Câu Hỏi Về Sự Chứng Ngộ Niết-bàn
Vua hỏi người chứng ngộ Niết-bàn thì chứng ngộ cái đã sinh hay tạo ra nó rồi chứng ngộ. Trưởng lão đáp: giới Niết-bàn vốn có sẵn, không thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại; người thực hành đúng đắn chứng ngộ nó bằng trí tuệ theo lời dạy của đức Phật, qua tiến trình quán xét sự vận hành của các hành, thấy sinh già bệnh chết, nhàm chán, rồi tâm lao vào sự không vận hành.
Điểm thực hànhNiết-bàn không phải vật được chế tạo ra: nó có sẵn để được chứng ngộ bằng trí tuệ khi quán xét các hành cho đến mức nhàm chán sự vận hành và hướng tâm về sự dừng lặng.
Mi-lan-đà Hỏi Đáp Phần Câu Hỏi Suy Luận Phẩm Vessantara 11. Câu Hỏi Về Sự Chứng Ngộ Niết-bàn “Thưa ngài Nāgasena, các ngài nói rằng — ‘Niết-bàn không phải quá khứ, không phải vị lai, không phải hiện tại, không phải đã sinh, không phải chưa sinh, không phải sẽ được làm cho sinh.’ Thưa ngài Nāgasena, ở đây, người nào thực hành đúng đắn mà chứng ngộ Niết-bàn, thì người ấy chứng ngộ cái đã sinh, hay làm cho nó sinh ra rồi mới chứng ngộ?” “Tâu đại vương, người nào thực hành đúng đắn mà chứng ngộ Niết-bàn, người ấy không chứng ngộ cái đã sinh, cũng không làm cho nó sinh ra rồi chứng ngộ. Nhưng, tâu đại vương, giới Niết-bàn ấy vẫn có, và người thực hành đúng đắn chứng ngộ nó.”
“Thưa ngài Nāgasena, xin ngài đừng che đậy câu hỏi này rồi mới giải thích; hãy mở ra, làm cho rõ ràng rồi giải thích. Với ước muốn đã sinh khởi, với sự nỗ lực đã sinh khởi, những gì ngài đã học, xin hãy tuôn hết ra cho việc này. Ở đây, đám người này đang mê muội, đầy phân vân, rơi vào nghi ngờ; xin ngài phá vỡ mũi tên độc hại ở bên trong ấy.” “Tâu đại vương, giới Niết-bàn ấy có thật: tịch tịnh, an vui, cao quý. Người thực hành đúng đắn, theo lời dạy của đấng Chiến Thắng, trong khi quán xét các hành, chứng ngộ nó bằng trí tuệ. Tâu đại vương, giống như người học trò, theo lời dạy của thầy, chứng ngộ được kiến thức bằng trí tuệ; cũng vậy, tâu đại vương, người thực hành đúng đắn, theo lời dạy của đấng Chiến Thắng, chứng ngộ Niết-bàn bằng trí tuệ.
Vậy thì Niết-bàn ấy nên được thấy như thế nào? Nên được thấy là không nguy hiểm, không tai họa, không sợ hãi, an ổn, tịch tịnh, an vui, dễ chịu, cao quý, trong sạch, mát lạnh. Tâu đại vương, giống như một người bị thiêu đốt bởi ngọn lửa cháy rực với nhiều đống củi, nhờ nỗ lực thoát ra khỏi đó, đi vào chỗ không có lửa, và ở đó đạt được hạnh phúc tột độ; cũng vậy, tâu đại vương, người thực hành đúng đắn, nhờ sự chú tâm đúng đắn, chứng ngộ Niết-bàn an vui tối thượng, đã thoát khỏi cơn nóng của ba ngọn lửa. Tâu đại vương, lửa là thế nào thì ba ngọn lửa nên được hiểu như vậy; người ở trong lửa là thế nào thì người thực hành đúng đắn nên được hiểu như vậy; chỗ không có lửa là thế nào thì Niết-bàn nên được hiểu như vậy.
Hoặc nữa, tâu đại vương, giống như một người đi vào chỗ chất đống xác chết của rắn, chó, người và những phần thải của cơ thể, bị mắc kẹt giữa những mớ tóc rối của các xác chết, nhờ nỗ lực thoát ra khỏi đó, đi vào chỗ không có xác chết, và ở đó đạt được hạnh phúc tột độ; cũng vậy, tâu đại vương, người thực hành đúng đắn, nhờ sự chú tâm đúng đắn, chứng ngộ Niết-bàn an vui tối thượng, đã thoát khỏi xác chết phiền não. Tâu đại vương, xác chết là thế nào thì năm món dục nên được hiểu như vậy; người đi vào chỗ xác chết là thế nào thì người thực hành đúng đắn nên được hiểu như vậy; chỗ không có xác chết là thế nào thì Niết-bàn nên được hiểu như vậy. Hoặc nữa, tâu đại vương, giống như một người sợ hãi, run rẩy, chấn động, tâm bị đảo lộn và rối loạn, nhờ nỗ lực thoát ra khỏi đó, đi vào chỗ vững chắc, kiên cố, không lay động, không sợ hãi, và ở đó đạt được hạnh phúc tột độ; cũng vậy, tâu đại vương, người thực hành đúng đắn, nhờ sự chú tâm đúng đắn, chứng ngộ Niết-bàn an vui tối thượng, đã thoát khỏi sự sợ hãi và run sợ.
Tâu đại vương, sự sợ hãi là thế nào thì sự sợ hãi vận hành liên tục theo sau sinh, già, bệnh, chết nên được hiểu như vậy; người sợ hãi là thế nào thì người thực hành đúng đắn nên được hiểu như vậy; chỗ không sợ hãi là thế nào thì Niết-bàn nên được hiểu như vậy. Hoặc nữa, tâu đại vương, giống như một người bị ngã vào chỗ bùn lầy, đầm lầy dơ bẩn, ô nhiễm, nhờ nỗ lực gạt bỏ bùn lầy ấy, đi đến chỗ hoàn toàn trong sạch, không nhơ bẩn, và ở đó đạt được hạnh phúc tột độ; cũng vậy, tâu đại vương, người thực hành đúng đắn, nhờ sự chú tâm đúng đắn, chứng ngộ Niết-bàn an vui tối thượng, đã thoát khỏi bùn lầy ô nhiễm của phiền não. Tâu đại vương, bùn lầy là thế nào thì lợi lộc, sự tôn kính và danh tiếng nên được hiểu như vậy; người ở trong bùn lầy là thế nào thì người thực hành đúng đắn nên được hiểu như vậy; chỗ hoàn toàn trong sạch, không nhơ bẩn là thế nào thì Niết-bàn nên được hiểu như vậy.
Vậy người thực hành đúng đắn chứng ngộ Niết-bàn ấy bằng cách nào? Tâu đại vương, người thực hành đúng đắn quán xét sự vận hành của các hành. Trong khi quán xét sự vận hành, người ấy thấy ở đó sự sinh, thấy sự già, thấy sự bệnh, thấy sự chết; không thấy ở đó chút an vui, chút dễ chịu nào, từ đầu, từ giữa, đến cuối. Người ấy không thấy ở đó bất cứ thứ gì đáng nắm giữ. Tâu đại vương, giống như một người không thấy chỗ nào đáng nắm giữ trên một cục sắt bị nung nóng suốt ngày, cháy rực, sôi sục, nóng bỏng, từ đầu, từ giữa, đến cuối; cũng vậy, tâu đại vương, người quán xét sự vận hành của các hành, trong khi quán xét sự vận hành, thấy ở đó sự sinh, thấy sự già, thấy sự bệnh, thấy sự chết; không thấy ở đó chút an vui, chút dễ chịu nào, từ đầu, từ giữa, đến cuối.
Người ấy không thấy ở đó bất cứ thứ gì đáng nắm giữ; đối với người không thấy thứ gì đáng nắm giữ ấy, sự chán ngán an trú trong tâm, cơn nóng bùng lên trong thân; người ấy, không chỗ che chở, không chỗ nương tựa, trở thành không có chỗ nương tựa, nên nhàm chán các cõi sinh tồn. Tâu đại vương, giống như một người bước vào một đống lửa lớn đang cháy rực; ở đó người ấy không chỗ che chở, không chỗ nương tựa, trở thành không có chỗ nương tựa, nên nhàm chán ngọn lửa; cũng vậy, tâu đại vương, đối với người không thấy thứ gì đáng nắm giữ ấy, sự chán ngán an trú trong tâm, cơn nóng bùng lên trong thân; người ấy, không chỗ che chở, không chỗ nương tựa, trở thành không có chỗ nương tựa, nên nhàm chán các cõi sinh tồn.
Đối với người đã thấy sự sợ hãi trong sự vận hành ấy, tâm như vầy sinh khởi: ‘Sự vận hành này thật đã bị nung nóng, cháy đỏ, cháy rực, nhiều khổ đau, nhiều phiền muộn. Nếu có ai đạt được sự không vận hành — điều ấy là tịch tịnh, điều ấy là cao quý — tức là sự lắng yên của tất cả các hành, sự buông bỏ tất cả các mầm tái sinh, sự diệt tận ái, sự lìa bỏ luyến ái, sự diệt tắt, Niết-bàn.’ Nhờ vậy, tâm của người ấy lao vào sự không vận hành, tin tưởng, hoan hỷ, vui mừng: ‘Ta đã đạt được lối thoát.’ Tâu đại vương, giống như một người bị lạc đường, rơi vào xứ lạ, khi nhìn thấy con đường thoát ra thì lao vào đó, tin tưởng, hoan hỷ, vui mừng: ‘Ta đã đạt được con đường thoát ra’; cũng vậy, tâu đại vương, đối với người đã thấy sự sợ hãi trong sự vận hành, tâm lao vào sự không vận hành, tin tưởng, hoan hỷ, vui mừng: ‘Ta đã đạt được lối thoát.’ Người ấy, vì sự không vận hành, ra sức đi trên con đường, tìm cầu, tu tập, thực hành thường xuyên; đối với người ấy, niệm an trú vì mục đích ấy, tinh tấn an trú vì mục đích ấy, hỷ an trú vì mục đích ấy; trong khi tâm người ấy chú tâm như vậy hết lần này đến lần khác, vượt qua sự vận hành, người ấy bước vào sự không vận hành. Tâu đại vương, người đã đạt đến sự không vận hành, thực hành đúng đắn, được gọi là ‘đã chứng ngộ Niết-bàn’.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng như vậy.” Câu hỏi về sự chứng ngộ Niết-bàn là thứ mười một.