Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Milinda & Apadāna › Ký sự về trưởng lão Nāḷikeradāyaka

Ký sự về trưởng lão Nāḷikeradāyaka

10 Nāḷikeraphaladāyakattheraapadāna · THA-AP512 · 48 đoạn

Trưởng lão Nāḷikeradāyaka kể: là người phụ việc tu viện ở Bandhumatī, ông dâng trái dừa lên đức Phật đang đi trên hư không, với tâm ý trong sạch nên được hạnh phúc lớn. Nhờ đó, suốt chín mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh, thiên nhãn thanh tịnh; cuối phẩm là phần tóm lược của phẩm Kaṇikāra.

Điểm thực hành

Phục vụ nơi tu học và dâng cúng với tâm trong sạch đem lại an lạc ngay hiện tại; hãy làm việc hỗ trợ bằng tâm ý thanh thản.

Trưởng Lão Ký Sự Phẩm Kaṇikāra Nāḷikeraphaladāyaka

Vào lúc bấy giờ,
là người phụ việc tu viện ở thành phố Bandhumatī,
tôi đã nhìn thấy đức Phật,
bậc Vô Nhiễm đang di chuyển ở trên không trung.
Tôi đã cầm lấy trái dừa
và đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng.
Bậc có danh vọng lớn lao đã thọ
lãnh trong khi đứng ở trên hư không.
Trái cây đã được tôi dâng cúng
đến đức Phật với tâm ý trong sạch,
đối với tôi là nguồn sanh lên niềm hạnh
phúc đưa đến sự an lạc trong thời hiện tại.
Khi ấy,
tôi đã đạt đến niềm phỉ lạc lớn lao và sự an lạc cùng tột.
Khi tôi được sanh ra ở nơi này nơi nọ,
châu báu còn hiện lên cho tôi.
Kể từ khi tôi đã dâng cúng
trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp,
tôi không còn biết đến khổ cảnh;
điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
Thiên nhãn của tôi được thanh tịnh,
tôi là thiện xảo về định,
đã đạt đến sự toàn hảo về các thắng trí;
điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt,
tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói),
tôi sống không còn lậu hoặc.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn,
đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
đã thực hành lời dạy đức Phật
Bốn (tuệ) phân tích,
tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng;
tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Nghĩa là

Ở thành Bandhumatī, khi ấy tôi là người phụ việc tu viện; Tôi đã nhìn thấy đức Phật, Bậc Vô Nhiễm đang di chuyển ở trên không trung. Tôi đã cầm lấy trái dừa Và đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng. trong khi đứng ở trên hư không, bậc có danh vọng lớn lao đã thọ lãnh. là nguồn sanh lên niềm hạnh phúc cho tôi, đưa đến sự an lạc trong thời hiện tại; sau khi dâng cúng trái cây đến đức Phật với tâm ý trong sạch, Khi ấy, Tôi đã đạt đến niềm phỉ lạc lớn lao và sự an lạc cùng tột. Khi tôi được sanh ra ở nơi này nơi nọ, Châu báu còn hiện lên cho tôi. chín mươi mốt kiếp về trước, kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây vào lúc ấy, Tôi không còn biết đến khổ cảnh; Điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây. Thiên nhãn của tôi được thanh tịnh, Tôi là thiện xảo về định, Đã đạt đến sự toàn hảo về các thắng trí; Điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây. Các phiền não của tôi đã bị thiêu đốt, mọi kiếp sống đã dứt sạch; như voi đực bứt đứt dây trói, tôi sống không còn lậu hoặc. Quả thật, tôi đã thành công tốt đẹp, ở trước mặt đức Phật cao nhất, tôi đã đạt ba minh và làm theo lời dạy của đức Phật. Tôi đã làm theo lời dạy của đức Phật. Bốn tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí, tôi đã chứng đắc; tôi đã làm theo lời dạy của đức Phật.

Trưởng lão Nāḷikeraphaladāyaka đã nói những lời kệ ấy như vậy. Ký sự về trưởng lão Nāḷikeraphaladāyaka, bài thứ 10. Phẩm Kaṇikāra là phẩm thứ năm mươi mốt. Phần tóm lược của phẩm này:

Bông hoa kaṇikāra, một bình bát,
vị có trái cây kāsumāri, trái cây avaṭalà tương tợ,
và trái cây vāra, trái chanh,
trái cây ajeli, luôn cả trái cây amoda,
trái cây thốt nốt, và trái dừa là tương tợ.
Các câu kệ đã được tính đếm ở đây
là một trăm câu kệ,
không có hơn kém.

Nghĩa là

Bông hoa kaṇikāra, một bình bát, Vị có trái cây kāsumāri, trái cây avaṭa là tương tợ, Và trái cây vāra, trái chanh, Trái cây ajeli, luôn cả trái cây amoda, Trái cây thốt nốt, và trái dừa là tương tợ. Các câu kệ đã được tính đếm ở đây Là một trăm câu kệ, Không có hơn kém.