Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Milinda & Apadāna › Câu hỏi giảng về vật thực do việc ngâm nga các bài kệ

Câu hỏi giảng về vật thực do việc ngâm nga các bài kệ

9. Gāthābhigītabhojanakathāpañha · MIL5.5.9 · 62 đoạn

Vua Milinda hỏi: đức Phật nói Ngài không thọ dụng vật thực kiếm được bằng cách ngâm nga bài kệ, nhưng Ngài lại giảng về bố thí trước tiên, khiến người nghe dâng cúng — như vậy đệ tử chẳng phải đang ăn ‘vật thực do ngâm nga’ sao? Trưởng lão Nāgasena giải thích: giảng về bố thí là bước đầu làm mềm tâm người nghe như cho trẻ đồ chơi trước khi dạy việc, như thầy thuốc cho uống dầu trước khi cho thuốc xổ — đó không phải là gợi ý xin xỏ. Bài này phân tích kỹ hai loại ‘yêu cầu’ đáng chê trách và không đáng chê trách, bằng thân và bằng lời nói, và kết bằng việc chư thiên luôn rắc dưỡng chất cõi trời vào bát của đức Phật khi Ngài thọ thực.

Điểm thực hành

Người tu không gợi ý, không bóng gió xin xỏ — chỉ đứng yên đúng phép để người có lòng tự dâng cúng; trong đời sống thường, giúp người khác vui lòng làm việc tốt bằng cách khơi gợi nhẹ nhàng cũng khác hẳn với việc gợi ý để trục lợi cho mình.

Mi-lan-đà Hỏi Đáp Phần Câu Hỏi Nan Giải Phẩm Thân Thiết 9. Câu hỏi giảng về vật thực do việc ngâm nga các bài kệ “Thưa ngài Nāgasena, đức Thế Tôn cũng đã nói điều này:

(Vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ sẽ không được Ta thọ dụng.
Này Bà-la-môn, đối với những vị đang xem xét thì việc ấy không phải là Pháp.
Chư Phật khước từ việc ngâm nga các bài kệ.
Này Bà-la-môn, việc ấy là cách hành xử khi Giáo Pháp hiện hữu.

Nghĩa là

Vật thực kiếm được bằng cách ngâm nga bài kệ thì Ta không thọ dụng Này Bà-la-môn, với những vị biết quán xét, việc ấy không đúng theo Pháp Chư Phật từ chối vật thực kiếm được bằng việc ngâm nga bài kệ Này Bà-la-môn, khi Giáo Pháp còn hiện hữu, đó là cách hành xử (của chư Phật)

Và đức Thế Tôn, trong khi thuyết giảng Giáo Pháp cho hội chúng, trong khi giảng giải theo thứ lớp tuần tự, trước tiên Ngài giảng bài thuyết về bố thí, sau đó là bài thuyết về giới. Sau khi lắng nghe lời giảng của đức Thế Tôn ấy, bậc chúa tể của tất cả các thế giới, chư Thiên và nhân loại chuẩn bị rồi dâng cúng vật thí. Vật thí đã được dâng lên ấy, các đệ tử của Ngài thọ dụng. Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đức Thế Tôn đã nói là: ‘(Vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ sẽ không được Ta thọ dụng’, thì lời nói rằng: ‘Đức Thế Tôn giảng bài thuyết về bố thí trước tiên’ là sai trái. Nếu Ngài giảng bài thuyết về bố thí trước tiên, thì lời nói rằng: ‘(Vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ sẽ không được Ta thọ dụng’ cũng là sai trái.

Vì lý do gì? Thưa ngài, vị đáng cúng dường nào giảng giải cho hàng tại gia về quả thành tựu của việc bố thí vật thực khất thực, thì sau khi lắng nghe bài thuyết về Giáo Pháp của vị ấy, họ có tâm tin tưởng rồi liên tục dâng cúng vật thí. Tất cả những ai thọ dụng vật thí ấy đều thọ dụng (vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ. Câu hỏi hai đầu này cũng đã đến với ngài, khéo léo, thâm sâu; ngài hãy giải quyết nó.” “Tâu đại vương, đức Thế Tôn quả đã nói:

(Vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ sẽ không được Ta thọ dụng. Này Bà-la-môn, đối với những vị đang xem xét thì việc ấy không phải là Pháp.

Nghĩa là

Vật thực kiếm được bằng cách ngâm nga bài kệ thì Ta không thọ dụng. Này Bà-la-môn, với những vị biết quán xét, việc ấy không đúng theo Pháp

‘Chư Phật khước từ việc ngâm nga các bài kệ. Này Bà-la-môn, việc ấy là cách hành xử khi Giáo Pháp hiện hữu.’ Và đức Thế Tôn có giảng bài thuyết về bố thí trước tiên. Hơn nữa, việc ấy là thông lệ của tất cả các đức Như Lai: trước tiên, bằng bài thuyết về bố thí, các Ngài làm cho tâm người nghe vui thích với việc ấy, sau đó mới hướng họ gắn bó vào giới. Tâu đại vương, như người ta trước tiên cho những đứa trẻ còn nhỏ những món đồ chơi. Chẳng hạn như: móc câu, gậy ngắn, chong chóng, vật đong đo, chiếc xe nhỏ, cây cung nhỏ — sau đó mới hướng chúng vào công việc của riêng mỗi đứa. Cũng vậy, tâu đại vương, đức Như Lai trước tiên làm cho tâm người nghe vui thích bằng bài thuyết về bố thí, sau đó mới hướng họ gắn bó vào giới.

Hoặc như, tâu đại vương, người thầy thuốc đối với những người bệnh, trước tiên cho uống dầu bốn năm ngày để tạo sức mạnh, để làm cho (cơ thể) mềm mại, sau đó mới cho thuốc xổ; cũng vậy, tâu đại vương, đức Như Lai trước tiên làm cho tâm người nghe vui thích bằng bài thuyết về bố thí, sau đó mới hướng họ gắn bó vào giới. Tâu đại vương, tâm của những người bố thí, của các thí chủ, là nhu thuận, dịu dàng, mềm mại. Nhờ cây cầu và đường đi của việc bố thí ấy, nhờ con thuyền của việc bố thí, những người ấy đến gần bờ bên kia của biển cả luân hồi. Vì thế, đối với những người ấy, trước tiên Ngài chỉ dạy nền tảng của nghiệp; và Ngài không vì việc ấy mà rơi vào sự yêu cầu nào.”

“Thưa ngài Nāgasena, điều ngài nói là ‘sự yêu cầu’ — vậy các sự yêu cầu ấy có mấy loại?” “Tâu đại vương, có hai loại yêu cầu này: yêu cầu bằng thân và yêu cầu bằng lời nói. Trong đó, có yêu cầu bằng thân là có lỗi, có yêu cầu bằng thân là không có lỗi. Có yêu cầu bằng lời nói là có lỗi, có yêu cầu bằng lời nói là không có lỗi. Yêu cầu bằng thân nào là có lỗi? Ở đây, một vị Tỷ-kheo nào đó đi đến các gia đình, đứng ở chỗ không thích hợp, rồi cứ đứng lì tại chỗ; đây là sự yêu cầu bằng thân có lỗi. Các bậc Thánh không thọ dụng vật có được bằng cách yêu cầu ấy. Và người ấy, theo quan điểm của các bậc Thánh, bị chê bai, bị coi thường, bị khinh miệt, bị khiển trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, và được coi là ‘người có cách nuôi mạng hư hỏng’.

Lại nữa, tâu đại vương, ở đây, một vị Tỷ-kheo nào đó đi đến các gia đình, đứng ở chỗ không thích hợp, nhướng cổ lên, nhìn ngó với cái nhìn của loài công, nghĩ rằng: ‘Như vậy thì những người này sẽ nhìn thấy (ta)’, và do việc ấy những người ấy nhìn thấy; đây cũng là sự yêu cầu bằng thân có lỗi. Các bậc Thánh không thọ dụng vật có được bằng cách yêu cầu ấy. Và người ấy, theo quan điểm của các bậc Thánh, bị chê bai, bị coi thường, bị khinh miệt, bị khiển trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, và được coi là ‘người có cách nuôi mạng hư hỏng’. Lại nữa, tâu đại vương, ở đây, một vị Tỷ-kheo nào đó yêu cầu bằng quai hàm, hoặc bằng lông mày, hoặc bằng ngón cái; đây cũng là sự yêu cầu bằng thân có lỗi. Các bậc Thánh không thọ dụng vật có được bằng cách yêu cầu ấy. Và người ấy, theo quan điểm của các bậc Thánh, bị chê bai, bị coi thường, bị khinh miệt, bị khiển trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, và được coi là ‘người có cách nuôi mạng hư hỏng’.

Yêu cầu bằng thân nào là không có lỗi? Ở đây, vị Tỷ-kheo đi đến các gia đình, có niệm, được định tĩnh, có sự tỉnh giác, đi đến chỗ đứng cũng như nơi không phải chỗ đứng theo đúng lời chỉ dạy, rồi đứng tại chỗ; ở những người có ý định bố thí thì đứng lại, ở những người không có ý định bố thí thì bước đi. Đây là sự yêu cầu bằng thân không có lỗi. Các bậc Thánh thọ dụng vật có được bằng cách yêu cầu ấy. Và người ấy, theo quan điểm của các bậc Thánh, được khen ngợi, được ca tụng, được tán dương, được xem là ‘người có hạnh giảm thiểu, có cách nuôi mạng trong sạch’. Điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trên các vị Trời, nói đến:

Các bậc có trí tuệ không cầu xin,
các bậc Thánh chê trách việc cầu xin.
Các bậc Thánh đứng theo quy định,
việc ấy là sự cầu xin của các bậc Thánh.

Nghĩa là

Người có trí tuệ không xin xỏ bậc trí chỉ nên để người khác tự hiểu ý mình (chứ không mở miệng xin) Các bậc Thánh chỉ đứng chờ đúng như quy định đó chính là cách ‘xin’ của các bậc Thánh

Yêu cầu bằng lời nói nào là có lỗi? Ở đây, tâu đại vương, vị Tỷ-kheo dùng lời nói yêu cầu nhiều thứ: y phục, vật thực khất thực, chỗ ngụ, và dược phẩm cùng vật dụng chữa bệnh; đây là sự yêu cầu bằng lời nói có lỗi. Các bậc Thánh không thọ dụng vật có được bằng cách yêu cầu ấy. Và người ấy, theo quan điểm của các bậc Thánh, bị chê bai, bị coi thường, bị khinh miệt, bị khiển trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, và được coi là ‘người có cách nuôi mạng hư hỏng’. Lại nữa, tâu đại vương, ở đây, một vị Tỷ-kheo nào đó nói như vậy khiến cho những người khác nghe được: ‘Tôi có sự cần dùng với vật này.’ Và do lời nói ấy, do việc làm cho những người khác nghe được, lợi lộc phát sinh đến vị ấy; đây cũng là sự yêu cầu bằng lời nói có lỗi. Các bậc Thánh không thọ dụng vật có được bằng cách yêu cầu ấy. Và người ấy, theo quan điểm của các bậc Thánh, bị chê bai, bị coi thường, bị khinh miệt, bị khiển trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, và được coi là ‘người có cách nuôi mạng hư hỏng’.

Lại nữa, tâu đại vương, ở đây, một vị Tỷ-kheo nào đó loan báo cho hội chúng với việc loan tin bằng lời nói rằng: ‘Nên dâng cúng vật như vậy và như vậy đến các vị Tỷ-kheo.’ Và do việc ấy, những người ấy nghe theo lời nói rồi mang lại vật đã được loan báo; đây cũng là sự yêu cầu bằng lời nói có lỗi. Các bậc Thánh không thọ dụng vật có được bằng cách yêu cầu ấy. Và người ấy, theo quan điểm của các bậc Thánh, bị chê bai, bị coi thường, bị khinh miệt, bị khiển trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, và được coi là ‘người có cách nuôi mạng hư hỏng’. Tâu đại vương, quả thật trưởng lão Sāriputta, trong lúc bị bệnh vào ban đêm khi mặt trời đã lặn, trong khi được trưởng lão Mahāmoggallāna hỏi về thuốc chữa bệnh, đã buột miệng nói ra. Do việc buột miệng nói ra ấy của ngài, thuốc chữa bệnh đã phát sinh.

Rồi trưởng lão Sāriputta nghĩ rằng: ‘Do việc buột miệng nói ra của ta mà thuốc chữa bệnh này đã phát sinh cho ta. Đừng để cách nuôi mạng của ta bị hư hỏng’, vì lo sợ việc làm hư hỏng cách nuôi mạng, ngài đã từ chối, đã không sử dụng thuốc chữa bệnh ấy. Sự yêu cầu bằng lời nói như vậy cũng có lỗi. Các bậc Thánh không thọ dụng vật có được bằng cách yêu cầu ấy. Và người ấy, theo quan điểm của các bậc Thánh, bị chê bai, bị coi thường, bị khinh miệt, bị khiển trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, và được coi là ‘người có cách nuôi mạng hư hỏng’. Yêu cầu bằng lời nói nào là không có lỗi? Ở đây, tâu đại vương, vị Tỷ-kheo, khi có duyên cớ, yêu cầu thuốc chữa bệnh ở các gia đình thân quyến và những nhà đã thỉnh mời; đây là sự yêu cầu bằng lời nói không có lỗi. Các bậc Thánh thọ dụng vật có được bằng cách yêu cầu ấy. Và người ấy, theo quan điểm của các bậc Thánh, được khen ngợi, được ca tụng, được tán dương, được xem là ‘người có cách nuôi mạng trong sạch’, và được các đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác, cho phép.

Còn việc đức Như Lai đã từ chối bữa ăn của Bà-la-môn Kasībhāradvāja, tâu đại vương — bữa ăn ấy đã phát sinh do việc gây rối, việc tháo gỡ, việc lôi kéo, việc phê bình và việc công kích. Do đó, đức Như Lai đã khước từ, đã không sử dụng phần vật thực khất thực ấy.” “Thưa ngài Nāgasena, có phải chư Thiên luôn luôn rắc dưỡng chất của cõi trời vào bát trong lúc đức Như Lai đang thọ thực, hay là chỉ rắc vào ở hai món là món thịt lợn rừng và món cơm sữa ngọt mà thôi?” “Tâu đại vương, trong lúc đức Như Lai thọ thực, chư Thiên luôn luôn cầm lấy dưỡng chất của cõi trời, đứng hầu bên cạnh, rồi rắc vào những miếng cơm mỗi một lúc được đưa lên. Tâu đại vương, như trong lúc đức vua đang ăn, người đầu bếp của vua cầm lấy món xúp, đứng hầu bên cạnh, rồi rưới xúp vào mỗi một miếng cơm; cũng vậy, tâu đại vương, trong lúc đức Như Lai thọ thực, chư Thiên luôn luôn cầm lấy dưỡng chất của cõi trời, đứng hầu bên cạnh, rồi rắc dưỡng chất của cõi trời vào những miếng cơm mỗi một lúc được đưa lên.

Ngay cả ở Verañjā, tâu đại vương, trong lúc đức Như Lai đang thọ thực những hạt lúa mạch khô khan, chư Thiên cũng lần lượt tẩm ướt chúng với dưỡng chất của cõi trời rồi đem lại. Nhờ thế, cơ thể của đức Như Lai đã được bồi bổ.” “Thưa ngài Nāgasena, thật là điều lợi ích đối với chư Thiên ấy, là các vị đã thường xuyên, liên tục thể hiện sự nỗ lực trong việc chăm sóc thân thể của đức Như Lai. Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng như vậy.” Câu hỏi giảng về vật thực do việc ngâm nga các bài kệ là thứ chín.