Câu hỏi về lời nói là Bà-la-môn và là vua
Vua Milinda thắc mắc: một người không thể vừa là Bà-la-môn vừa là vua, sao đức Phật lại tự xưng cả hai? Trưởng lão Nāgasena giải thích các danh xưng này không theo giai cấp sinh ra mà theo phẩm chất: đức Phật là ‘Bà-la-môn’ vì đã loại bỏ mọi pháp ác, vượt qua nghi ngờ, thoát khỏi ô nhiễm, gìn giữ truyền thống chư Phật và an trú trong thiền lạc; Ngài là ‘vua’ vì cai trị mười ngàn thế giới bằng Giáo Pháp, giương chiếc lọng trắng của sự giải thoát, ban ân huệ giải thoát cho người làm hài lòng Ngài và loại bỏ kẻ phá giới khỏi Giáo Pháp.
Điểm thực hànhDanh xưng cao quý không nằm ở dòng dõi hay chức tước mà ở phẩm chất thật: ai dứt bỏ được điều ác, sống trong sạch và làm lợi ích cho người khác thì tự thân đã là ‘cao quý’, dù không ai phong tặng.
Mi-lan-đà Hỏi Đáp Phần Câu Hỏi Nan Giải Phẩm Thân Thiết 8. Câu hỏi về lời nói là Bà-la-môn và là vua “Thưa ngài Nāgasena, đức Như Lai cũng đã nói điều này: ‘Này các Tỷ-kheo, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng lời cầu xin.’ Và Ngài còn nói rằng: ‘Này Sela, Ta là đức vua.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đức Thế Tôn đã nói là: ‘Này các Tỷ-kheo, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng lời cầu xin’, thì lời nói rằng: ‘Này Sela, Ta là đức vua’ là sai trái. Nếu điều đức Như Lai đã nói là: ‘Này Sela, Ta là đức vua’, thì lời nói rằng: ‘Này các Tỷ-kheo, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng lời cầu xin’ cũng là sai trái. Một người chỉ có thể là Sát-đế-lỵ hoặc là Bà-la-môn; không thể có hai giai cấp trong một lần sinh ra. Câu hỏi hai đầu này cũng đã đến với ngài; ngài hãy giải quyết nó.”
“Tâu đại vương, đức Thế Tôn quả đã nói: ‘Này các Tỷ-kheo, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng lời cầu xin’, và Ngài còn nói rằng: ‘Này Sela, Ta là đức vua.’ Ở đây có lý do, nhờ lý do ấy đức Như Lai vừa là Bà-la-môn vừa là vua.” “Thưa ngài Nāgasena, vậy lý do ấy là gì, nhờ đó đức Như Lai vừa là Bà-la-môn vừa là vua?” “Tâu đại vương, tất cả các pháp ác và bất thiện của đức Như Lai đã được loại bỏ, đã dứt bỏ, đã xa lìa, đã dứt lìa, đã chặt đứt, đã cạn kiệt, đã đi đến tận diệt, đã lắng dịu, đã an tịnh. Vì thế đức Như Lai được gọi là ‘Bà-la-môn’. Bà-la-môn nghĩa là người đã vượt qua con đường của nghi ngờ, phân vân, lưỡng lự. Tâu đại vương, đức Thế Tôn cũng đã vượt qua con đường của nghi ngờ, phân vân, lưỡng lự. Vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-la-môn’.
Bà-la-môn nghĩa là người đã lìa khỏi mọi nguồn gốc sinh ra các cõi và các loài, đã hoàn toàn thoát khỏi sự dính líu đến ô nhiễm và bụi bặm, không có bạn đồng hành. Tâu đại vương, đức Thế Tôn cũng đã lìa khỏi mọi nguồn gốc sinh ra các cõi và các loài, đã hoàn toàn thoát khỏi sự dính líu đến ô nhiễm và bụi bặm, không có bạn đồng hành. Vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-la-môn’. Bà-la-môn nghĩa là người có nhiều sự an trú cao cả, tối thượng, cao quý, tối thắng thuộc cõi trời. Tâu đại vương, đức Thế Tôn cũng có nhiều sự an trú cao cả, tối thượng, cao quý, tối thắng thuộc cõi trời. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-la-môn’. Bà-la-môn nghĩa là người gìn giữ dòng dõi truyền thống và sự chỉ dạy từ xưa về việc học thuộc lòng, giảng dạy, bố thí, tiếp nhận, rèn luyện, thu thúc và chế ngự. Tâu đại vương, đức Thế Tôn cũng là người gìn giữ dòng dõi truyền thống và sự chỉ dạy đã được các đấng Chiến Thắng thời trước thực hành về việc học thuộc lòng, giảng dạy, bố thí, tiếp nhận, rèn luyện, thu thúc và chế ngự. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-la-môn’.
Bà-la-môn nghĩa là vị thiền giả an trú trong thiền định với niềm an lạc bao la; tâu đại vương, đức Thế Tôn cũng là vị thiền giả an trú trong thiền định với niềm an lạc bao la. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-la-môn’. Bà-la-môn nghĩa là người biết rõ sự chọn lựa và diễn tiến của việc tái sinh ở tất cả các cảnh giới có và không có. Tâu đại vương, đức Thế Tôn cũng biết rõ sự chọn lựa và diễn tiến của việc tái sinh ở tất cả các cảnh giới có và không có. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-la-môn’. Tâu đại vương, tên gọi ‘Bà-la-môn’ này của đức Thế Tôn không phải do mẹ tạo ra, không phải do cha tạo ra, không phải do anh tạo ra, không phải do chị tạo ra, không phải do bạn bè thân hữu tạo ra, không phải do thân quyến cùng huyết thống tạo ra, không phải do các Sa-môn và Bà-la-môn tạo ra, không phải do chư Thiên tạo ra. Tên gọi này của chư Phật Thế Tôn gắn liền với đích cuối cùng của sự giải thoát: ngay dưới cội Bồ-đề, sau khi đập tan đạo binh của Ma vương, sau khi loại bỏ các pháp ác bất thiện thuộc quá khứ, vị lai và hiện tại, cùng với việc đạt được trí Toàn Tri, tên gọi ấy đã được đạt đến, đã hiển lộ, đã sinh khởi như một sự xác định đúng với sự thật, tức là ‘Bà-la-môn’. Vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-la-môn’.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy vì lý do gì đức Như Lai được gọi là ‘vua’?” “Tâu đại vương, vua nghĩa là bất cứ người nào cai trị vương quốc và chỉ dạy thế gian. Tâu đại vương, đức Thế Tôn cũng cai trị vương quốc bằng Giáo Pháp trên mười ngàn thế giới, và chỉ dạy thế gian gồm cõi chư Thiên, cõi Ma vương, cõi Phạm Thiên, cùng với xã hội có các Sa-môn, Bà-la-môn và loài người. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘vua’. Tâu đại vương, vua nghĩa là người, sau khi chinh phục toàn thể nhân dân, trong khi làm cho tập đoàn thân quyến hoan hỷ, trong khi làm cho tập đoàn kẻ thù sầu muộn, rồi giương lên chiếc lọng trắng trong sạch, tinh khiết — vật mang lại danh vọng và vinh quang lớn lao vô cùng — có cán bằng gỗ lõi cứng chắc, được trang hoàng bằng một trăm nan lọng không thiếu sót. Tâu đại vương, đức Thế Tôn cũng vậy: trong khi làm cho đạo binh của Ma vương, những kẻ thực hành sai trái, phải sầu muộn, trong khi làm cho chư Thiên và nhân loại, những người thực hành đúng đắn, được hoan hỷ, Ngài giương lên trên mười ngàn thế giới chiếc lọng trắng trong sạch, tinh khiết của sự giải thoát cao cả tối thượng — vật mang lại danh vọng và vinh quang lớn lao vô cùng — có cán là sự nhẫn nại bằng gỗ lõi cứng chắc, được trang hoàng bằng một trăm nan lọng là trí tuệ cao quý. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘vua’.
Tâu đại vương, vua nghĩa là bậc đáng được đông đảo dân chúng tìm đến đảnh lễ. Tâu đại vương, đức Thế Tôn cũng là bậc đáng được đông đảo chư Thiên và nhân loại tìm đến đảnh lễ. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘vua’. Tâu đại vương, vua nghĩa là người, đối với bất cứ ai làm hài lòng mình, thì hài lòng, ban cho ân huệ đã chọn và làm cho người ấy thỏa mãn theo ước muốn. Tâu đại vương, đức Thế Tôn cũng vậy: đối với bất cứ ai làm hài lòng Ngài bằng thân, bằng lời nói, bằng ý nghĩ, Ngài hài lòng, ban cho ân huệ vô thượng đã chọn là sự giải thoát hoàn toàn khỏi mọi khổ đau, và làm cho người ấy thỏa mãn trọn vẹn bằng ân huệ như ước muốn. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘vua’.
Tâu đại vương, vua nghĩa là người quở trách, trừng trị, loại bỏ kẻ vượt qua mệnh lệnh. Tâu đại vương, trong Giáo Pháp cao quý của đức Thế Tôn cũng vậy: kẻ không biết xấu hổ mà vượt qua giới luật thì trở nên bị chê bai, bị khinh miệt, bị khiển trách vì sự yếu hèn, và bị loại ra khỏi Giáo Pháp cao quý của đấng Chiến Thắng. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘vua’. Tâu đại vương, vua nghĩa là người, sau khi làm sáng tỏ pháp đúng và pháp sai theo truyền thống và sự chỉ dạy của các vị vua chân chính thời trước, trong khi cai trị vương quốc bằng chánh pháp, trở thành người được dân chúng ước muốn, yêu mến, mong cầu, và duy trì dòng dõi hoàng tộc lâu dài nhờ sức mạnh của đức hạnh chánh pháp. Tâu đại vương, đức Thế Tôn cũng vậy: sau khi làm sáng tỏ pháp đúng và pháp sai theo truyền thống và sự chỉ dạy của các đấng Tự Ngộ thời trước, trong khi chỉ dạy thế gian bằng Giáo Pháp, Ngài trở thành bậc được chư Thiên và nhân loại ước muốn, yêu mến, mong cầu, và làm cho Giáo Pháp lưu truyền lâu dài nhờ sức mạnh của ân đức Pháp. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘vua’.
Tâu đại vương, có nhiều loại lý do như vậy, nhờ đó đức Như Lai vừa có thể là Bà-la-môn, vừa có thể là vua. Ngay cả một vị Tỷ-kheo vô cùng khôn khéo cũng không thể trình bày hết việc ấy dù trong một kiếp. Nói nhiều thêm có ích gì — hãy chấp nhận điều tóm tắt này.” “Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng như vậy.” Câu hỏi về lời nói là Bà-la-môn và là vua là thứ tám.