Giải nghĩa Nikaya
Trang chủ › Milinda & Apadāna › Ký sự về trưởng lão Giripunnāgiya

Ký sự về trưởng lão Giripunnāgiya

Giripunnāgiyattheraapadāna · THA-AP479 · 22 đoạn

Trưởng lão Giripunnāgiya kể: lúc bậc Toàn Giác Sobhita cư ngụ tại núi Cittakūṭa, ông hái bông hoa nguyệt quế mọc ở núi và cúng dường đến đấng Tự Chủ. Nhờ phước cúng dường đức Phật, suốt chín mươi bốn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, nay phiền não đã thiêu đốt hết và ông sống không còn lậu hoặc.

Điểm thực hành

Hoa mọc ở núi, hái ngay tại chỗ để dâng lên đức Phật; đừng đợi về đến nhà mới làm việc lành khi cơ hội đang ở trước mắt.

Trưởng Lão Ký Sự Phẩm Naḷamāli Giripunnāgiya

bậc Toàn Giác tên Sobhita
đã cư ngụ tại núi Cittakūṭa.
Tôi đã hái bông hoa nguyệt quế mọc ở núi
và đã cúng dường đến đấng Tự Chủ.

Bậc Toàn Giác tên Sobhita, lúc bấy giờ đã cư ngụ tại núi Cittakūṭa; sau khi hái bông hoa nguyệt quế mọc ở núi, tôi đã cúng dường đến đấng Tự Chủ.

(Kể từ khi) tôi đã cúng dường đức Phật trước đây chín mươi bốn kiếp,
tôi đã cúng dường đức Phật
tôi không còn biết đến khổ cảnh;
điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.

Chín mươi bốn kiếp trước, đức Phật ấy tôi đã cúng dường khi ấy; tôi không còn biết đến đường dữ; đó là quả của việc cúng dường đức Phật.

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt,
tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói),
tôi sống không còn lậu hoặc.

Các phiền não của tôi đã bị thiêu đốt, mọi kiếp sống đã dứt sạch; như voi đực bứt đứt dây trói, tôi sống không còn lậu hoặc.

Quả vậy,
tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh,
đã thực hành lời dạy đức Phật

Quả thật, tôi đã thành công tốt đẹp, trước mặt đức Phật cao nhất, tôi đã đạt ba minh; tôi đã làm theo lời dạy của đức Phật.

Bốn (tuệ) phân tích,
tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng;
tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Bốn tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí, tôi đã chứng đắc; tôi đã làm theo lời dạy của đức Phật.

Trưởng lão Giripunnāgiya đã nói những lời kệ ấy như vậy. Ký sự về trưởng lão Giripunnāgiya, bài thứ 7.