Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Milinda & Apadāna › Ký sự về trưởng lão Sīvaka

Ký sự về trưởng lão Sīvaka

Sivakattheraapadāna · THA-AP561 · 22 đoạn

Trưởng lão Sīvaka kể ngắn gọn: khi đức Phật Vipassī đang đi tìm vật thực với bình bát trống, ông đã đổ đầy sữa kem vào bát của Ngài. Nhờ việc dâng cúng vật thực ấy, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh — đó là quả của phần sữa kem dâng cúng.

Điểm thực hành

Thấy bình bát trống thì đổ đầy ngay: giúp đúng lúc người đang cần, dù phần giúp nhỏ, cũng là phước lớn.

Trưởng Lão Ký Sự Phẩm Yasa Sivaka

Khi bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī
đang đi về việc tìm kiếm (vật thực).
Tôi đã nhìn thấy bình bát
trống trơn và tôi đã để đầy sữa kem.
Kể từ khi tôi đã dâng
cúng vật thực trước đây chín mươi mốt kiếp,
tôi không còn biết đến khổ cảnh;
điều này là quả báu của sữa kem.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt,
tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói),
tôi sống không còn lậu hoặc.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn,
đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
đã thực hành lời dạy đức Phật
Bốn (tuệ) phân tích,
tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng;
tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Nghĩa là

Khi Ngài đang đi tìm kiếm vật thực, đức Vipassī, bậc Đại Ẩn Sĩ; Tôi đã nhìn thấy bình bát trống trơn và tôi đã để đầy sữa kem. Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thực trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả của sữa kem. Các phiền não của tôi đã bị thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng. đã thực hành lời dạy đức Phật Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí tôi đã chứng đắc; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Trưởng lão Sīvaka đã nói những lời kệ ấy như vậy. Ký sự về trưởng lão Sīvaka, bài thứ 9.