Ký sự về trưởng lão Bodhisiñcaka
Trưởng lão Bodhisiñcaka kể: trong lễ hội ở cội Bồ-đề lớn của đức Phật Vipassī, khi đang trên đường đi xuất gia, ông đến gần, lấy nước hoa rưới lên cội Bồ-đề với niềm tin rằng bậc đã giải thoát sẽ giúp chúng sinh giải thoát. Nhờ việc rưới nước ấy, suốt chín mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương, và nay chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát cùng thắng trí.
Điểm thực hànhTưới tắm, chăm sóc cây Bồ-đề và nơi tôn nghiêm bằng tâm cung kính cũng là một hạnh tu; hãy giữ gìn sạch đẹp những nơi nhắc ta về sự giác ngộ.
Trưởng Lão Ký Sự Phẩm Timira Bodhisiñcaka
Đã có lễ hội ở cội Đại Bồ Đề
Trong khi đang đi đến về việc xuất gia,
tôi đã đi đến gần lễ hội.
Tôi đã cầm lấy nước bông hoa
đã rưới xuống cội Bồ Đề
“Đã được giải thoát, Ngài sẽ giúp cho chúng con giải thoát.
Đã Niết Bàn, Ngài sẽ giúp cho chúng con Niết Bàn.”
(Kể từ khi) tôi đã rưới nước (bông hoa) ở cội Bồ Đề trước đây chín mươi mốt kiếp,
tôi đã rưới nước (bông hoa) ở cội Bồ Đề
tôi không còn biết đến khổ cảnh;
điều này là quả báu của việc rưới nước (bông hoa) ở cội Bồ Đề.
Ở kiếp thứ ba mươi ba trong thời hiện tại,
đã có tám vị thống lãnh dân chúng
cùng tên Udakāsecana,
các vị này là các đấng Chuyển Luân Vương.
Bốn (tuệ) phân tích,
tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng;
tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Nghĩa là
Của đức Thế Tôn Vipassī, có lễ hội lớn ở cội Bồ-đề; đang trên đường đi xuất gia, khi ấy tôi đã đến gần đó. Cầm lấy nước hoa, tôi rưới xuống cội Bồ-đề, nói rằng: “Bậc đã được giải thoát sẽ khiến chúng con được giải thoát; bậc đã nhập diệt sẽ khiến chúng con được nhập diệt.” Từ chín mươi mốt kiếp trước, khi tôi rưới nước lên cội Bồ-đề, việc rưới nước lên cội Bồ-đề khi ấy, tôi không còn biết đến đường dữ; đó là quả của việc rưới nước lên cội Bồ-đề. Ở kiếp thứ ba mươi ba nay, có tám vị chúa tể dân chúng, cùng tên Udakāsecana, tám vị ấy là các Chuyển Luân Vương. Bốn tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí, tôi đã chứng đắc; tôi đã làm theo lời dạy của đức Phật.
Trưởng lão Bodhisiñcaka đã nói những lời kệ ấy như vậy. Ký sự về trưởng lão Bodhisiñcaka, bài thứ 9.