Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Milinda & Apadāna › Câu Hỏi Suy Luận

Câu Hỏi Suy Luận

1. Anumānapañha · MIL6.4.1 · 347 đoạn

Vua chất vấn: cả trưởng lão lẫn thầy của ngài đều chưa từng thấy đức Phật, vậy sao tin có Phật? Trưởng lão đáp bằng suy luận: như thấy đồ vật của các vua tiền bối thì biết có vua tiền bối, thấy các pháp đức Phật đã dùng — Bốn Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo — qua hình ảnh thành phố Chánh Pháp với các cửa tiệm hoa, hương, quả, thuốc, châu báu, thì biết đức Phật có thật, dù chưa từng gặp mặt.

Điểm thực hành

Đức tin nơi đức Phật không cần dựa vào việc tận mắt thấy Ngài: thấy 'thành phố Chánh Pháp' Ngài để lại — giới, định, tuệ và các quả vị vẫn vận hành — là đủ cơ sở suy luận để biết Ngài có thật.

Mi-lan-đà Hỏi Đáp Phẩm Suy Luận 1. Câu Hỏi Suy Luận Khi ấy, vua Milinda đi đến gặp trưởng lão Nāgasena; sau khi đến, đảnh lễ trưởng lão Nāgasena rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên rồi, vua Milinda — với mong muốn được biết, mong muốn được nghe, mong muốn ghi nhớ, mong muốn nhìn thấy ánh sáng của trí tuệ, mong muốn phá vỡ sự không biết, mong muốn làm sinh khởi ánh sáng của trí tuệ, mong muốn tiêu diệt bóng tối vô minh — sau khi thiết lập sự can đảm, sự cố gắng, sự ghi nhớ và sự nhận biết rõ rệt ở mức cao nhất, đã nói với trưởng lão Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, đức Phật có được ngài nhìn thấy không?” “Tâu đại vương, không.” “Đức Phật có được các vị thầy của ngài nhìn thấy không?”

“Tâu đại vương, không.” “Thưa ngài Nāgasena, nghe nói đức Phật không được ngài nhìn thấy, cũng không được các vị thầy của ngài nhìn thấy. Vậy thì, thưa ngài Nāgasena, không có đức Phật; ở đây đức Phật không được biết đến.” “Tâu đại vương, còn các vị vua Sát-đế-lỵ tiền bối, những người đi đầu của dòng dõi Sát-đế-lỵ của ngài, họ có không?” “Thưa ngài, có. Nghi ngờ gì nữa: có các vị Sát-đế-lỵ tiền bối, họ là những người đi đầu của dòng dõi Sát-đế-lỵ của trẫm.” “Tâu đại vương, các vị Sát-đế-lỵ tiền bối có được ngài nhìn thấy không?” “Thưa ngài, không.” “Tâu đại vương, còn những người đang cố vấn cho ngài — các vị tế sư, tướng lĩnh, quan tòa, quan đại thần — các vị Sát-đế-lỵ tiền bối có được họ nhìn thấy không?”

“Thưa ngài, không.” “Tâu đại vương, nếu các vị Sát-đế-lỵ tiền bối không được ngài nhìn thấy, cũng không được những người cố vấn của ngài nhìn thấy, vậy thì không có các vị Sát-đế-lỵ tiền bối; ở đây các vị Sát-đế-lỵ tiền bối không được biết đến.” “Thưa ngài Nāgasena, những đồ vật mà các vị Sát-đế-lỵ tiền bối đã sử dụng vẫn còn được nhìn thấy. Đó là: chiếc lọng trắng, khăn đội đầu, đôi giày, quạt phất trần, viên ngọc trên thanh gươm, và những chiếc giường vô cùng quý giá. Nhờ chúng mà chúng tôi biết được, tin được rằng: ‘Có các vị Sát-đế-lỵ tiền bối.’” “Cũng vậy, tâu đại vương, chúng tôi cũng biết được, tin được về đức Thế Tôn ấy. Có lý do mà nhờ lý do ấy chúng tôi biết được, tin được rằng: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’ Lý do ấy là gì?

Tâu đại vương, quả thật có những đồ vật đã được đức Thế Tôn ấy — bậc biết, bậc thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác — sử dụng. Đó là: Bốn Niệm Xứ, bốn chánh tinh tấn, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy yếu tố giác ngộ, con đường cao quý tám nhánh — nhờ chúng mà thế gian gồm cả chư Thiên biết được, tin được rằng: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’ Tâu đại vương, với lý do này, với nguyên nhân này, với đường lối này, với sự suy luận này, nên biết rằng: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’

Sau khi đã giúp cho nhiều người vượt qua,
Ngài đã tịch diệt ở sự đoạn tận mầm mống tái sanh.
Nhờ vào sự suy luận, có thể biết được rằng:
‘Có bậc Tối Thượng Nhân ấy.’

Nghĩa là

Sau khi đưa nhiều người qua bờ bên kia, Ngài đã tịch diệt khi mầm tái sinh đã tận. Bằng suy luận mà biết được: Đấng tối thượng trong loài hai chân ấy có thật.

“Thưa ngài Nāgasena, xin ngài cho một ví dụ.” “Tâu đại vương, giống như một kiến trúc sư thành phố muốn xây dựng một thành phố, trước hết quan sát một khoảnh đất bằng phẳng, không nhô lên, không lõm xuống, không có sỏi đá, không nguy hiểm, không có gì đáng chê, đáng yêu thích; chỗ nào không bằng phẳng thì cho san bằng chỗ ấy, cho dọn sạch gốc cây và gai góc, rồi xây dựng thành phố tại đó: đẹp đẽ, được phân chia thành từng phần, đã được đo đạc, có hào đào và thành lũy bao quanh, có tháp canh và cổng thành vững chắc, có nhiều đường ngang, ngã tư, giao lộ, quảng trường, có đường chính sạch sẽ và bằng phẳng, có các cửa tiệm được bố trí khéo bên trong, đầy đủ vườn, công viên, hồ, ao sen, giếng nước, được tô điểm bằng nhiều điện thờ chư Thiên, không có khuyết điểm nào. Khi thành phố ấy đã phát triển về mọi mặt, người kiến trúc sư ấy đi đến một vùng khác. Rồi về sau, thành phố ấy trở nên thịnh vượng, giàu có, lương thực dồi dào, an toàn, phát đạt, tốt lành, không rủi ro, không tai họa, đông đúc nhiều hạng người: các Sát-đế-lỵ lớn, các Bà-la-môn, các thương nhân, các nô lệ, các quản tượng, các kỵ sĩ, các người đánh xe, các bộ binh, các cung thủ, các kiếm sĩ, các hiệp sĩ, các quân nhân, các người cung cấp lương thực, các hoàng tử dũng cảm, các cảm tử quân, các yếu nhân, các anh hùng, các chiến sĩ mặc giáp, các con của nô bộc, các con của người làm thuê, các đô vật, các người tính toán, các đầu bếp, các phụ bếp, các thợ cạo, các người hầu tắm, các thợ rèn, các người làm tràng hoa, các thợ vàng, các thợ bạc, các thợ chì, các thợ thiếc, các thợ đồng, các thợ hợp kim, các thợ sắt, các thợ ngọc ma-ni, các thợ dệt, các thợ gốm, các người làm giỏ tre, các người làm muối, các thợ thuộc da, các thợ làm xe, các thợ làm ngà, các thợ làm dây, các thợ làm lược, các thợ quay tơ, các thợ đan giỏ, các thợ làm cung, các thợ làm dây cung, các thợ làm tên, các họa sĩ, các thợ nhuộm màu, các thợ nhuộm vải, các thợ dệt vải, các thợ may, các thợ kim hoàn, các người buôn vải, các người buôn hương liệu, các người cắt cỏ, các người nhặt củi, các người làm thuê, các người bán rau, các người bán trái cây, các người bán rễ cây, các người bán cơm, các người bán bánh, các người bán cá, các người bán thịt, các người bán rượu, các diễn viên, các vũ công, các người leo trèo, các ảo thuật gia, các nhạc công, các đô vật, các người thiêu xác, các người đổ rác hoa, các thợ làm tre, các thợ săn, các kỹ nữ, các vũ nữ, các tớ gái đội nước; những người ở Saka, Yavana, Cīna, Vilāta, Ujjenī, Bhārukaccha, Kāsi, Kosala, Paranta, Magadha, Sāketa, Soraṭṭha, Pāvā, Koṭumbara, Madhura, Alasanda, Kasmīra, Gandhāra đã đến cư ngụ ở thành phố ấy — những người từ các xứ khác nhau, sau khi nhìn thấy thành phố ấy mới mẻ, khéo bố trí, không khuyết điểm, không có gì đáng chê, đáng yêu thích, bằng suy luận nhận biết rằng: ‘Này các bạn, kiến trúc sư xây dựng thành phố này quả là thiện xảo.’ Cũng vậy, tâu đại vương, đức Thế Tôn ấy — không ai sánh bằng, ngang với bậc không thể sánh bằng, không có đối thủ, không có người tương đương, không thể so sánh, không thể đếm, không thể đo, không thể lường, có đức hạnh vô lượng, đã đạt đến sự toàn hảo của đức hạnh, có can đảm vô biên, có vinh quang vô biên, có tinh tấn vô biên, có năng lực vô biên, đã đạt đến sự toàn hảo về Phật lực — sau khi đánh bại Ma Vương cùng đạo binh của nó, phá tung mạng lưới tà kiến, dẹp bỏ vô minh, làm cho minh sinh khởi, nắm giữ ngọn đuốc Chánh Pháp, đạt được trí toàn tri, chiến thắng không bị khuất phục, đã xây dựng thành phố Chánh Pháp.

Tâu đại vương, thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn có thành lũy là giới, hào là sự hổ thẹn tội lỗi, cổng thành là trí, tháp canh là tinh tấn, trụ cột là đức tin, người gác cổng là niệm, lâu đài là tuệ, đường ngang là Kinh, quảng trường là Vi Diệu Pháp, tòa án là Luật, đường phố là Niệm Xứ. Và tâu đại vương, trên đường phố Niệm Xứ của thành phố ấy, có những cửa tiệm như vầy được bày ra. Đó là: cửa tiệm hoa, cửa tiệm hương liệu, cửa tiệm trái cây, cửa tiệm thuốc giải độc, cửa tiệm thuốc chữa bệnh, cửa tiệm thuốc bất tử, cửa tiệm châu báu, cửa tiệm tổng hợp.” “Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm hoa của đức Phật Thế Tôn là cửa tiệm nào?” “Tâu đại vương, có những cách phân loại đối tượng thiền đã được đức Thế Tôn ấy — bậc biết, bậc thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác — giảng nói.

Đó là: tưởng vô thường, tưởng khổ, tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh, tưởng bất lợi, tưởng dứt bỏ, tưởng lìa luyến ái, tưởng diệt tận, tưởng không hứng thú với mọi thứ ở thế gian, tưởng vô thường trong tất cả các hành, niệm hơi thở vào ra, tưởng tử thi trương sình, tưởng tử thi xanh xám, tưởng tử thi thối rữa, tưởng tử thi bị thủng lỗ, tưởng tử thi bị thú ăn dở, tưởng tử thi bị vung vãi, tưởng tử thi bị hủy hoại và vung vãi, tưởng tử thi đẫm máu, tưởng tử thi bị giòi rỉa, tưởng bộ xương, tưởng tâm từ, tưởng tâm bi, tưởng tâm hỷ, tưởng tâm xả, niệm về sự chết, niệm đặt ở thân. Tâu đại vương, những cách phân loại đối tượng thiền này đã được đức Phật Thế Tôn giảng nói.

Ở đó, người nào muốn thoát khỏi già và chết thì nắm lấy một trong những đối tượng ấy; nhờ đối tượng ấy, người ấy thoát khỏi luyến ái, thoát khỏi sân, thoát khỏi si, thoát khỏi ngã mạn, thoát khỏi tà kiến, vượt qua luân hồi, ngăn dòng ái dục, làm trong sạch ba loại vết bẩn, hủy diệt tất cả phiền não, bước vào thành phố tối thượng — thành phố Niết-bàn — không vết nhơ, hết bụi bặm, trong sạch, tinh khiết, không sinh, không già, không chết, an lạc, mát lạnh, không sợ hãi, rồi làm cho tâm được giải thoát ở phẩm vị A-la-hán. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm hoa của đức Thế Tôn.’

Sau khi nắm lấy tiền vốn là nghiệp (thiện),
hãy đi đến cửa tiệm,
hãy mua lấy đối tượng,
từ đó hãy được tự do ở sự giải thoát.

Nghĩa là

Cầm lấy nghiệp lành làm vốn, hãy đến cửa tiệm, mua lấy một đề mục thiền, rồi từ đó được tự do trong giải thoát.

“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm hương liệu của đức Phật Thế Tôn là cửa tiệm nào?” “Tâu đại vương, có những cách phân loại về giới đã được đức Thế Tôn ấy giảng nói; được thoa bằng hương giới ấy, các con của đức Thế Tôn làm cho thế gian gồm cả chư Thiên thơm ngát, tràn ngập bằng hương giới; họ tỏa hương đến các hướng chính, hướng phụ, xuôi gió và ngược gió, tỏa khắp rồi lắng lại. Những cách phân loại về giới ấy là gì? Giới quy y, giới năm điều, giới tám điều, giới mười điều, và giới thu thúc theo giới bổn Pātimokkha gồm năm phần tụng đọc. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm hương liệu của đức Thế Tôn.’ Điều này, tâu đại vương, cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trên các vị Trời, nói đến:

Hương thơm của bông hoa không bay ngược chiều gió,
(hương thơm của) gỗ trầm, gỗ tagara, hoặc hoa nhài cũng không.
Còn hương thơm của những người tốt bay ngược chiều gió,
bậc thiện nhân tỏa hương (thơm giới hạnh) khắp mọi phương.
Gỗ trầm, gỗ tagara, hoặc ngay cả
hoa sen và hoa nhài,
trong số các loại có hương thơm này,
hương thơm của giới là vô thượng.
Hương thơm này
của gỗ tagara hay gỗ trầm là nhỏ nhoi,
còn hương thơm của những người có giới hạnh
thổi giữa chư Thiên là tối thượng.

Nghĩa là

Hương hoa không bay ngược gió, hương trầm, tagara hay hoa nhài cũng vậy. Chỉ hương của người tốt mới bay ngược gió, bậc thiện nhân tỏa hương khắp mọi phương. Trầm, tagara, cho đến cả hoa sen và hoa nhài — trong các loại hương ấy, hương của giới là cao nhất. Hương kia thì nhỏ bé — hương của tagara hay gỗ trầm là ít ỏi, còn hương của người có giới hạnh bay lên giữa chư Thiên là tối thượng.

“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm trái cây của đức Phật Thế Tôn là cửa tiệm nào?” “Tâu đại vương, các quả đã được đức Thế Tôn giảng nói. Đó là: quả Nhập Lưu, quả Nhất Lai, quả Bất Lai, quả A-la-hán, sự nhập định quả không tánh, sự nhập định quả vô tướng, sự nhập định quả vô nguyện. Ở đó, người nào muốn quả nào thì trao ra tiền vốn là nghiệp lành rồi mua lấy quả đã mong mỏi ấy. Nếu là quả Nhập Lưu, nếu là quả Nhất Lai, nếu là quả Bất Lai, nếu là quả A-la-hán, nếu là sự nhập định quả không tánh, nếu là sự nhập định quả vô tướng, nếu là sự nhập định quả vô nguyện. Tâu đại vương, giống như cây xoài của một người nào đó là cây có trái thường xuyên; khi người mua chưa đến, người ấy chưa làm cho trái rơi xuống; khi người mua đã đến, người ấy nhận tiền vốn rồi nói như vầy: ‘Này ông, cây xoài này có trái thường xuyên; ông muốn bao nhiêu trái ở cây ấy thì cứ lấy bấy nhiêu: trái còn non, trái còn chát, trái còn lông tơ, trái chưa chín, hay trái đã chín.’ Người ấy, bằng số tiền vốn mình đã trao ra, nếu muốn trái còn non thì lấy trái còn non, nếu muốn trái còn chát thì lấy trái còn chát, nếu muốn trái còn lông tơ thì lấy trái còn lông tơ, nếu muốn trái chưa chín thì lấy trái chưa chín, nếu muốn trái đã chín thì lấy trái đã chín.

Cũng vậy, tâu đại vương, người nào muốn quả nào thì trao ra tiền vốn là nghiệp lành rồi nhận lấy quả đã mong mỏi ấy: nếu là quả Nhập Lưu, nếu là quả Nhất Lai, nếu là quả Bất Lai, nếu là quả A-la-hán, nếu là sự nhập định quả không tánh, nếu là sự nhập định quả vô tướng, nếu là sự nhập định quả vô nguyện. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm trái cây của đức Thế Tôn.’

Sau khi trao ra tiền vốn là nghiệp (thiện),
rồi cầm lấy trái cây bất tử,
do việc ấy những người ấy được an lạc.
những người nào mua trái cây bất tử,

Nghĩa là

Người trao nghiệp lành làm vốn, rồi cầm lấy quả bất tử; nhờ đó họ được an vui. Ai mua được quả bất tử,

“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm thuốc giải độc của đức Phật Thế Tôn là cửa tiệm nào?” “Tâu đại vương, các thuốc giải độc đã được đức Thế Tôn giảng nói; bằng các thuốc giải độc này, đức Thế Tôn giúp thế gian gồm cả chư Thiên thoát khỏi chất độc phiền não. Vậy các thuốc giải độc ấy là gì? Tâu đại vương, đó là bốn sự thật cao quý đã được đức Thế Tôn giảng nói. Đó là: sự thật cao quý về khổ, sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ, sự thật cao quý về sự diệt khổ, sự thật cao quý về con đường đưa đến sự diệt khổ. Ở đó, những ai trông cậy vào trí tuệ mà lắng nghe Giáo Pháp về bốn sự thật, họ được giải thoát khỏi sinh, được giải thoát khỏi già, được giải thoát khỏi chết, được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm thuốc giải độc của đức Thế Tôn.’

Bất cứ các thuốc giải độc nào ở thế gian
đều là những vật đẩy lùi các chất độc,
không có loại nào sánh bằng thuốc giải độc là Giáo Pháp,
này các tỳ khưu, các ngươi hãy uống loại này.

Nghĩa là

Mọi thuốc giải độc ở đời đều chỉ đẩy lùi chất độc, không gì sánh bằng thuốc giải độc Chánh Pháp; này các Tỷ-kheo, hãy uống thuốc này.

“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm thuốc chữa bệnh của đức Phật Thế Tôn là cửa tiệm nào?” “Tâu đại vương, các thuốc chữa bệnh đã được đức Thế Tôn giảng nói; bằng các thuốc chữa bệnh này, đức Thế Tôn chữa bệnh cho chư Thiên và loài người. Đó là: Bốn Niệm Xứ, bốn chánh tinh tấn, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy yếu tố giác ngộ, con đường cao quý tám nhánh. Bằng các thuốc này, đức Thế Tôn tẩy sạch tà kiến, tẩy sạch tà tư duy, tẩy sạch tà ngữ, tẩy sạch tà nghiệp, tẩy sạch tà mạng, tẩy sạch tà tinh tấn, tẩy sạch tà niệm, tẩy sạch tà định; làm cho ói ra tham, ói ra sân, ói ra si, ói ra ngã mạn, ói ra tà kiến, ói ra hoài nghi, ói ra phóng dật, ói ra dã dượi buồn ngủ, ói ra sự không hổ thẹn và không ghê sợ tội lỗi, ói ra tất cả phiền não. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm thuốc chữa bệnh của đức Thế Tôn.’

Bất cứ các thuốc chữa bệnh nào được tìm thấy ở thế gian
là đa dạng và có nhiều,
không có loại nào sánh bằng thuốc chữa bệnh là Giáo Pháp,
này các tỳ khưu, các ngươi hãy uống loại này.
Sau khi uống vào thuốc chữa bệnh là Giáo Pháp,
thì có thể trở thành không già không chết.
Sau khi tu tập và sau khi nhìn thấy,
thì được tịch diệt ở sự đoạn tận mầm mống tái sanh.

Nghĩa là

Mọi thuốc chữa bệnh tìm thấy ở đời dù đa dạng và nhiều đến đâu, không gì sánh bằng thuốc Chánh Pháp; này các Tỷ-kheo, hãy uống thuốc này. Uống thuốc Chánh Pháp rồi, người ta trở thành không già, không chết. Tu tập và thấy rõ rồi, được tịch diệt khi mầm tái sinh đã tận.

“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm thuốc bất tử của đức Phật Thế Tôn là cửa tiệm nào?” “Tâu đại vương, thuốc bất tử đã được đức Thế Tôn giảng nói; bằng thuốc bất tử này, đức Thế Tôn rưới tưới cho thế gian gồm cả chư Thiên; được rưới tưới bằng thuốc bất tử này, chư Thiên và loài người được giải thoát khỏi sinh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Thuốc bất tử ấy là gì? Đó là niệm đặt ở thân. Điều này, tâu đại vương, cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trên các vị Trời, nói đến: ‘Này các Tỷ-kheo, những ai thọ hưởng niệm đặt ở thân, những người ấy thọ hưởng sự bất tử.’ Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm thuốc bất tử của đức Thế Tôn.’

Sau khi nhìn thấy loài người bị bệnh,
Ngài đã bày ra cửa hàng thuốc bất tử.
Này các tỳ khưu, các người hãy mua vật ấy bằng nghiệp (thiện)
và hãy nhận lấy thuốc bất tử.

Nghĩa là

Thấy loài người đang bệnh, Ngài bày ra cửa tiệm thuốc bất tử. Này các Tỷ-kheo, hãy lấy nghiệp lành mà mua, rồi nhận lấy thuốc bất tử.

“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm châu báu của đức Phật Thế Tôn là cửa tiệm nào?” “Tâu đại vương, các châu báu đã được đức Thế Tôn giảng nói; được trang điểm bằng các châu báu này, các con của đức Thế Tôn chiếu sáng, soi sáng, tỏa sáng, rực sáng, phát sáng cho thế gian gồm cả chư Thiên, phô bày ánh sáng lên trên, xuống dưới, ra ngang. Các châu báu ấy là gì? Giới báu, định báu, tuệ báu, giải thoát báu, báu trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát, báu các tuệ phân tích, báu các yếu tố giác ngộ. Tâu đại vương, giới báu của đức Thế Tôn là gì? Giới thu thúc theo giới bổn Pātimokkha, giới thu thúc các căn, giới nuôi mạng trong sạch, giới liên quan đến các vật dụng, giới nhỏ, giới trung, giới lớn, giới của Đạo, giới của Quả.

Tâu đại vương, thế gian gồm cả chư Thiên, cùng với Ma Vương, Phạm Thiên, và các dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, đều ước muốn, mong cầu người được trang sức bằng châu báu của giới. Tâu đại vương, vị Tỷ-kheo được chưng diện bằng châu báu của giới thì chiếu sáng, chiếu chói lọi ở hướng chính, hướng phụ, hướng trên, hướng dưới, hướng ngang; vị ấy vượt qua, ngự trên, nhấn chìm tất cả các châu ngọc trong khoảng từ địa ngục Vô Gián ở dưới lên đến cõi cao nhất ở trên, rồi đứng vững. Tâu đại vương, những giới báu như thế được bày ở cửa tiệm châu báu của đức Thế Tôn. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘giới báu của đức Thế Tôn.’

Các giới có hình thức như thế
hiện diện ở cửa tiệm của đức Phật.
Các ngươi hãy mua châu báu ấy bằng nghiệp (thiện),
và hãy chưng diện.

Nghĩa là

Những giới như thế có ở cửa tiệm của đức Phật; hãy lấy nghiệp lành mua châu báu ấy, rồi hãy trang sức cho mình.

Tâu đại vương, định báu của đức Thế Tôn là gì? Định có tầm có tứ, định không tầm chỉ có tứ, định không tầm không tứ, định không tánh, định vô tướng, định vô nguyện. Tâu đại vương, đối với vị Tỷ-kheo chưng diện định báu, các suy nghĩ về dục, suy nghĩ về oán hận, suy nghĩ về hãm hại, ngã mạn, phóng dật, tà kiến, hoài nghi, các nền tảng của phiền não, và nhiều loại suy nghĩ xấu xa — tất cả chúng, khi chạm đến định, đều phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, không trụ lại, không đeo bám. Tâu đại vương, giống như nước trên lá sen thì phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, không trụ lại, không đeo bám. Điều ấy do nguyên nhân gì? Do tính trong sạch của hoa sen. Cũng vậy, tâu đại vương, đối với vị Tỷ-kheo chưng diện định báu, các suy nghĩ về dục, suy nghĩ về oán hận, suy nghĩ về hãm hại, ngã mạn, phóng dật, tà kiến, hoài nghi, các nền tảng của phiền não, và nhiều loại suy nghĩ xấu xa — tất cả chúng, khi chạm đến định, đều phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, không trụ lại, không đeo bám.

Điều ấy do nguyên nhân gì? Do tính trong sạch của định. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘định báu của đức Thế Tôn’; tâu đại vương, những định báu như thế được bày ở cửa tiệm châu báu của đức Thế Tôn.

Đối với vị có tràng hoa là định báu,
các suy nghĩ xấu xa không sanh lên,
và tâm không bị tán loạn,
các ngươi hãy chưng diện vật ấy.

Nghĩa là

Ai mang tràng hoa định báu, các suy nghĩ xấu không sinh khởi, tâm không tán loạn; hãy trang sức bằng vật ấy.

Tâu đại vương, tuệ báu của đức Thế Tôn là gì? Tâu đại vương, tuệ mà nhờ nó vị Thánh đệ tử nhận biết đúng như thật rằng: ‘Cái này là thiện’, nhận biết đúng như thật rằng: ‘Cái này là bất thiện’, nhận biết đúng như thật rằng: ‘Cái này có tội, cái này không có tội, cái này nên thực hành, cái này không nên thực hành, cái này thấp kém, cái này cao quý, cái này đen, cái này trắng, cái này có phần đen và trắng lẫn lộn’, nhận biết đúng như thật rằng: ‘Đây là khổ’, nhận biết đúng như thật rằng: ‘Đây là nguồn gốc của khổ’, nhận biết đúng như thật rằng: ‘Đây là sự diệt khổ’, nhận biết đúng như thật rằng: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘tuệ báu của đức Thế Tôn.’

Đối với vị có tràng hoa là tuệ báu,
sự hiện hữu không xoay chuyển lâu dài.
Vị ấy mau chóng chạm đến Bất Tử,
và không thích thú ở sự hiện hữu.

Nghĩa là

Ai mang tràng hoa tuệ báu, sự hiện hữu không còn kéo dài. Người ấy mau chóng chạm đến Bất Tử, và không còn thích thú sự hiện hữu.

Tâu đại vương, giải thoát báu của đức Thế Tôn là gì? Tâu đại vương, ‘giải thoát báu’ được gọi là phẩm vị A-la-hán. Tâu đại vương, vị Tỷ-kheo đã đạt đến phẩm vị A-la-hán được gọi là ‘chưng diện giải thoát báu’. Tâu đại vương, giống như một người đàn ông được trang điểm bằng đồ trang sức là chuỗi ngọc trai, chuỗi ngọc ma-ni, chuỗi san hô, thân thể được thoa dầu thơm của các cây tagara, tālīsa và trầm hương đỏ, được điểm tô bằng các hoa lim, hoa nguyệt quế, hoa salaḷa, hoa champaka, hoa nhài vàng, hoa atimuttaka, hoa pāṭala, hoa sen, hoa nhài nước, hoa nhài Ả-rập, thì vượt trội hơn những người còn lại, chiếu sáng, chói sáng, soi sáng, tỏa sáng, lóe sáng, rực sáng, phát sáng, ngự trị, nhấn chìm họ bằng các đồ trang sức là vòng hoa, hương thơm và châu báu; cũng vậy, tâu đại vương, vị đã đạt phẩm vị A-la-hán, đã hết lậu hoặc, được chưng diện giải thoát báu, so với các vị Tỷ-kheo đã giải thoát ở mức này mức khác, thì vượt trội, vượt lên, chiếu sáng, chói sáng, soi sáng, lóe sáng, rực sáng, phát sáng, ngự trị, nhấn chìm họ bằng sự giải thoát của mình.

Điều ấy do nguyên nhân gì? Tâu đại vương, vật chưng diện này là tối thắng trong tất cả các vật chưng diện, tức là sự chưng diện bằng giải thoát. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘giải thoát báu của đức Thế Tôn.’

người chủ đang mang tràng hoa có ngọc ma-ni,
Người (làm công) trong nhà ngước nhìn
tràng hoa có giải thoát báu.
còn thế gian có cả chư Thiên ngước nhìn

Nghĩa là

Người chủ mang tràng hoa ngọc ma-ni, người làm công trong nhà ngước nhìn; còn tràng hoa giải thoát báu thì cả thế gian gồm chư Thiên đều ngước nhìn.

Tâu đại vương, báu trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát của đức Thế Tôn là gì? Tâu đại vương, trí quán xét lại được gọi là ‘báu trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát’ của đức Thế Tôn; nhờ trí ấy, vị Thánh đệ tử quán xét lại Đạo, Quả, Niết-bàn, các phiền não đã dứt bỏ và các phiền não còn sót lại.

Nhờ vào trí nào, các bậc Thánh biết rõ
trạng thái đã hoàn thành phận sự,
để đạt được châu báu trí tuệ ấy
hỡi những người con của đấng Chiến Thắng, hãy tinh tấn

Nghĩa là

Nhờ trí nào các bậc Thánh biết rõ việc đã làm xong, hãy cố gắng đạt châu báu trí tuệ ấy, này những người con của đấng Chiến Thắng.

Tâu đại vương, báu các tuệ phân tích của đức Thế Tôn là gì? Tâu đại vương, đó là bốn tuệ phân tích: tuệ phân tích về ý nghĩa, tuệ phân tích về pháp, tuệ phân tích về ngôn từ, tuệ phân tích về phép biện giải. Tâu đại vương, được trang điểm bằng bốn tuệ phân tích báu này, vị Tỷ-kheo đi đến bất cứ tập thể nào — tập thể Sát-đế-lỵ, tập thể Bà-la-môn, tập thể gia chủ, hay tập thể Sa-môn — đều đi đến với sự tự tin, không hổ thẹn, không nhút nhát, không hãi sợ, không hốt hoảng, không nổi da gà. Tâu đại vương, giống như một chiến sĩ, anh hùng của chiến trận, đã vũ trang năm loại vũ khí, không kinh sợ, lao vào chiến trận, nghĩ rằng: ‘Nếu quân địch ở xa, ta sẽ hạ gục bằng mũi tên; gần hơn nữa, ta sẽ đánh bằng cây lao; gần hơn nữa, ta sẽ đánh bằng cây thương; kẻ tiến đến gần, ta sẽ chém làm hai bằng thanh kiếm lưỡi cong; kẻ đã đến sát thân, ta sẽ đâm thủng bằng con dao.’ Cũng vậy, tâu đại vương, vị Tỷ-kheo được trang sức bằng bốn tuệ phân tích báu thì đi vào tập thể không kinh sợ, nghĩ rằng:

‘Bất cứ ai hỏi ta câu hỏi về phân tích ý nghĩa, ta sẽ giảng cho người ấy ý nghĩa bằng ý nghĩa, giảng lý do bằng lý do, giảng nguyên nhân bằng nguyên nhân, giảng đường lối bằng đường lối; ta sẽ làm cho hết nghi ngờ, sẽ tách bỏ sự phân vân, sẽ làm cho người ấy hoan hỷ bằng sự giải thích câu hỏi. Bất cứ ai hỏi ta câu hỏi về phân tích pháp, ta sẽ giảng cho người ấy pháp bằng pháp, giảng Bất Tử bằng Bất Tử, giảng không tạo tác bằng không tạo tác, giảng Niết-bàn bằng Niết-bàn, giảng không tánh bằng không tánh, giảng vô tướng bằng vô tướng, giảng vô nguyện bằng vô nguyện, giảng bất động bằng bất động; ta sẽ làm cho hết nghi ngờ, sẽ tách bỏ sự phân vân, sẽ làm cho người ấy hoan hỷ bằng sự giải thích câu hỏi.

Bất cứ ai hỏi ta câu hỏi về phân tích ngôn từ, ta sẽ giảng cho người ấy ngôn từ bằng ngôn từ, giảng từ bằng từ, giảng từ tiếp nối bằng từ tiếp nối, giảng mẫu tự bằng mẫu tự, giảng sự nối âm bằng sự nối âm, giảng phụ âm bằng phụ âm, giảng âm phụ thuộc bằng âm phụ thuộc, giảng hình thức bằng hình thức, giảng nguyên âm bằng nguyên âm, giảng khái niệm bằng khái niệm, giảng cách gọi tên bằng cách gọi tên; ta sẽ làm cho hết nghi ngờ, sẽ tách bỏ sự phân vân, sẽ làm cho người ấy hoan hỷ bằng sự giải thích câu hỏi. Bất cứ ai hỏi ta câu hỏi về phân tích phép biện giải, ta sẽ giảng cho người ấy phép biện giải bằng phép biện giải, giảng ví dụ bằng ví dụ, giảng tướng trạng bằng tướng trạng, giảng phẩm vị bằng phẩm vị; ta sẽ làm cho hết nghi ngờ, sẽ tách bỏ sự phân vân, sẽ làm cho người ấy hoan hỷ bằng sự giải thích câu hỏi.’ Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘báu các tuệ phân tích của đức Thế Tôn.’

Sau khi mua các tuệ phân tích,
nhờ vào trí vị nào có thể chạm đến,
thì (vị ấy) không kinh sợ, không xao động,
chói sáng thế gian luôn cả chư Thiên.

Nghĩa là

Mua được các tuệ phân tích, ai dùng trí chạm đến chúng, thì không kinh sợ, không xao động, chói sáng cả thế gian gồm chư Thiên.

Tâu đại vương, báu các yếu tố giác ngộ của đức Thế Tôn là gì? Tâu đại vương, có bảy yếu tố giác ngộ này: yếu tố giác ngộ niệm, yếu tố giác ngộ trạch pháp, yếu tố giác ngộ tinh tấn, yếu tố giác ngộ hỷ, yếu tố giác ngộ khinh an, yếu tố giác ngộ định, yếu tố giác ngộ xả. Tâu đại vương, được trang điểm bằng bảy yếu tố giác ngộ báu này, vị Tỷ-kheo chế ngự mọi bóng tối, soi sáng, tỏa sáng cho thế gian gồm cả chư Thiên, và làm sinh khởi ánh sáng. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘báu các yếu tố giác ngộ của đức Thế Tôn.’

đối với người có tràng hoa là giác chi báu.
Thế gian luôn cả chư Thiên đều đứng dậy (chào)
các ngươi hãy mua châu báu ấy bằng nghiệp (thiện),
và hãy chưng diện.

Nghĩa là

Ai mang tràng hoa giác chi báu, cả thế gian gồm chư Thiên đều đứng dậy chào; hãy lấy nghiệp lành mua châu báu ấy, rồi hãy trang sức cho mình.

“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm tổng hợp của đức Phật Thế Tôn là cửa tiệm nào?” “Tâu đại vương, cửa tiệm tổng hợp của đức Thế Tôn gồm: lời dạy của đức Phật chín thể loại, các xá-lợi thân, các vật dụng, các bảo tháp, và Tăng Đoàn báu. Tâu đại vương, ở cửa tiệm tổng hợp của đức Thế Tôn có bày: sự thành tựu về dòng dõi sinh ra, sự thành tựu về của cải, sự thành tựu về tuổi thọ, sự thành tựu về không bệnh, sự thành tựu về sắc đẹp, sự thành tựu về tuệ, sự thành tựu về cõi người, sự thành tựu về cõi trời, sự thành tựu về Niết-bàn. Ở đó, những ai muốn sự thành tựu này hay sự thành tựu nọ thì trao ra tiền vốn là nghiệp lành rồi mua lấy sự thành tựu đã mong mỏi ấy; có người mua bằng việc thọ trì giới, có người mua bằng việc hành trì ngày trai giới; tùy theo phần tiền vốn là nghiệp lành ít ỏi mà họ nhận được các sự thành tựu tương ứng.

Tâu đại vương, giống như ở cửa tiệm của một chủ tiệm có mè, đậu mugga, đậu māsa, người ta mua gạo, đậu mugga, đậu māsa với số lượng chút ít tùy theo từng phần tiền vốn ít ỏi của mình; cũng vậy, tâu đại vương, ở cửa tiệm tổng hợp của đức Thế Tôn, tùy theo phần tiền vốn là nghiệp lành ít ỏi mà người ta nhận được các sự thành tựu tương ứng. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm tổng hợp của đức Thế Tôn.’

Tuổi thọ, sự không bệnh, sắc đẹp,
cõi trời, việc có được gia tộc cao sang,
và sự không tạo tác, sự Bất Tử
là có ở của hàng tổng hợp, ở đấng Chiến Thắng.
Được nhận lấy ít hay nhiều
tùy theo phần tiền vốn là nghiệp (thiện).
Này các tỳ khưu, sau khi mua bằng tiền vốn là đức tin,
các ngươi hãy được thành tựu.

Nghĩa là

Tuổi thọ, không bệnh, sắc đẹp, cõi trời, dòng dõi cao sang, pháp vô vi và Bất Tử — đều có ở cửa tiệm tổng hợp của đấng Chiến Thắng. Ít hay nhiều đều nhận được tùy theo phần vốn nghiệp lành. Này các Tỷ-kheo, mua bằng vốn đức tin rồi, các vị hãy được thành tựu.

Tâu đại vương, ở thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn có những hạng người như thế này cư trú: các vị chuyên về Kinh, chuyên về Luật, chuyên về Vi Diệu Pháp, các vị thuyết pháp, các vị tụng Bổn Sanh, các vị tụng Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng, Tăng Chi, Tiểu Bộ; các vị đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ; các vị thích thú tu tập các yếu tố giác ngộ; các vị hành minh sát, gắn bó với mục đích của mình; các vị ở rừng, ở gốc cây, ở ngoài trời, ở đống rơm, ở mộ địa; các vị giữ oai nghi ngồi không nằm; các vị đã tiến đến Đạo, đã trú ở Quả, các bậc Hữu Học đã đạt quả vị; các vị Nhập Lưu, Nhất Lai, Bất Lai, A-la-hán; các vị có ba minh, sáu thắng trí, có thần thông, đã đạt đến sự toàn hảo về tuệ; các vị thiện xảo về Niệm Xứ, chánh tinh tấn, nền tảng thần thông, quyền, lực, yếu tố giác ngộ, Đạo, thiền cao quý, giải thoát, các định sắc giới và vô sắc giới, sự nhập định tịch tịnh và an lạc. Thành phố Chánh Pháp đã đông đúc, dày đặc, chen chúc, tràn ngập các vị A-la-hán ấy, như rừng sậy hay rừng lau.

Và ở đây có bài kệ rằng:

Các vị có luyến ái đã lìa, có sân đã lìa,
có si đã lìa, không còn lậu hoặc,
có tham ái đã lìa, không còn chấp thủ,
các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị ngụ ở rừng, duy trì pháp từ khước,
chứng thiền, có y thô xấu,
thỏa thích sự cô độc, sáng suốt,
các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị giữ oai nghi ngồi, ngụ chỗ được chỉ định,
đứng và đi kinh hành,
tất cả đều mang y may bằng vải quăng bỏ,
các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị sử dụng ba y, thanh tịnh,
có mảnh da thú là vật thứ tư,
thích thú việc (thọ thực) một chỗ ngồi, hiểu biết,
các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị ít ham muốn, chín chắn, sáng suốt,
(thọ) chút ít vật thực, không tham lam,
tự biết đủ với việc có hay không có,
các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị chứng thiền, thích thú với thiền, sáng suốt,
có tâm thanh tịnh, được định tĩnh,
có sự mong mỏi về cõi thiền Vô Sở Hữu,
các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị đã tiến đến (Đạo), đã trú ở Quả,
là các bậc Hữu Học, đã đạt được quả vị,
là những vị mong mỏi mục đích tối thượng,
các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị Nhập Lưu, không vết nhơ,
và các vị Nhất Lai,
các vị Bất Lai, và các vị A-la-hán,
các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị thiện xảo về sự thiết lập niệm,
thích thú việc tu tập các Giác chi,
các vị hành Minh Sát, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp,
các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị thiện xảo về các nền tảng của thần thông,
thích thú việc tu tập định,
gắn bó với chánh tinh tấn,
các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị đã đạt đến sự toàn hảo về các Thắng Trí,
thích thú với hành xứ có tính chất truyền thống,
có sự di chuyển ở không trung,
các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị có mắt nhìn xuống, nói năng chừng mực,
có các giác quan được canh phòng, khéo thu thúc,
đã được huấn luyện tốt đẹp ở Giáo Pháp tối thượng,
các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị có ba Minh, và sáu Thắng Trí,
đã đi đến sự toàn hảo của thần thông,
đã đạt được sự toàn hảo về tuệ,
các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.

Nghĩa là

Đã lìa tham, đã lìa sân, đã lìa si, không còn lậu hoặc, đã lìa ái, không còn chấp thủ, họ sống trong thành phố Chánh Pháp. Các vị ở rừng, giữ hạnh đầu-đà, thiền định, mặc y thô xấu, ưa thích vắng lặng, sáng suốt, họ sống trong thành phố Chánh Pháp. Các vị giữ oai nghi ngồi, ở chỗ được chỉ định, đứng và đi kinh hành, đều mang y phấn tảo, họ sống trong thành phố Chánh Pháp. Các vị dùng ba y, thanh tịnh, có mảnh da thú làm vật thứ tư, ưa ăn một chỗ ngồi, hiểu biết, họ sống trong thành phố Chánh Pháp. Các vị ít ham muốn, chín chắn, sáng suốt, ăn ít, không tham lam, biết đủ dù có hay không có, họ sống trong thành phố Chánh Pháp. Các vị chứng thiền, ưa thích thiền, sáng suốt, tâm thanh tịnh, định tĩnh, hướng đến cõi Vô Sở Hữu, họ sống trong thành phố Chánh Pháp. Các vị đang đi trên Đạo, đã trú ở Quả, là bậc Hữu Học, đã đạt quả vị, mong mỏi mục đích tối thượng, họ sống trong thành phố Chánh Pháp. Các vị Nhập Lưu trong sạch, các vị Nhất Lai, các vị Bất Lai và A-la-hán, họ sống trong thành phố Chánh Pháp. Các vị thiện xảo về Niệm Xứ, ưa tu tập các yếu tố giác ngộ, hành minh sát, ghi nhớ Giáo Pháp, họ sống trong thành phố Chánh Pháp. Các vị thiện xảo về nền tảng thần thông, ưa tu tập định, gắn bó với chánh tinh tấn, họ sống trong thành phố Chánh Pháp. Các vị đã đạt toàn hảo về thắng trí, ưa thích hành xứ truyền thống, đi lại giữa không trung, họ sống trong thành phố Chánh Pháp. Các vị mắt nhìn xuống, nói năng chừng mực, canh phòng các căn, khéo thu thúc, đã được huấn luyện trong Chánh Pháp tối thượng, họ sống trong thành phố Chánh Pháp. Các vị có ba minh và sáu thắng trí, đã đạt toàn hảo về thần thông, đã đạt toàn hảo về tuệ, họ sống trong thành phố Chánh Pháp.

Tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo nào giữ gìn trí cao quý không đo lường được, không bị ràng buộc, có đức hạnh không thể so sánh, có danh tiếng không thể so sánh, có năng lực không thể so sánh, có vinh quang không thể so sánh, là những vị tiếp tục chuyển vận bánh xe Chánh Pháp, đã đạt đến sự toàn hảo về tuệ — tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo như thế được gọi là ‘các tướng quân Chánh Pháp’ trong thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn. Tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo nào có thần thông, đã chứng đạt các tuệ phân tích, đã đạt đến các sự tự tín, đi lại trên không trung, khó sánh bằng, khó khuất phục, di chuyển không cần vật bám, làm rung động trái đất cùng biển và núi, vuốt ve được mặt trăng và mặt trời, thiện xảo về biến hóa, chú nguyện và phát nguyện, đã đạt đến sự toàn hảo về thần thông — tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo như thế được gọi là ‘các vị quân sư’ trong thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn.

Tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo nào theo đuổi các hạnh đầu-đà, ít ham muốn, biết đủ, ghê sợ sự yêu cầu và sự tìm cầu sai trái, đi khất thực theo thứ tự từng nhà như ong hút hương hoa rồi bay đi, vào khu rừng vắng lặng, không quan tâm đến thân và mạng sống, đã đạt phẩm vị A-la-hán, được xem là tối thắng về đức hạnh của hạnh đầu-đà — tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo như thế được gọi là ‘các vị quan tòa’ trong thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn. Tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo nào thanh tịnh, không vết nhơ, không còn phiền não, thiện xảo về sinh và tử, đã đạt đến sự toàn hảo về Thiên nhãn — tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo như thế được gọi là ‘những vị thắp sáng thành phố’ trong thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn.

Tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo nào nghe nhiều, có kinh điển được truyền thừa, ghi nhớ Giáo Pháp, ghi nhớ Luật, ghi nhớ các tiêu đề, thiện xảo về việc phân biệt các âm: không gió hay có gió, dài hay ngắn, nặng hay nhẹ, ghi nhớ giáo huấn chín thể loại — tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo như thế được gọi là ‘những vị bảo vệ Chánh Pháp’ trong thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn. Tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo nào hiểu biết về Luật, thông thái về Luật, thiện xảo về chỗ nên và không nên, thiện xảo về tội và không tội, tội nặng có thể chữa trị hay không thể chữa trị, sự thoát tội, sự trình báo tội, sự khiển trách, sự sửa chữa, sự mời vào, sự đuổi ra, sự hòa giải, đã đạt đến sự toàn hảo về Luật — tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo như thế được gọi là ‘những vị bảo vệ nghi thức’ trong thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn.

Tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo nào được quàng tràng hoa là những bông hoa cao quý của sự giải thoát, đã đạt bản thể cao quý, ưu tú, giá trị cao, đứng đầu, được số đông yêu quý và mong mỏi — tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo như thế được gọi là ‘những người chủ tiệm hoa’ trong thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn. Tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo nào đã thấu triệt, lãnh hội bốn sự thật, đã thấy sự thật, đã nhận thức giáo huấn, đã vượt qua hoài nghi về bốn quả Sa-môn, đã đạt được an lạc của quả, và chia sẻ những quả ấy với những người khác cũng đang thực hành — tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo như thế được gọi là ‘những người chủ tiệm trái cây’ trong thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn.

Tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo nào được thoa hương thơm của sự thu thúc giới, mang nhiều đức hạnh đủ loại, làm tiêu tan mùi hôi của phiền não và ô nhiễm — tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo như thế được gọi là ‘những người chủ tiệm hương liệu’ trong thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn. Tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo nào yêu mến Chánh Pháp, có lời nói đáng quý, vui thích tột bậc ở Thắng Pháp và Thắng Luật, đi vào rừng, đến gốc cây, vào nhà trống, uống hương vị cao quý của Chánh Pháp, thấm nhuần hương vị cao quý của Chánh Pháp bằng thân, bằng lời, bằng ý, có tài biện giải tuyệt vời, thực hành sự tìm cầu Chánh Pháp trong các pháp — từ nơi này hay nơi khác, nơi nào có buổi nói về ít ham muốn, về biết đủ, về tách ly, về không giao du, về khởi sự tinh tấn, về giới, về định, về tuệ, về giải thoát, về trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát, thì họ đến nơi này nơi khác và uống từng hương vị của buổi nói ấy — tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo như thế được gọi là ‘những vị nghiện uống, có sự khao khát’ trong thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn.

Tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo nào đầu đêm và cuối đêm gắn bó với sự rèn luyện tỉnh thức, trải qua ngày đêm bằng việc ngồi, đứng và đi kinh hành, gắn bó với sự rèn luyện tu tập, đeo đuổi mục đích của mình nhằm xua đuổi phiền não — tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo như thế được gọi là ‘những người canh giữ thành phố’ trong thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn. Tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo nào đọc, đọc theo, giảng giải, lặp lại lời dạy của đức Phật gồm chín thể loại — về ý nghĩa, về văn tự, về đường lối, về lý do, về nguyên nhân và về ví dụ — tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo như thế được gọi là ‘những người chủ tiệm Chánh Pháp’ trong thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn.

Tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo nào giàu có, có tài sản — tài sản là châu báu Chánh Pháp, là sự học tập và lắng nghe kinh điển — có sự thấu triệt về nguyên âm, phụ âm và đặc điểm đã được diễn đạt, có hiểu biết rộng rãi — tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo như thế được gọi là ‘những người giàu có về Chánh Pháp’ trong thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn. Tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo nào có sự thấu triệt về thuyết giảng ở mức tột bậc, đã quen thuộc với sự phân loại và mô tả đối tượng thiền, đã đạt đến sự toàn hảo về đức hạnh học tập — tâu đại vương, những vị Tỷ-kheo như thế được gọi là ‘những vị nổi tiếng về Chánh Pháp’ trong thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn.

Tâu đại vương, thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn đã được phân chia khéo như vậy, xây dựng khéo như vậy, sắp xếp khéo như vậy, bồi đắp khéo như vậy, xác định khéo như vậy, bảo vệ khéo như vậy, gìn giữ khéo như vậy, khó bị khuất phục như vậy bởi những kẻ nghịch và kẻ thù. Tâu đại vương, với lý do này, với nguyên nhân này, với đường lối này, với sự suy luận này, nên biết rằng: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’

Cũng giống như sau khi nhìn thấy thành phố
khéo được bố trí, làm thích ý,
bằng suy luận họ nhận biết
sự vĩ đại của nhà kiến trúc.
của đấng Bảo Hộ Thế Gian,
sau khi nhìn thấy thành phố Giáo Pháp cao quý
bằng suy luận họ biết rằng:
‘Có đức Thế Tôn ấy.’
bằng suy luận họ biết rằng
Sau khi nhìn thấy làn sóng ở biển cả,
theo như làn sóng này được nhìn thấy
thì biển cả sẽ là lớn lao.
Tương tợ, đức Phật là bậc xua đi nỗi sầu muộn,
không bị đánh bại ở mọi nơi,
đã đạt đến sự cạn kiệt của tham ái,
có sự thoát khỏi sự luân chuyển trong các cõi.
bằng suy luận có thể biết được
Sau khi nhìn thấy làn sóng ở thế gian luôn cả chư Thiên,
theo như sự lan rộng của làn sóng Giáo Pháp,
đức Phật sẽ là hạng nhất.
bằng suy luận họ biết rằng
Sau khi nhìn thấy ngọn núi vươn cao,
theo như cách nó được vươn cao,
nó sẽ là núi Hi-mã-lạp.
Tương tợ, sau khi nhìn thấy ngọn núi Giáo Pháp của đức Thế Tôn
có trạng thái mát lạnh, không có mầm mống tái sanh,
vươn cao,
không dao động, khéo được thiết lập.
bằng suy luận có thể biết được
Sau khi nhìn thấy ngọn núi Giáo Pháp,
bậc Đại Hùng ấy chính là như thế,
đức Phật sẽ là hạng nhất.
của con voi chúa,
sau khi nhìn thấy bàn chân
bằng suy luận mọi người biết được rằng:
‘Con voi ấy là to lớn.’
sau khi nhìn thấy dấu chân của đức Phật vĩ đại,
bậc có sự thông suốt,
bằng suy luận họ biết rằng
vị ấy sẽ là tột bực.
bằng suy luận họ biết rằng:
Sau khi nhìn thấy những con thú nhỏ bị sợ hãi,
bởi âm thanh của con thú chúa.
‘Những con thú nhỏ này bị sợ hãi
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy các ngoại đạo
bị bối rối, có tâm sợ hãi,
bằng suy luận có thể biết được
tiếng rống của đấng Pháp Vương.
Sau khi nhìn thấy trái đất đã được nguội lạnh,
đạt được màu xanh, có nhiều nước,
bằng suy luận họ biết rằng
(trái đất) đã được nguội lạnh nhờ đám mưa lớn.
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy người này
được vui mừng, hớn hở,
bằng suy luận có thể biết được
(người ấy) đã được toại ý bởi cơn mưa Giáo Pháp.
Sau khi nhìn thấy bụi bặm bị kết dính, bùn lầy,
mặt đất trở thành lầy lội ẩm thấp,
bằng suy luận họ biết rằng
có khối nước lớn đã đi đến.
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy người này
bị lấm lem bởi bụi bặm và bùn lầy,
đã được đưa đến ở dòng sông Giáo Pháp,
đã được chuyển đến ở biển cả Giáo Pháp.
đi đến sự Bất Tử của Giáo Pháp,
quả đất này luôn cả chư Thiên
bằng suy luận có thể biết được
có Pháp uẩn vĩ đại đã đi đến.
bằng suy luận họ biết rằng
Sau khi ngửi mùi hương tối thượng,
là theo như mùi hương này thổi đến
thì sẽ có những cây đã được trổ hoa.
Y như thế ấy, mùi hương giới đức này
thổi ở thế gian luôn cả chư Thiên,
bằng suy luận có thể biết được là
có đức Phật vô thượng.

Nghĩa là

Như khi thấy một thành phố khéo bố trí, làm vui lòng người xem, người ta suy luận mà biết sự vĩ đại của nhà kiến trúc. Đấng Bảo Hộ Thế Gian — khi thấy thành phố Chánh Pháp cao quý của Ngài, người ta suy luận mà biết: Đức Thế Tôn ấy có thật. người ta suy luận mà biết: khi thấy làn sóng trên biển cả, sóng hiện ra như thế nào, thì biển cả sẽ lớn lao như thế ấy. Cũng vậy, đức Phật là bậc xua tan sầu muộn, không bị đánh bại ở bất cứ đâu, đã đạt đến sự tận diệt tham ái, đã thoát khỏi vòng luân chuyển trong các cõi. Bằng suy luận nên biết: khi thấy làn sóng ở thế gian gồm cả chư Thiên, theo sự lan tỏa của làn sóng Chánh Pháp, đức Phật sẽ là bậc nhất. người ta suy luận mà biết: khi thấy ngọn núi vươn cao, nó vươn cao như thế nào, thì nó sẽ là núi Hi-mã-lạp. Cũng vậy, khi thấy ngọn núi Chánh Pháp của đức Thế Tôn mát lạnh, không còn mầm tái sinh, vươn cao, không dao động, khéo thiết lập. Bằng suy luận nên biết: khi thấy ngọn núi Chánh Pháp, bậc Đại Hùng ấy chính là như vậy, đức Phật sẽ là bậc nhất. Dấu chân của voi chúa — khi thấy bàn chân của nó, người ta suy luận mà biết: Con voi ấy là to lớn. Khi thấy dấu chân của đức Phật vĩ đại, bậc có sự thông suốt, người ta suy luận mà biết vị ấy sẽ là tột bậc. người ta suy luận mà biết: khi thấy các con thú nhỏ sợ hãi, đó là vì tiếng của thú chúa. Các con thú nhỏ này sợ hãi Cũng vậy, khi thấy các ngoại đạo bối rối, tâm sợ hãi, bằng suy luận nên biết đó là tiếng rống của đấng Pháp Vương. Khi thấy trái đất đã nguội mát, xanh tươi, nhiều nước, người ta suy luận mà biết trái đất đã được đám mưa lớn làm nguội. Cũng vậy, khi thấy người này vui mừng, hớn hở, bằng suy luận nên biết người ấy đã được thỏa mãn bởi cơn mưa Chánh Pháp. Khi thấy bụi bặm kết dính, bùn lầy, mặt đất trở nên lầy lội ẩm ướt, người ta suy luận mà biết có một khối nước lớn đã tràn đến. Cũng vậy, khi thấy người này bị lấm lem bởi bụi và bùn, đã được đưa đến dòng sông Chánh Pháp, đã được chuyển đến biển cả Chánh Pháp. đã đi đến Bất Tử của Chánh Pháp — khi thấy quả đất này cùng chư Thiên bằng suy luận nên biết có Pháp uẩn vĩ đại đã tràn đến. người ta suy luận mà biết: khi ngửi thấy mùi hương tối thượng, hương này bay đến như thế nào, thì sẽ có những cây đã trổ hoa như thế ấy. Cũng vậy, hương giới đức này bay khắp thế gian gồm cả chư Thiên; bằng suy luận nên biết là có đức Phật vô thượng.

Tâu đại vương, có thể chỉ ra Phật lực bằng một trăm lý do, một ngàn lý do, một trăm nguyên nhân, một ngàn nguyên nhân, một trăm đường lối, một ngàn đường lối, một trăm ví dụ, một ngàn ví dụ. Tâu đại vương, giống như một người làm tràng hoa thiện xảo, từ một đống hoa nhiều loại, theo sự chỉ dạy của thầy, bằng công việc của chính mình, tạo thành một đống tràng hoa đủ kiểu đủ màu; cũng vậy, tâu đại vương, đức Thế Tôn ấy có đức hạnh vô biên, đức hạnh vô lượng, như một đống hoa đủ màu sắc. Còn tôi, giờ đây trong giáo pháp của đấng Chiến Thắng, như người làm tràng hoa, người kết hoa — theo đường lối của các vị thầy đi trước, bằng sức trí tuệ của mình, và bằng vô số lý do — sẽ chỉ ra Phật lực bằng sự suy luận. Vậy trong việc này, đại vương hãy sinh khởi ước muốn lắng nghe.”

“Thưa ngài Nāgasena, thật khó cho người khác chỉ ra Phật lực bằng sự suy luận với lý do như thế này. Thưa ngài Nāgasena, trẫm đã được thỏa mãn bởi sự giải thích câu hỏi vô cùng đa dạng của ngài.” Câu hỏi suy luận là thứ nhất.