Ký sự về trưởng lão Ārakkhadāyaka
Trưởng lão Ārakkhadāyaka kể vắn tắt: ông đã cho làm vòng rào chắn cho đức Phật Siddhattha và dâng cúng sự bảo vệ đến đấng Thiện Thệ. Nhờ tính chất đặc biệt của nghiệp ấy, ông không còn thấy kinh hoàng sợ hãi; sinh lên ở bất cứ đâu, sự run sợ của ông không hề có. Kể từ chín mươi bốn kiếp trước, nhờ quả của vòng rào chắn ấy, ông không còn biết khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Apassena, và nay đã chứng đắc tuệ phân tích, giải thoát, thắng trí.
Điểm thực hànhCho làm vòng rào chắn quanh (nơi ở của) đức Phật và dâng sự bảo vệ đến Ngài — quả của nó là không còn thấy kinh hoàng sợ hãi ở bất cứ nơi nào sinh ra; người bảo vệ bậc giác ngộ được sự không sợ hãi bảo vệ lại.
Trưởng Lão Ký Sự Phẩm Ālambaṇadāyaka Ārakkhadāyaka
Tôi đã cho thực hiện vòng rào chắn
Và tôi đã dâng cúng sự bảo vệ
đến đấng Thiện Thệ, bậc Đại Ẩn Sĩ.
Do tính chất đặc biệt của nghiệp ấy,
tôi không nhìn thấy sự kinh hoàng và sựhãi sợ.
Khi được sanh lên ở bất cứ đâu,
sự run sợ của tôi là không được biết đến.
trước đây chín mươi bốn kiếp,
(Kể từ khi) tôi đã cho thực hiện vòng rào chắn
tôi không còn biết đến khổ cảnh;
điều này là quả báu của vòng rào chắn.
Trước đây vào kiếp thứ sáu,
(tôi đã là) vị tên Apassena,
là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật,
có oai lực lớn lao.
Bốn (tuệ) phân tích,
tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng;
tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Nghĩa là
Đến đức Thế Tôn Siddhattha, tôi đã cho làm vòng rào chắn. Và tôi dâng cúng sự bảo vệ đến đấng Thiện Thệ, bậc Đại Ẩn Sĩ. Nhờ tính chất đặc biệt của nghiệp ấy, tôi không thấy sự kinh hoàng và sợ hãi. Khi sinh lên ở bất cứ đâu, sự run sợ của tôi không hề có. Chín mươi bốn kiếp trước, từ khi tôi cho làm vòng rào chắn, tôi không còn biết đường dữ; đây là quả của vòng rào chắn. Vào kiếp thứ sáu trước đây, tôi là vị tên Apassena, là Chuyển Luân Vương đầy đủ bảy báu vật, có oai lực lớn. Bốn tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí, tôi đã chứng đắc; tôi đã làm theo lời dạy của đức Phật.”
Trưởng lão Ārakkhadāyaka đã nói những lời kệ ấy như vậy. Ký sự về trưởng lão Ārakkhadāyaka là phần thứ tư.