Câu hỏi về Giáo Pháp cao nhất
Vua Milinda nêu mâu thuẫn: Đức Phật nói Giáo Pháp là cao nhất, vậy sao người cư sĩ đã chứng Nhập Lưu lại phải cúi lạy vị Tỷ-kheo còn phàm phu? Ngài Nāgasena giải thích: vị Tỷ-kheo mang hai mươi pháp làm nên Sa-môn cùng hai dấu hiệu xuất gia, đang tiến gần đến phẩm vị A-la-hán và là người giữ, dạy lại truyền thống, nên xứng đáng được kính trọng; địa vị Tỷ-kheo lớn đến mức cư sĩ chứng A-la-hán phải xuất gia hoặc nhập Niết-bàn ngay trong ngày.
Điểm thực hànhKính trọng người đang sống theo giới và đang dạy lại điều đúng cho người khác, dù người ấy chưa hoàn thiện: sự kính trọng đặt vào con đường và phẩm chất đang được thực hành, không chỉ đặt vào thành quả cuối cùng.
Mi-lan-đà Hỏi Đáp Phần Câu Hỏi Nan Giải Phẩm Đã Bị Giải Tán 1. Câu Hỏi Về Giáo Pháp Cao Nhất “Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Vāseṭṭha, chính Giáo Pháp là cao nhất đối với người đời, ngay trong đời này và cả đời sau.’ Lại nữa: ‘Người cư sĩ tại gia đã là bậc Nhập Lưu, đã đóng kín các đường khổ, đã đạt được cái thấy đúng, đã hiểu Giáo Pháp, vẫn cúi lạy, vẫn đứng dậy đón vị Tỷ-kheo hay sa-di còn là phàm phu.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đức Thế Tôn đã nói là: ‘Này Vāseṭṭha, chính Giáo Pháp là cao nhất đối với người đời, ngay trong đời này và cả đời sau,’ thì lời nói rằng: ‘Người cư sĩ tại gia đã là bậc Nhập Lưu, đã đóng kín các đường khổ, đã đạt được cái thấy đúng, đã hiểu Giáo Pháp, vẫn cúi lạy, vẫn đứng dậy đón vị Tỷ-kheo hay sa-di còn là phàm phu’ là sai.
Nếu người cư sĩ tại gia đã là bậc Nhập Lưu, đã đóng kín các đường khổ, đã đạt được cái thấy đúng, đã hiểu Giáo Pháp, vẫn cúi lạy, vẫn đứng dậy đón vị Tỷ-kheo hay sa-di còn là phàm phu, thì lời nói rằng: ‘Này Vāseṭṭha, chính Giáo Pháp là cao nhất đối với người đời, ngay trong đời này và cả đời sau’ cũng là sai. Câu hỏi hai chiều này nay đến lượt ngài; xin ngài hãy gỡ rối.” “Tâu đại vương, đức Thế Tôn quả đã nói: ‘Này Vāseṭṭha, chính Giáo Pháp là cao nhất đối với người đời, ngay trong đời này và cả đời sau,’ và: ‘Người cư sĩ tại gia đã là bậc Nhập Lưu, đã đóng kín các đường khổ, đã đạt được cái thấy đúng, đã hiểu Giáo Pháp, vẫn cúi lạy, vẫn đứng dậy đón vị Tỷ-kheo hay sa-di còn là phàm phu.’ Nhưng trong việc này có lý do.
Lý do ấy là gì? Tâu đại vương, có hai mươi pháp làm nên vị Sa-môn và hai dấu hiệu của vị Sa-môn; nhờ những điều ấy, vị Sa-môn xứng đáng được cúi lạy, đứng dậy đón, kính trọng và cúng dường. Hai mươi pháp làm nên vị Sa-môn và hai dấu hiệu ấy là những gì? Yêu quý Giáo Pháp ở địa vị cao nhất, giữ mình ở mức cao nhất, thực hành, sống an trú, thu thúc các giác quan, gìn giữ giới bổn, nhẫn nhịn, hiền hòa, sống một mình, vui thích sự một mình, ở nơi vắng vẻ tĩnh lặng, biết hổ thẹn và biết sợ tội lỗi, tinh tấn, không lơ là, nhận giữ việc học tập, đọc tụng, tìm hỏi học hỏi, vui thích giới, định và tuệ, không mong cầu, làm tròn đủ các điều học; cùng với việc mặc y ca-sa và hình tướng cạo tóc.
Tâu đại vương, đó là hai mươi pháp làm nên vị Sa-môn và hai dấu hiệu của vị Sa-môn. Vị Tỷ-kheo (vị tu sĩ khất thực) nhận giữ và sống theo các đức tính ấy; nhờ các pháp ấy không thiếu sót, được đầy đủ, được trọn vẹn, vị ấy bước vào địa vị bậc Vô Học, địa vị A-la-hán, bước vào một vị thế cao nhất khác nữa. Nghĩ rằng: ‘Vị ấy đã đến gần phẩm vị A-la-hán,’ người cư sĩ bậc Nhập Lưu xứng đáng cúi lạy, đứng dậy đón vị Tỷ-kheo phàm phu. Nghĩ rằng: ‘Vị ấy đã bước vào cùng hàng với các bậc lậu hoặc (những ô nhiễm sâu trong tâm) đã cạn kiệt; thời cơ ấy chưa có đối với ta,’ người cư sĩ bậc Nhập Lưu xứng đáng cúi lạy, đứng dậy đón vị Tỷ-kheo phàm phu. Nghĩ rằng: ‘Vị ấy đã bước vào hội chúng cao quý nhất, ta chưa bước vào vị thế ấy,’ người cư sĩ bậc Nhập Lưu xứng đáng cúi lạy, đứng dậy đón vị Tỷ-kheo phàm phu.
Nghĩ rằng: ‘Vị ấy đạt được tư cách để nghe buổi đọc tụng giới bổn Pātimokkha, ta chưa đạt được tư cách để nghe điều ấy,’ người cư sĩ bậc Nhập Lưu xứng đáng cúi lạy, đứng dậy đón vị Tỷ-kheo phàm phu. Nghĩ rằng: ‘Vị ấy cho những người khác xuất gia, cho tu lên bậc trên, làm lớn mạnh Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, ta chưa đạt được tư cách để làm việc này,’ người cư sĩ bậc Nhập Lưu xứng đáng cúi lạy, đứng dậy đón vị Tỷ-kheo phàm phu. Nghĩ rằng: ‘Vị ấy làm tròn đủ vô số điều học, ta không sống theo các điều ấy,’ người cư sĩ bậc Nhập Lưu xứng đáng cúi lạy, đứng dậy đón vị Tỷ-kheo phàm phu. Nghĩ rằng: ‘Vị ấy đã mang dấu hiệu của vị Sa-môn, đứng vững trong ý nguyện của đức Phật, còn ta thì bị tách rời xa đối với dấu hiệu ấy,’ người cư sĩ bậc Nhập Lưu xứng đáng cúi lạy, đứng dậy đón vị Tỷ-kheo phàm phu.
Nghĩ rằng: ‘Vị ấy để lông nách mọc dài, không thoa son, không trang sức, được thơm bằng hương thơm của giới; còn ta thì ham thích việc trang sức, tô điểm,’ người cư sĩ bậc Nhập Lưu xứng đáng cúi lạy, đứng dậy đón vị Tỷ-kheo phàm phu. Hơn nữa, tâu đại vương, nghĩ rằng: ‘Hai mươi pháp làm nên vị Sa-môn và hai dấu hiệu ấy, tất cả các pháp này đều có mặt nơi vị Tỷ-kheo; chính vị ấy giữ các pháp ấy, lại còn cho những người khác học tập về việc ấy; sự truyền thừa ấy và việc dạy người ấy không có đối với ta,’ người cư sĩ bậc Nhập Lưu xứng đáng cúi lạy, đứng dậy đón vị Tỷ-kheo phàm phu. Tâu đại vương, như vị hoàng tử học kiến thức và học nếp sống của dòng dõi Sát-đế-lỵ nơi vị quốc sư; vị ấy, về sau, khi đã được đăng quang, vẫn cúi lạy, vẫn đứng dậy đón vị thầy, nghĩ rằng: ‘Người này là người đã tạo điều kiện cho ta việc học tập.’ Cũng vậy, tâu đại vương, nghĩ rằng: ‘Vị Tỷ-kheo là người tạo điều kiện cho việc học tập, người giữ gìn truyền thống,’ người cư sĩ bậc Nhập Lưu xứng đáng cúi lạy, đứng dậy đón vị Tỷ-kheo phàm phu.
Hơn nữa, tâu đại vương, cũng theo cách này, đại vương hãy nhận biết địa vị Tỷ-kheo lớn lao và rộng rãi không gì sánh bằng đến mức nào. Tâu đại vương, nếu người cư sĩ bậc Nhập Lưu chứng ngộ phẩm vị A-la-hán, người ấy chỉ có hai lối đi, không có lối nào khác: hoặc là nhập Niết-bàn không còn dư sót ngay trong ngày hôm ấy, hoặc là bước vào địa vị Tỷ-kheo. Vì sự xuất gia ấy, tâu đại vương, là không lay động, lớn lao, vươn lên rất cao — đó chính là địa vị Tỷ-kheo.” “Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi thuộc về trí tuệ đã được khéo gỡ rối bởi ngài là người có năng lực và vô cùng sáng suốt. Không có người nào khác có khả năng gỡ rối câu hỏi này như vậy, ngoài bậc có sự sáng suốt như ngài.”
Câu hỏi về Giáo Pháp cao nhất là câu hỏi thứ nhất.