Câu Hỏi Về Hạnh Đầu-đà
Vua nghi ngờ: nếu người tại gia hưởng dục cũng chứng ngộ Niết-bàn được thì hạnh đầu-đà vô ích. Trưởng lão đáp: vô số tại gia đã chứng ngộ, nhưng tất cả họ đều đã tu tập mười ba hạnh đầu-đà trong các kiếp trước; hạnh đầu-đà có 28 đức tính, là nền tảng thanh tịnh không thể thiếu — ai thọ trì với tâm xấu sẽ chịu quả nặng, ai xứng đáng thọ trì sẽ hội đủ ba mươi đức tính cao quý như trưởng lão Sāriputta.
Điểm thực hànhNgười tại gia chứng ngộ được không phải vì hạnh đầu-đà vô ích, mà vì nền tảng khổ hạnh đã được xây từ các kiếp trước: sự thanh tịnh không bao giờ là thừa, nó chỉ có thể đã được trả trước.
Mi-lan-đà Hỏi Đáp Phần Câu Hỏi Suy Luận Phẩm Suy Luận 2. Câu Hỏi Về Hạnh Đầu-đà
đã được gắn bó với các hạnh từ khước,
rồi nhìn lại những người tại gia
đã trú ở quả vị Bất Lai.
Sau khi quan sát cả hai hạng ấy,
có nỗi nghi hoặc lớn đã khởi lên:
‘Nếu người tại gia có thể giác ngộ Giáo Pháp,
thì pháp từ khước là không có kết quả.
có sự nghiền nát học thuyết của các diễn giả khác,
được thông thạo về Tam Tạng,
Vậy ta nên hỏi vị thuyết giảng hạng nhất,
vị ấy sẽ tiêu diệt nỗi nghi ngờ của ta.
Nghĩa là
Vua thấy các Tỷ-kheo sống ở rừng, đã gắn bó với các hạnh đầu-đà, rồi lại nhìn những người tại gia đã trú ở quả Bất Lai. Quan sát cả hai hạng ấy rồi, một nghi ngờ lớn sinh khởi: Nếu người tại gia cũng giác ngộ được Chánh Pháp, thì hạnh đầu-đà hóa ra vô ích. Vị ấy nghiền nát luận thuyết của các nhà tranh luận khác, thông thạo Tam Tạng; ta hãy hỏi vị thuyết giảng hạng nhất ấy, vị ấy sẽ xóa tan nghi ngờ cho ta.
Khi ấy, vua Milinda đi đến gặp trưởng lão Nāgasena; sau khi đến, đảnh lễ trưởng lão Nāgasena rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên rồi, vua Milinda đã nói với trưởng lão Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, có người tại gia nào — sống ở nhà, thọ hưởng các dục, nằm chen chúc với vợ con, hưởng thụ vải Kāsi và trầm hương, đeo tràng hoa, vật thơm và vật thoa, chấp nhận vàng bạc, buộc búi tóc trang điểm bằng ngọc ma-ni, ngọc trai và vàng — mà đã chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết-bàn không?” “Tâu đại vương, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, không phải ba, bốn, năm trăm, không phải một ngàn, không phải một trăm ngàn, không phải một koṭi, không phải một trăm koṭi, không phải một ngàn koṭi, không phải một trăm ngàn koṭi. Tâu đại vương, hãy gác lại sự lãnh hội của mười người, hai mươi người, một trăm người, một ngàn người — tôi nên trả lời ngài bằng cách nào đây?”
“Chính ngài hãy nói về điều ấy.” “Vậy thì, tâu đại vương, tôi sẽ nói với ngài về một trăm, hay một ngàn, hay một trăm ngàn, hay một koṭi, hay một trăm koṭi, hay một ngàn koṭi, hay một trăm ngàn koṭi. Bất cứ lời giảng nào trong lời Phật dạy chín thể loại liên quan đến sự thực hành hạnh giảm thiểu và các yếu tố cao quý của hạnh đầu-đà, tất cả sẽ hội tụ ở đây. Tâu đại vương, giống như nước mưa rơi trên các phần đất lõm hay nhô, bằng phẳng hay gồ ghề, đất liền hay không phải đất liền — tất cả nước ấy, sau khi chảy ra từ đó, đều hội tụ về biển cả, đại dương; cũng vậy, tâu đại vương, khi có người tiếp nhận, bất cứ lời giảng nào trong lời Phật dạy chín thể loại liên quan đến sự thực hành hạnh giảm thiểu và các yếu tố của hạnh đầu-đà, tất cả sẽ hội tụ ở đây.
Tâu đại vương, việc trình bày lý lẽ bằng sự sáng suốt và kinh nghiệm của tôi sẽ hội tụ ở đây; nhờ vậy, ý nghĩa ấy sẽ được phân tích khéo, đa dạng, đầy đủ, trong sạch và gom về một mối. Tâu đại vương, giống như một vị thầy ghi chép thiện xảo, đã được chỉ dạy, khi ghi lại bài viết thì hoàn thiện bài viết bằng việc trình bày lý lẽ theo sự sáng suốt và kinh nghiệm của mình, và như vậy bài viết ấy trở nên hoàn thành, đầy đủ, không thiếu sót; cũng vậy, việc trình bày lý lẽ bằng sự sáng suốt và kinh nghiệm của tôi sẽ hội tụ ở đây; nhờ vậy, ý nghĩa ấy sẽ được phân tích khéo, đa dạng, đầy đủ, trong sạch và gom về một mối. Tâu đại vương, ở thành Sāvatthi có khoảng năm koṭi Thánh đệ tử là cận sự nam và cận sự nữ của đức Thế Tôn; trong số đó, ba trăm năm mươi bảy ngàn người đã được thiết lập vào quả Bất Lai — tất cả những vị ấy đều là người tại gia, không phải bậc xuất gia.
Hơn nữa, ngay tại nơi ấy, vào lúc thị hiện song thông ở gốc cây gaṇḍamba, có hai mươi koṭi sinh mạng đã lãnh hội; hơn nữa, vào các lúc thuyết giảng Kinh Đại Rāhula, Kinh Đại Mangala, bài giảng về tâm bình lặng, Kinh Parābhava, Kinh Purābheda, Kinh Kalahavivāda, Kinh Cūḷabyūha, Kinh Mahābyūha, Kinh Tuvaṭaka, Kinh Sāriputta, đã có sự lãnh hội Chánh Pháp của chư Thiên với số lượng vượt quá mọi cách tính đếm. Ở thành Rājagaha có ba trăm năm mươi ngàn Thánh đệ tử của đức Thế Tôn là cận sự nam và cận sự nữ. Hơn nữa, ngay tại nơi ấy, vào lúc chế ngự long tượng Dhanapāla có chín mươi koṭi sinh mạng đã lãnh hội; ở cuộc hội họp về mục đích tối hậu tại điện thờ Pāsāṇaka có mười bốn koṭi; hơn nữa ở hang Indasāla có tám mươi koṭi chư Thiên; hơn nữa ở thành Bārāṇasī, Isipatana, vườn Nai, vào lúc thuyết giảng Chánh Pháp lần đầu tiên, có mười tám koṭi Đại Phạm Thiên và vô số chư Thiên; hơn nữa ở cõi trời Ba Mươi Ba, tại tảng đá Paṇḍukambala, vào lúc thuyết giảng Vi Diệu Pháp, có tám mươi koṭi chư Thiên; vào lúc từ cõi trời trở xuống tại cổng thành Saṅkassa, lúc thị hiện thần thông mở ra thế gian, có ba mươi koṭi người và chư Thiên đã có đức tin lãnh hội.
Hơn nữa, ở Kapilavatthu của dòng họ Sakya, tại tu viện Nigrodha, lúc thuyết giảng về dòng dõi chư Phật và lúc thuyết giảng Kinh Mahāsamaya, đã có sự lãnh hội Chánh Pháp của chư Thiên với số lượng vượt quá mọi cách tính đếm. Hơn nữa, ở cuộc gặp gỡ với người làm tràng hoa Sumana, cuộc gặp gỡ với Garahadinna, cuộc gặp gỡ với triệu phú Ānanda, cuộc gặp gỡ với đạo sĩ lõa thể Jambuka, cuộc gặp gỡ với thiên tử Maṇḍuka, cuộc gặp gỡ với thiên tử Maṭṭhakuṇḍali, cuộc gặp gỡ với Sulasā hoa khôi của thành, cuộc gặp gỡ với Sirimā hoa khôi của thành, cuộc gặp gỡ với con gái người thợ dệt, cuộc gặp gỡ với Cūḷasubhaddā, cuộc gặp gỡ xem xét chỗ hỏa táng của vị Bà-la-môn xứ Sāketa, cuộc gặp gỡ tại Sunāparanta, cuộc gặp gỡ về câu hỏi của Thiên chủ Sakka, cuộc gặp gỡ về Kinh Tirokuḍḍa, cuộc gặp gỡ về Kinh Châu Báu — mỗi lần đều có sự lãnh hội Chánh Pháp của tám mươi bốn ngàn sinh mạng. Tâu đại vương, trong suốt thời gian đức Thế Tôn ở thế gian, tại mỗi nơi trong ba phạm vi thuộc mười sáu xứ lớn mà đức Thế Tôn đã trú ngụ, hầu hết đều có hai, ba, bốn, năm trăm, một ngàn, một trăm ngàn chư Thiên và loài người chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết-bàn.
Tâu đại vương, những vị chư Thiên ấy cũng chính là người tại gia, họ không phải bậc xuất gia. Tâu đại vương, những người này, và nhiều trăm ngàn koṭi chư Thiên khác nữa, đều là người tại gia, sống ở nhà, thọ hưởng các dục, đã chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết-bàn.” “Thưa ngài Nāgasena, nếu người tại gia, sống ở nhà, thọ hưởng các dục, chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết-bàn, vậy thì các hạnh đầu-đà phục vụ cho mục đích gì? Vì lý do ấy, các hạnh đầu-đà là việc làm vô ích. Thưa ngài Nāgasena, nếu các cơn bệnh tự lắng dịu mà không cần chú thuật và dược thảo, thì cần gì việc làm cho cơ thể suy yếu bằng cách gây nôn và xổ ruột? Nếu việc trấn áp kẻ thù bằng nắm đấm là đủ, thì cần gì gươm, giáo, tên, cung, nỏ, gậy gộc, chày vồ?
Nếu bám vào chạc cây, khúc cong, lỗ hổng, gai, dây leo, cành cây mà leo lên cây được, thì cần gì tìm kiếm một cái thang dài và chắc chắn? Nếu nằm trên nền đất mà các chất trong cơ thể được điều hòa, thì cần gì tìm cầu giường nằm to lớn, rực rỡ, xúc chạm thoải mái? Nếu một mình có khả năng vượt qua sa mạc đầy nguy hiểm, sợ hãi, gồ ghề, thì cần gì đoàn xe to lớn đã được chuẩn bị và vũ trang? Nếu có khả năng bơi qua sông hồ bằng cánh tay, thì cần gì tìm kiếm cầu và thuyền vững chắc? Nếu có thể tự lo thức ăn, thức mặc bằng tài sản của mình, thì cần gì hầu hạ người khác, nói lời thương mến, chạy đôn chạy đáo trước sau? Nếu lấy được nước ở hồ tự nhiên, thì cần gì đào giếng, ao, hồ?
Cũng vậy, thưa ngài Nāgasena, nếu người tại gia, sống ở nhà, thọ hưởng các dục, chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết-bàn, thì cần gì việc thọ trì cao quý về hạnh đầu-đà?” “Tâu đại vương, có hai mươi tám đức tính này của hạnh đầu-đà, là các đức tính đúng theo bản thể; nhờ những đức tính này, hạnh đầu-đà được tất cả chư Phật ước ao, mong mỏi. Hai mươi tám đức tính nào? Tâu đại vương, ở đây hạnh đầu-đà là: sự nuôi mạng trong sạch, quả an lạc, không tội lỗi, không gây khổ cho người khác, không sợ hãi, không tự hành hạ, thuần túy đưa đến sự tiến triển, không đưa đến hư hoại, không giả dối, sự bảo vệ, sự ban cho điều đã mong mỏi, sự huấn luyện cho mọi chúng sinh, sự thu thúc đem lại lợi ích, sự đúng đắn, không lệ thuộc, được thoát ra, sự diệt tận luyến ái, sự diệt tận sân, sự diệt tận si, sự dứt bỏ ngã mạn, sự cắt đứt suy nghĩ xấu, sự vượt qua nghi hoặc, sự tiêu diệt lười biếng, sự dứt bỏ không ưa thích, sự chịu đựng, không gì sánh bằng, không đo lường được, sự đưa đến diệt tận mọi khổ đau. Tâu đại vương, hai mươi tám đức tính này của hạnh đầu-đà là các đức tính đúng theo bản thể; nhờ chúng, hạnh đầu-đà được tất cả chư Phật ước ao, mong mỏi.
Tâu đại vương, những người thực hành đúng đắn các đức tính của hạnh đầu-đà thì hội đủ mười tám đức tính. Mười tám đức tính nào? Cách cư xử của họ vô cùng trong sạch; sự thực hành được hoàn thiện; hành vi của thân và miệng được hộ trì khéo; hành vi của ý vô cùng trong sạch; tinh tấn được nắm giữ khéo; sợ hãi lắng xuống; kiến về ngã được xa lìa; căm hận chấm dứt; tâm từ được thiết lập; thức ăn được nhận biết rõ; được mọi chúng sinh kính trọng; biết vừa đủ trong việc ăn; gắn bó với sự tỉnh thức; không cần chỗ ở cố định; nơi nào thoải mái thì trú ngụ nơi ấy; ghê sợ điều ác; thích thú nơi vắng lặng; luôn luôn không xao lãng. Tâu đại vương, những người thực hành đúng đắn các đức tính của hạnh đầu-đà thì hội đủ mười tám đức tính này.
Tâu đại vương, mười hạng người này xứng đáng với hạnh đầu-đà. Mười hạng nào? Người có đức tin, có sự hổ thẹn tội lỗi, có nghị lực, không lường gạt, có chí hướng về mục đích, không tham lam, ưa thích học tập, có sự thọ trì vững chắc, ít than phiền, an trú trong tâm từ. Tâu đại vương, mười hạng người này xứng đáng với hạnh đầu-đà. Tâu đại vương, những người tại gia, sống ở nhà, thọ hưởng các dục mà chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết-bàn — tất cả những người ấy, trong những kiếp sống trước, đã từng thân cận, đã từng luyện tập các công việc căn bản trong mười ba hạnh đầu-đà; sau khi đã hoàn chỉnh cách cư xử và sự thực hành ở nơi ấy, giờ đây, trong khi vẫn là người tại gia, họ chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết-bàn.
Tâu đại vương, giống như một cung thủ thiện xảo trước hết cho học trò luyện tập ở phòng tập: phân loại cung, nâng cung và nắm cung, nắm chặt nắm tay, cong ngón tay, đặt bàn chân, nắm tên, đặt tên vào, kéo căng, giữ chặt, nhắm mục tiêu, buông tên; luyện bắn vào các mục tiêu là hình nhân bằng cỏ, đống phân thú, đống cỏ, đống rơm, đống đất sét, tấm ván; sau khi đã thành thạo thuật bắn cung trước mặt đức vua, người học trò nhận được ân huệ là ngựa thuần chủng, xe, voi, ngựa chiến, tài sản, thóc lúa, vàng khối, vàng ròng, tôi trai, tớ gái, vợ và làng mạc; cũng vậy, tâu đại vương, những người tại gia, sống ở nhà, thọ hưởng các dục mà chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết-bàn — tất cả những người ấy, trong những kiếp sống trước, đã từng thân cận, đã từng luyện tập các công việc căn bản trong mười ba hạnh đầu-đà; sau khi đã hoàn chỉnh cách cư xử và sự thực hành ở nơi ấy, giờ đây, trong khi vẫn là người tại gia, họ chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết-bàn.
Tâu đại vương, không có việc tu tập hạnh đầu-đà từ trước thì không có sự chứng ngộ phẩm vị A-la-hán chỉ trong một kiếp sống; nhưng với tinh tấn tối thượng, sự thực hành tối thượng, một vị thầy như thế và một người bạn tốt, sự chứng ngộ phẩm vị A-la-hán có thể xảy ra. Hoặc nữa, tâu đại vương, giống như một thầy thuốc phẫu thuật, sau khi làm hài lòng vị thầy bằng tài sản hay bằng việc thực hành phận sự, đã theo học các công việc: cầm dao, cắt, rạch, chọc thủng, rút mũi tên ra, rửa vết thương, làm khô, bôi thuốc, và các việc gây nôn, xổ ruột, thụt rửa — khi đã học tập các kiến thức, đã luyện tập, đã thành thạo tay nghề, thì đến với người bệnh để chữa trị; cũng vậy, tâu đại vương, những người tại gia, sống ở nhà, thọ hưởng các dục mà chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết-bàn — tất cả những người ấy, trong những kiếp sống trước, đã từng thân cận, đã từng luyện tập các công việc căn bản trong mười ba hạnh đầu-đà; sau khi đã hoàn chỉnh cách cư xử và sự thực hành ở nơi ấy, giờ đây, trong khi vẫn là người tại gia, họ chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết-bàn. Tâu đại vương, không có sự lãnh hội Chánh Pháp đối với những người chưa được hoàn thiện về hạnh đầu-đà.
Tâu đại vương, giống như không có nước tưới thì hạt giống không mọc lên; cũng vậy, tâu đại vương, không có sự lãnh hội Chánh Pháp đối với những người chưa được hoàn thiện về hạnh đầu-đà. Hoặc nữa, tâu đại vương, giống như không có việc đi đến cõi lành đối với những người không làm việc thiện, không làm việc tốt; cũng vậy, tâu đại vương, không có sự lãnh hội Chánh Pháp đối với những người chưa được hoàn thiện về hạnh đầu-đà. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như trái đất, theo ý nghĩa là nơi nâng đỡ. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như nước, theo ý nghĩa rửa sạch mọi bợn nhơ phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như lửa, theo ý nghĩa thiêu đốt cả khu rừng phiền não. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như gió, theo ý nghĩa thổi đi mọi bợn nhơ bụi bặm của phiền não. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như thuốc giải độc, theo ý nghĩa làm lắng dịu mọi tật bệnh của phiền não. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như thuốc bất tử, theo ý nghĩa tiêu diệt mọi chất độc của phiền não. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như thửa ruộng, theo ý nghĩa làm mọc lên mùa màng của mọi đức hạnh Sa-môn.
Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như ngọc như ý, theo ý nghĩa ban cho ân huệ của mọi sự thành tựu cao quý đã mong mỏi, đã ước ao. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như chiếc thuyền, theo ý nghĩa đưa đến bờ bên kia của đại dương luân hồi. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như chốn nương náu cho người sợ hãi, theo ý nghĩa an ủi những người sợ hãi sự già và sự chết. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như người mẹ, theo ý nghĩa nâng đỡ những người bị áp bức bởi phiền não và khổ đau.
Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như người cha, theo ý nghĩa sinh ra mọi đức hạnh Sa-môn cho những người mong muốn tăng trưởng thiện pháp. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như người bạn, theo ý nghĩa không lừa dối trong việc tìm cầu mọi đức hạnh Sa-môn. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như hoa sen, theo ý nghĩa không bị làm ô nhiễm bởi mọi bợn nhơ phiền não. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như bốn loại hương thơm cao quý, theo ý nghĩa xua đuổi mùi hôi của phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như núi chúa cao quý, theo ý nghĩa không bị lay động bởi gió của tám pháp thế gian. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như hư không, theo ý nghĩa ở khắp mọi nơi, không còn sự bám víu, bao la, trải rộng, rộng lớn, vĩ đại. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như dòng sông, theo ý nghĩa cuốn trôi các bợn nhơ phiền não. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như người dẫn đường giỏi, theo ý nghĩa đưa ra khỏi sa mạc của sự sinh và vùng rậm rạp của khu rừng phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như người dẫn đoàn xe vĩ đại, theo ý nghĩa đưa đến thành phố Niết-bàn cao quý, ưu tú, không còn mọi sợ hãi, an toàn, không sợ hãi. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như tấm gương đã được lau chùi kỹ lưỡng, không vết nhơ, theo ý nghĩa nhìn thấy bản thể thật của các hành. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như tấm khiên, theo ý nghĩa ngăn chặn gậy gộc, mũi tên, gươm đao của phiền não. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như chiếc lọng, theo ý nghĩa ngăn chặn cơn mưa phiền não và sức nóng cùng sự thiêu đốt của ba ngọn lửa.
Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như mặt trăng, theo ý nghĩa được ước ao, được mong cầu. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như mặt trời, theo ý nghĩa tiêu diệt bóng tối của sự si mê. Tâu đại vương, đối với những người mong muốn sự thanh tịnh, hạnh đầu-đà giống như biển cả, theo ý nghĩa làm sinh ra các viên ngọc quý giá thuộc đủ loại đức hạnh Sa-môn, và không đo lường được, không đếm được, không ước lượng được. Tâu đại vương, như vậy hạnh đầu-đà đối với những người mong muốn sự thanh tịnh là có nhiều sự giúp đỡ: xua đi mọi khó chịu và bực bội, xua đi sự không thích thú, xua đi sợ hãi, xua đi sự hiện hữu, xua đi sự cứng nhắc của tâm, xua đi ô nhiễm, xua đi sầu muộn, xua đi khổ đau, xua đi luyến ái, xua đi sân hận, xua đi si mê, xua đi ngã mạn, xua đi tà kiến, xua đi mọi pháp bất thiện; đem lại danh tiếng, đem lại lợi ích, đem lại an lạc, tạo sự thoải mái, tạo niềm vui, tạo sự an toàn trước các trói buộc, không tội lỗi, có quả thành tựu dễ chịu và an lạc, là khối đức hạnh, là đống đức hạnh, có đức hạnh không đo lường được, không đếm được, không ước lượng được, cao quý, ưu tú, tối thắng, đứng đầu.
Tâu đại vương, giống như người ta nhờ cậy thức ăn vì muốn được nâng đỡ, nhờ cậy thuốc men vì muốn lợi ích, nhờ cậy bạn bè vì muốn được giúp đỡ, nhờ cậy chiếc thuyền vì muốn vượt qua, nhờ cậy hương thơm của tràng hoa vì muốn hương thơm tốt, nhờ cậy chốn nương náu khỏi sợ hãi vì muốn không còn sợ hãi, nhờ cậy trái đất vì muốn chỗ nâng đỡ, nhờ cậy vị thầy vì muốn nghề nghiệp, nhờ cậy đức vua vì muốn danh vọng, nhờ cậy ngọc ma-ni vì muốn sự ban cho điều ước muốn; cũng vậy, tâu đại vương, các bậc Thánh nhờ cậy hạnh đầu-đà vì muốn sự ban phát mọi đức hạnh của vị Sa-môn. Hoặc nữa, tâu đại vương, giống như nước là để hạt giống mọc lên, lửa để thiêu đốt, thức ăn để mang lại sức mạnh, dây leo để trói buộc, dao để cắt đứt, nước uống để xua cơn khát, kho của cải để làm an tâm, chiếc thuyền để đến được bờ, thuốc men để làm lắng dịu cơn bệnh, xe cộ để đi lại an lạc, chốn nương náu khỏi sợ hãi để xua đi nỗi sợ hãi, đức vua để bảo vệ, tấm khiên để ngăn chặn roi vọt, đất cục, gậy gộc, mũi tên, gươm đao, vị thầy để chỉ dạy, người mẹ để nuôi dưỡng, tấm gương để nhìn xem, đồ trang sức để làm đẹp, vải vóc để che đậy, cái thang để leo lên, cái cân để loại bỏ sự chênh lệch, chú thuật để đọc thầm, vũ khí để ngăn chặn sự hăm dọa, ngọn đèn để tiêu diệt bóng tối, gió để dập tắt sự nóng nực, nghề nghiệp để hoàn thành sự sinh sống, thuốc giải độc để bảo vệ mạng sống, hầm mỏ để sản xuất châu ngọc, châu ngọc để trang điểm, mệnh lệnh để không bị vượt qua, uy quyền để vận hành mệnh lệnh; cũng vậy, tâu đại vương, hạnh đầu-đà là để hạt giống Sa-môn mọc lên, để thiêu đốt bợn nhơ phiền não, để mang lại năng lực thần thông, để buộc chặt sự thu thúc ở niệm, để cắt đứt phân vân và nghi ngờ, để xua cơn khát tham ái, để tạo sự an tâm trong sự lãnh hội, để vượt qua bốn dòng nước lũ, để làm lắng dịu cơn bệnh phiền não, để đạt được an lạc Niết-bàn, để xua đi nỗi sợ hãi về sinh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, để bảo vệ các đức hạnh Sa-môn, để ngăn chặn sự không ưa thích và các suy nghĩ xấu, để chỉ dạy toàn thể mục đích của đời Sa-môn, để nuôi dưỡng mọi đức hạnh của đời Sa-môn, để nhìn thấy chỉ tịnh, minh sát, Đạo, Quả và Niết-bàn, để tạo ra vẻ đẹp lớn lao vĩ đại được toàn thể thế gian tán dương và khen ngợi, để đóng lại mọi đọa xứ, để leo lên đỉnh núi đá của mục đích đời Sa-môn, để loại bỏ cái tâm cong, quẹo, sai trái, để khéo học tập các pháp nên thân cận và không nên thân cận, để hăm dọa kẻ thù là phiền não, để tiêu diệt bóng tối vô minh, để dập tắt sự thiêu đốt và nóng nực của ba ngọn lửa, để hoàn thành sự chứng đạt an tịnh tinh vi và sâu xa, để bảo vệ đức hạnh của toàn bộ đời Sa-môn, để sản xuất châu ngọc quý giá là các yếu tố giác ngộ, để trang điểm cho người hành giả, để không vượt qua sự an lạc của trạng thái an tịnh không tội lỗi, khôn khéo, sâu xa, để vận hành uy lực của Thánh pháp trong toàn bộ đời Sa-môn.
Như vậy, tâu đại vương, mỗi một hạnh đầu-đà là để đưa đến sự chứng đạt những đức tính này. Tâu đại vương, như vậy hạnh đầu-đà là không thể so sánh, không thể đo lường, không sánh bằng, không có vật tương đương, không có vật đối chiếu, không có vật trội hơn, là vô thượng, hàng đầu, đặc biệt, vượt trội, trải dài, bao la, tỏa rộng, vươn rộng, quan trọng, nghiêm trọng, vĩ đại. Tâu đại vương, cá nhân nào có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn, gian xảo, tham lam, quan tâm đến bao tử, mong muốn lợi lộc, mong muốn danh vọng, mong muốn tiếng tăm, không thích hợp, không đạt yêu cầu, không thích đáng, không xứng đáng, không phù hợp mà thọ trì hạnh đầu-đà, kẻ ấy gánh chịu hình phạt gấp đôi, gánh chịu sự phá hoại mọi đức hạnh; trong đời này nhận lấy sự khinh bỉ, khinh miệt, chê trách, chế nhạo, giễu cợt, sự không được thọ hưởng chung, sự xua đuổi, sự tống khứ, sự đưa đẩy, sự trục xuất; và ở đời sau, trong nhiều trăm ngàn koṭi năm, kẻ ấy bị nung nấu trong đại địa ngục Vô Gián rộng một trăm do-tuần, với quầng lửa nóng bỏng, sôi sục, cháy nóng, cháy rực, quay tròn lên trên, xuống dưới, qua ngang lẫn với bọt trào; sau khi thoát ra khỏi nơi ấy, kẻ ấy có thân và tứ chi gầy ốm, thô kệch, đen đủi, đầu sưng phồng có lỗ thủng, bị đói, bị khát, có hình dáng khủng khiếp không đồng đều, tai bị tơi tả, mắt mở ra nhắm lại, thân thể đầy thương tích, thối rữa, lúc nhúc giòi bọ, lửa cháy ở bên trong như cháy ở đầu ngọn gió, không có sự bảo vệ, không có chỗ nương nhờ, than vãn tiếng khóc tỉ tê nức nở bi thương, trở thành ngạ quỷ to lớn mang hình dáng Sa-môn, luôn bị cơn khát dằn vặt, đi lang thang trên trái đất, kêu gào thảm thiết.
Tâu đại vương, giống như một người nào đó không thích hợp, không đạt yêu cầu, không thích đáng, không xứng đáng, không phù hợp, kém cỏi, dòng dõi xấu xa, mà tự phong vương bằng lễ đăng quang của dòng Sát-đế-lỵ — kẻ ấy nhận lấy việc bị chặt bàn tay, chặt bàn chân, chặt cả tay và chân, cắt tai, xẻo mũi, cắt tai và xẻo mũi, nhúng vào hũ giấm chua, cạo đầu bôi vôi, đốt lửa ở miệng, thiêu sống, đốt cháy bàn tay, lột da thành sợi, mặc y phục bằng vỏ cây, kéo căng người trên đất, xiên thịt bằng lưỡi câu, khoét thịt thành hình đồng tiền, chà xát bằng chất kiềm, quay tròn trên thập tự giá, ngồi trên ghế rơm, rưới dầu sôi, cho chó gặm, đặt lên giáo nhọn, chặt đầu bằng gươm, và gánh chịu nhiều hình phạt khác nữa.
Vì lý do gì? Vì kẻ không thích hợp, không đạt yêu cầu, không thích đáng, không xứng đáng, không phù hợp, kém cỏi, dòng dõi xấu xa ấy đã đặt mình vào địa vị vương quyền to lớn, đã xóa bỏ ranh giới. Cũng vậy, tâu đại vương, cá nhân nào có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn, gian xảo, tham lam, quan tâm đến bao tử, mong muốn lợi lộc, mong muốn danh vọng, mong muốn tiếng tăm, không thích hợp, không đạt yêu cầu, không thích đáng, không xứng đáng, không phù hợp mà thọ trì hạnh đầu-đà, kẻ ấy gánh chịu hình phạt gấp đôi, gánh chịu sự phá hoại mọi đức hạnh; trong đời này nhận lấy sự khinh bỉ, khinh miệt, chê trách, chế nhạo, giễu cợt, sự không được thọ hưởng chung, sự xua đuổi, sự tống khứ, sự đưa đẩy, sự trục xuất; và ở đời sau bị nung nấu trong đại địa ngục Vô Gián, rồi sau khi thoát ra, trở thành ngạ quỷ to lớn mang hình dáng Sa-môn, luôn bị cơn khát dằn vặt, đi lang thang trên trái đất, kêu gào thảm thiết.
Nhưng tâu đại vương, cá nhân nào thích hợp, đạt yêu cầu, thích đáng, xứng đáng, phù hợp, ít ham muốn, biết đủ, sống tách ly, không giao du, có tinh tấn đã khởi động, có bản tánh cương quyết, không gian trá, không xảo quyệt, không quan tâm đến bao tử, không mong muốn lợi lộc, không mong muốn danh vọng, không mong muốn tiếng tăm, có đức tin, xuất gia vì đức tin, mong muốn thoát khỏi già và chết, nghĩ rằng ‘ta sẽ nâng đỡ giáo pháp’ rồi thọ trì hạnh đầu-đà — vị ấy xứng đáng sự cúng dường gấp đôi, là người được chư Thiên yêu mến, ưa thích, ước muốn, mong cầu; như bông hoa của các loài nhài đối với người đã tắm và thoa dầu, như thức ăn hảo hạng đối với người đói, như nước uống mát, sạch, thơm đối với người khát, như dược thảo cao quý đối với người trúng độc, như cỗ xe ngựa thuần chủng cao quý tối thượng đối với người muốn đi nhanh, như ngọc ma-ni làm thỏa ước muốn đối với người có mục đích, như chiếc lọng trắng trong sạch không bợn nhơ đối với người muốn được phong vương, như sự chứng đắc vô thượng của quả A-la-hán đối với người mong muốn Chánh Pháp.
Đối với vị ấy, Bốn Niệm Xứ nhờ tu tập mà đi đến tròn đủ; bốn chánh tinh tấn, bốn nền tảng thần thông, năm quyền, năm lực, bảy yếu tố giác ngộ, con đường cao quý tám nhánh nhờ tu tập mà đi đến tròn đủ; vị ấy chứng đắc chỉ tịnh và minh sát, hoàn thiện sự thực hành của sự chứng đắc; bốn quả của đời Sa-môn, bốn tuệ phân tích, ba minh, sáu thắng trí, và toàn bộ pháp Sa-môn — tất cả đều thuộc về vị ấy; vị ấy được phong vương bằng chiếc lọng trắng trong sạch không bợn nhơ của sự giải thoát. Tâu đại vương, giống như đối với vị vua Sát-đế-lỵ sinh ra trong gia tộc quý phái, có dòng dõi, đã được phong vương bằng lễ đăng quang Sát-đế-lỵ, thì có các thị dân, dân quê, nhân công, binh lính trong vương quốc phục tùng, và ba mươi tám đoàn tùy tùng của đức vua; các diễn viên, vũ công, người tiên đoán điềm lành, người nói lời chúc tụng, các Sa-môn, Bà-la-môn và mọi nhóm ngoại đạo đều tìm đến; bất cứ việc gì trên trái đất — bến tàu, hầm mỏ châu báu, thành phố, trạm thuế, người xứ khác, việc xử chặt, việc xử chém, việc chỉ thị dân chúng — vị vua ấy là người chủ ở khắp mọi nơi; cũng vậy, tâu đại vương, cá nhân nào thích hợp, đạt yêu cầu, thích đáng, xứng đáng, phù hợp, ít ham muốn, biết đủ, sống tách ly, không giao du, có tinh tấn đã khởi động, có bản tánh cương quyết, không gian trá, không xảo quyệt, không quan tâm đến bao tử, không mong muốn lợi lộc, không mong muốn danh vọng, không mong muốn tiếng tăm, có đức tin, xuất gia vì đức tin, mong muốn thoát khỏi già và chết, rồi thọ trì hạnh đầu-đà — vị ấy xứng đáng sự cúng dường gấp đôi, được chư Thiên và loài người yêu mến, và đối với vị ấy Bốn Niệm Xứ cùng các pháp còn lại nhờ tu tập mà đi đến tròn đủ, toàn bộ pháp Sa-môn đều thuộc về vị ấy; vị ấy được phong vương bằng chiếc lọng trắng trong sạch không bợn nhơ của sự giải thoát.
Tâu đại vương, đây là mười ba hạnh đầu-đà; được làm trong sạch bằng các hạnh này, vị Tỷ-kheo bước vào đại dương Niết-bàn vĩ đại, vui chơi trò chơi Chánh Pháp nhiều loại, vận dụng tám sự chứng đạt thuộc sắc giới và vô sắc giới, và đạt được các loại thần thông, Thiên nhĩ, sự nhận biết tâm người khác, sự nhớ lại các kiếp sống trước, Thiên nhãn, và sự diệt tận mọi lậu hoặc. Mười ba hạnh nào? Hạnh của vị mang y phấn tảo, hạnh của vị dùng ba y, hạnh của vị đi khất thực, hạnh của vị đi khất thực theo thứ tự từng nhà, hạnh của vị ăn một chỗ ngồi, hạnh của vị ăn trong bình bát, hạnh của vị từ chối thức ăn dâng sau, hạnh của vị ở rừng, hạnh của vị ở gốc cây, hạnh của vị ở ngoài trời, hạnh của vị ở mộ địa, hạnh của vị ở chỗ được chỉ định, hạnh của vị giữ oai nghi ngồi. Tâu đại vương, với mười ba hạnh đầu-đà này đã được thân cận, đã được thành thạo, đã được thực hành, đã được hoàn thiện, đã được hành xử, đã được tiếp cận, đã được tròn đủ từ trước, vị ấy đạt được toàn bộ đời sống Sa-môn; mọi sự chứng đạt tịch tịnh, an lạc đều thuộc về vị ấy.
Tâu đại vương, giống như một thuyền trưởng giàu có, đã nộp thuế đầy đủ ở bến tàu, bước vào đại dương và đi đến Vaṅga, Takkola, Cīna, Sovīra, Suraṭṭha, Alasanda, Kolapaṭṭana, Suvaṇṇabhūmi, và bất cứ nơi nào khác tàu bè lui tới; cũng vậy, tâu đại vương, với mười ba hạnh đầu-đà này đã được thân cận, đã được thành thạo, đã được thực hành, đã được hoàn thiện, đã được hành xử, đã được tiếp cận, đã được tròn đủ từ trước, vị ấy đạt được toàn bộ đời sống Sa-môn; mọi sự chứng đạt tịch tịnh, an lạc đều thuộc về vị ấy. Tâu đại vương, giống như một nông dân trước hết dọn sạch các khuyết điểm của thửa ruộng là cỏ, củi khô, đá sỏi, rồi cày xới, gieo hạt, đưa nước vào đúng cách, bảo vệ, giữ gìn, rồi nhờ việc gặt hái và đập giũ mà trở thành người có nhiều thóc lúa, và những người nghèo khó, khốn khổ, bất hạnh đều thuộc về người ấy; cũng vậy, tâu đại vương, với mười ba hạnh đầu-đà này đã được thân cận, đã được thành thạo, đã được thực hành, đã được hoàn thiện, đã được hành xử, đã được tiếp cận, đã được tròn đủ từ trước, vị ấy đạt được toàn bộ đời sống Sa-môn; mọi sự chứng đạt tịch tịnh, an lạc đều thuộc về vị ấy.
Hoặc nữa, tâu đại vương, giống như vị vua Sát-đế-lỵ đã được rưới nước phong vương trên đầu, sinh ra trong gia tộc quý phái, có dòng dõi, là chúa tể trong việc xử chặt, xử chém, chỉ thị dân chúng, có uy quyền, là người chủ hành động theo ý muốn, và toàn bộ trái đất lớn thuộc về vị ấy; cũng vậy, tâu đại vương, với mười ba hạnh đầu-đà này đã được thân cận, đã được thành thạo, đã được thực hành, đã được hoàn thiện, đã được hành xử, đã được tiếp cận, đã được tròn đủ từ trước, vị ấy trở thành chúa tể trong giáo pháp cao quý của đấng Chiến Thắng, có uy quyền, là người chủ hành động theo ý muốn, và mọi đức hạnh của đời Sa-môn đều thuộc về vị ấy. Tâu đại vương, chẳng phải trưởng lão Upasena, con của Vaṅganta, nhờ sự thực hành đầy đủ các hạnh giảm thiểu và đầu-đà, đã không tuân theo quy định của Tăng Đoàn ở Sāvatthi, cùng với đoàn tùy tùng của mình đi đến gặp đấng Điều Ngự Trượng Phu đang ở nơi thiền tịnh, cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên sao? Và đức Thế Tôn, nhìn thấy đoàn tùy tùng đã được huấn luyện khéo ấy, vui mừng, phấn chấn, hoan hỷ, phấn khởi, sau khi trò chuyện với đoàn tùy tùng, bằng giọng Phạm Thiên không lẫn lộn đã nói điều này:
‘Này Upasena, đoàn tùy tùng này của ngươi quả là đáng ngưỡng mộ. Này Upasena, ngươi hướng dẫn đoàn tùy tùng như thế nào?’ Được đấng Toàn Tri, bậc Mười Lực, vị Trời vượt trên các vị Trời hỏi như vậy, vị ấy, bằng đức hạnh thật sự của bản thân, cũng đã nói với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, người nào đến với con và xin xuất gia hay xin nương nhờ, con nói với người ấy như vầy: “Này đạo hữu, tôi là vị ở rừng, vị đi khất thực, vị mang y phấn tảo, vị dùng ba y. Nếu ngươi cũng sẽ là vị ở rừng, vị đi khất thực, vị mang y phấn tảo, vị dùng ba y, thì tôi sẽ cho ngươi xuất gia, sẽ cho ngươi nương nhờ.” Bạch ngài, nếu người ấy đồng ý với con, vui vẻ, hứng thú, thì con cho người ấy xuất gia, cho người ấy nương nhờ; nếu người ấy không vui vẻ, không hứng thú, thì con không cho xuất gia, không cho nương nhờ. Bạch ngài, con hướng dẫn đoàn tùy tùng như thế.’ Tâu đại vương, như vậy người thọ trì đức hạnh cao quý của hạnh đầu-đà là chúa tể trong giáo pháp cao quý của đấng Chiến Thắng.
Vị ấy có uy quyền, là người chủ hành động theo ý muốn; mọi sự chứng đạt tịch tịnh, an lạc đều thuộc về vị ấy. Tâu đại vương, giống như hoa sen sinh trưởng, lớn lên trong sạch, trơn láng, mềm mại, đáng ham thích, có mùi thơm tốt, được yêu mến, được mong cầu, được ca tụng, không bị nước và bùn làm ô nhiễm, được tô điểm bằng các cánh hoa nhỏ, tua nhị và gương sen, được bầy ong lui tới, được nuôi lớn trong nước mát lạnh; cũng vậy, tâu đại vương, với mười ba hạnh đầu-đà này đã được thân cận, đã được thành thạo, đã được thực hành, đã được hoàn thiện, đã được hành xử, đã được tiếp cận, đã được tròn đủ từ trước, vị Thánh đệ tử hội đủ ba mươi đức tính cao quý.
Ba mươi đức tính cao quý nào? Vị ấy có tâm từ trìu mến, mềm mỏng, dịu dàng; có phiền não đã được tiêu diệt, phá hủy, tiêu hoại; có ngã mạn và kiêu ngạo đã được phá hủy, diệt trừ; có đức tin không dao động, vững chắc, được củng cố, không phân vân; nhận được sự chứng đạt trọn vẹn, thỏa mãn, mừng rỡ, đáng ham thích, tịch tịnh, an lạc; được thấm nhuần hương thơm cao quý, ưu tú, vô song, tinh khiết của giới; là đối tượng yêu quý, ưa thích của chư Thiên và loài người; được các bậc đã hết lậu hoặc, các bậc Thánh, các nhân vật cao quý mong mỏi; được chư Thiên và loài người đảnh lễ, cúng dường; được những người khôn ngoan, thông minh, sáng suốt tán dương, ca ngợi, khen ngợi, ca tụng; không bị thế gian ở đời này hay đời khác làm ô nhiễm; thấy được nỗi sợ hãi ngay trong chút ít tội lỗi; hoàn thành mục đích cao quý về Đạo và Quả cho những người mong muốn các thành tựu lớn lao và cao quý; có phần về các vật dụng lớn lao, hảo hạng đã được thỉnh cầu; nằm nghỉ ở nơi không nhà; an trú cao quý trong sự gắn bó với thiền; có mạng lưới nền tảng của phiền não đã được tháo gỡ; có sự che lấp về cảnh giới tái sinh đã bị phá vỡ, đập bể, co rút, chặt đứt; có pháp bền vững; có chỗ ở phù hợp; có sự thọ hưởng không bị chê trách; đã thoát khỏi cảnh giới tái sinh; đã vượt qua mọi hoài nghi; đã gắn bó vào sự giải thoát; đã nhìn thấy Chánh Pháp; đã đi đến chốn nương náu vững chắc, không dao động trước sự kinh sợ; có khuynh hướng ngủ ngầm đã được cắt đứt; đã đạt đến sự diệt tận mọi lậu hoặc; có nhiều sự chứng đạt và an trú về tịch tịnh và an lạc; hội đủ mọi đức tính của vị Sa-môn. Vị ấy hội đủ ba mươi đức tính cao quý này.
Tâu đại vương, chẳng phải trưởng lão Sāriputta là người cao cả nhất trong mười ngàn thế giới, chỉ trừ đấng Thập Lực, bậc thầy của thế gian, sao? Ngay cả vị ấy — với thiện căn đã tích lũy trong vô lượng, vô số kiếp, có dòng dõi gia tộc Bà-la-môn, sau khi từ bỏ thú vui dục lạc làm hài lòng và tài sản quý giá hàng trăm con số, xuất gia trong giáo pháp của đấng Chiến Thắng, rèn luyện thân, lời và ý bằng mười ba hạnh đầu-đà này — giờ đây đã hội đủ các đức hạnh vô biên, trở thành người tiếp tục chuyển vận Bánh Xe Pháp của đức Thế Tôn Gotama trong giáo pháp cao quý của Ngài. Điều này, tâu đại vương, cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trên các vị Trời, nói đến trong bộ Tăng Chi, phần Một Pháp, dấu ấn cao quý:
‘Này các Tỷ-kheo, ta không thấy một cá nhân nào khác tiếp tục chuyển vận một cách đúng đắn Bánh Xe Pháp vô thượng đã được đức Như Lai chuyển vận, như là Sāriputta. Này các Tỷ-kheo, Sāriputta tiếp tục chuyển vận một cách đúng đắn Bánh Xe Pháp vô thượng đã được đức Như Lai chuyển vận.’” “Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Bất cứ lời dạy nào của đức Phật gồm chín thể loại, bất cứ hành động nào vượt trên thế gian, bất cứ sự thành tựu vĩ đại và cao quý nào của các chứng đắc ở thế gian — tất cả đều hội tụ vào mười ba hạnh đầu-đà.” Câu hỏi về hạnh đầu-đà là thứ hai. Phẩm Suy Luận là phẩm thứ tư.