Sakka. Chúng con là các Yasodharā, bạch đấng Anh Hùng, chúng con đảnh lễ dưới chân Ngài, bạch đấng có mắt sáng. nhờ oai lực lâu dài của Ngài, chúng con đã thành tựu. bạch đấng Lãnh Đạo của loài người, chúng con đã thành tựu, Chúng con có năng lực về các thần thông, và về thiên nhĩ, chúng con có năng lực về trí biết tâm người khác. Bạch đấng Đại Hiền Trí, chúng con có năng lực, Chúng con biết đời sống trước đây, thiên nhãn đã trong sạch, mọi ô nhiễm đã cạn sạch, giờ đây không còn tái sinh nữa. Trí của chúng con về ý nghĩa, Pháp, ngôn từ, và cũng thế về khả năng biện giải, Bạch đấng Đại Hùng, trí của chúng con, đã sinh khởi trong sự hiện diện của Ngài. với các vị lãnh đạo thế gian đời trước, cuộc gặp gỡ đã được chúng con cho thấy rõ. Nhiều việc phục vụ của chúng con, là vì Ngài, bạch đấng Đại Hiền Trí. Xin Ngài nhớ lại nghiệp lành xưa của chúng con. Bạch bậc Hiền Trí, xin hãy nhớ, là vì Ngài, bạch đấng Đại Hùng. phước đã được chúng con tích lũy, Sau khi tránh những trường hợp không thể, và ngăn trừ điều trái hạnh, là vì Ngài, bạch đấng Đại Hùng. mạng sống đã được chúng con xả bỏ, nhiều ngàn koṭi lần. Ngài đã cho chúng con đi làm vợ người khác, Chúng con không bất bình về điều ấy, đó là vì Ngài, bạch đấng Đại Hiền Trí. nhiều ngàn koṭi lần. Ngài đã cho chúng con đi để giúp đỡ người khác, Chúng con không bất bình về điều ấy, đó là vì Ngài, bạch đấng Đại Hiền Trí. nhiều ngàn koṭi lần. Ngài đã cho chúng con đi làm vật thực cho người khác, Chúng con không bất bình về điều ấy, đó là vì Ngài, bạch đấng Đại Hiền Trí. Chúng con đã xả bỏ nhiều ngàn koṭi mạng sống. Chúng con đã xả bỏ mạng sống, “Chúng ta sẽ làm cho thoát khỏi sợ hãi.” chúng con đã xả bỏ mạng sống, Đồ trang sức trên thân, và nhiều vải vóc đủ loại, đồ dùng của phụ nữ, chúng con không cất giấu, đó là vì Ngài, bạch đấng Đại Hiền Trí. Chúng con đã xả bỏ tài sản, lúa gạo, làng mạc và phố chợ. Ruộng vườn, con trai và con gái, đã được xả bỏ, bạch đấng Đại Hiền Trí. Voi, ngựa, trâu bò, cả nữ tỳ và người hầu gái, đó là vì Ngài, bạch đấng Đại Hùng. đã được xả bỏ không đếm được, Khi Ngài dặn chúng con rằng: “Ta sẽ cho vật thí đến người xin,” chúng con không thấy lòng bất bình của mình, khi Ngài cho vật thí cao nhất. Chúng con đã trải qua nhiều thứ khổ đau, và trong vòng luân hồi nhiều hình thức, đó là vì Ngài, bạch đấng Đại Hùng. không đếm được, Được hạnh phúc, chúng con không hoan hỷ thêm, và trong khổ đau không buồn khổ, chúng con quân bình trong mọi trường hợp, đó là vì Ngài, bạch đấng Đại Hiền Trí. Theo con đường mà bậc Toàn Giác, đã đưa ra Pháp ấy, sau khi trải quaสุข và khổ, Ngài đã đạt giác ngộ, bạch đấng Đại Hiền Trí. Brahmadeva, bậc Toàn Giác, Gotama, đấng Lãnh Đạo Thế Gian, với các vị bảo hộ thế gian khác. chúng con đã có nhiều cuộc gặp gỡ với các vị ấy cùng Ngài, Nhiều việc phục vụ của chúng con, là vì Ngài, bạch đấng Đại Hiền Trí. khi Ngài đang tìm cầu Phật Pháp.” chúng con là người hầu của Ngài, và một trăm ngàn kiếp, Từ bốn a-tăng-kỳ trước, Đấng Đại Hùng Dīpaṅkara, vị lãnh đạo thế gian, đã xuất hiện. Người dân vùng biên địa, sau khi thỉnh mời đức Như Lai, con đường Ngài sẽ đến, dọn sạch con đường với tâm hoan hỷ. Vào thời ấy, ông là Bà-la-môn tên Sumedha, và sửa soạn con đường, cho đấng Toàn Tri đang đến. Vào thời ấy, tất cả chúng con đều sinh ra trong dòng Bà-la-môn. những đóa hoa mọc trên cạn và dưới nước. chúng con mang đến cuộc tụ hội, Khi ấy đức Phật Dīpaṅkara, Đấng Đại Hùng danh tiếng lớn ấy, đã thọ ký, cho vị ẩn sĩ có tâm hướng thượng. Mặt đất chuyển động, rung rít, rung động cùng với cõi trời. Khi công bố việc làm của vị ẩn sĩ ấy, việc làm của vị ẩn sĩ có tâm hướng thượng ấy, Các tiên nữ và loài người, và cả chúng con cùng chư thiên, nhiều phẩm vật đáng cúng dường, đã cúng dường rồi nguyện ước. Đức Phật đã thọ ký cho họ rằng: đức Phật tên Jotidīpa, “Những ai hôm nay đã nguyện điều gì, sẽ có mặt trong tương lai.” Điều đức Phật thọ ký cho chúng con cách nay vô lượng kiếp. Ấy là điều đức Phật đã thọ ký cho chúng con, Khi hoan hỷ với lời ấy, chúng con đã hành động đúng như thế. Việc làm đã được làm khéo ấy, ở đó, chúng con làm tâm mình tin trong sạch, chúng con sinh vào cõi trời và cõi người, trải qua không đếm được. Trải quaสุข và khổ, ở cõi trời và cõi người. Khi đến kiếp cuối cùng, chúng con sinh trong gia tộc Sakya. Chúng con có sắc đẹp, có của cải, rồi có danh vọng và giới hạnh. Chúng con đầy đủ mọi phần thân thể, được kính trọng trong các gia đình. Lợi lộc, danh vọng, sự cung kính, sự gặp gỡ các pháp thế gian, và tâm khổ não thì không có, chúng con sống không sợ hãi từ đâu cả. Điều này đã được đức Thế Tôn nói, khi ấy trong nội cung của nhà vua. việc giúp đỡ xưa của các vị Sát-đế-lỵ: đấng Anh Hùng đã chỉ ra việc giúp đỡ xưa, “Người nữ nào biết ơn, người nữ nào cùng chia vui sướng khổ đau, người nữ nào nói điều có ích, và người nữ nào có lòng thương tưởng, hãy thực hành Pháp, sống thiện hạnh, đừng thực hành ác hạnh. Người sống theo Pháp ngủ an lạc, ở đời này và đời sau.” Sau khi bỏ nhà, chúng con xuất gia sống đời không nhà. Chưa đầy nửa tháng, chúng con đã chạm đến bốn Sự Thật. Y phục, vật thực, thuốc men và chỗ nằm ngồi, Nhiều người mang đến cho chúng con, như sóng biển, các bà khác nữa. Phiền não của chúng con đã bị đốt sạch, mọi kiếp sống đã dứt sạch; như voi cái đã cắt đứt dây trói, chúng con sống không còn ô nhiễm trong tâm. Thật tốt đẹp, chúng con đã thành tựu trọn vẹn, ngay trước mặt đức Phật cao nhất, chúng con đã đạt ba minh, chúng con đã làm theo lời dạy của đức Phật. Bốn tuệ phân tích, tám giải thoát, sáu thắng trí đã chứng đạt; chúng con đã làm theo lời dạy của đức Phật. Như vậy, khổ đau có nhiều dạng, và thành tựu cũng nhiều hình thức. Đã đạt trạng thái trong sạch, chúng con nhận được mọi thành tựu. Những ai cho đi chính mình, vì phước của vị đại ẩn sĩ, sẽ có thành tựu về bạn hữu, và trạng thái Niết-bàn, trạng thái không còn tạo tác. “Quá khứ, hiện tại và vị lai đã cạn kiệt, mọi nghiệp của chúng con đã cạn kiệt. Bạch đấng có mắt sáng, chúng con đảnh lễ dưới chân Ngài.” “Về những người đang nói đến Niết-bàn, Ta còn nói gì hơn nữa? Ta còn nói gì hơn nữa, mọi tạo tác và lỗi lầm đã lặng yên.” vì các nàng đã đạt trạng thái bất tử,
Mười tám ngàn Tỷ-kheo-ni, đứng đầu là Yasodharā, đã nói những bài kệ này như vậy ngay trước mặt đức Thế Tôn. Ký sự về mười tám ngàn Tỷ-kheo-ni do Yasodharā dẫn đầu là phần thứ mười. Phẩm Kuṇḍalakesī là phẩm thứ ba. Phần tóm lược của phẩm ấy:
luôn cả vị ni Dhammadinnā, vị ni Sakulā,
vị ni Nandā cao quý, vị ni Soṇā,
vị ni Bhaddākāpilānī, vị ni Yasodharā,
mười ngàn tỳ khưu ni,
và mười tám ngàn vị ni,
bốn trăm bảy mươi sáu câu kệ
bảy mươi sáu câu kệ cả thảy.
Nghĩa là
Kuṇḍalā, Kisāgotamī, và cả Dhammadinnā, Sakulā, Nandā cao quý, Soṇā, Bhaddākāpilānī, Yasodharā, Mười ngàn Tỷ-kheo-ni, và mười tám ngàn vị, bốn trăm bài kệ, và bảy mươi sáu bài nữa cả thảy.