Ký sự về trưởng lão Jātipūjaka
Trưởng lão Jātipūjaka kể: khi đức Phật Vipassī đản sinh, ánh sáng bao la xuất hiện, quả đất cùng biển cả núi non rung động; các nhà tiên tri dự báo đức Phật sẽ xuất hiện và tiếp độ dân chúng. Nghe vậy, ông làm lễ cúng dường đản sinh với tâm tịnh tín rồi mệnh chung tại đó. Nhờ quả của lễ cúng ấy, ở mọi cõi sinh ông đều vượt trội chúng sinh, các vú nuôi không thể làm ông nổi giận, và trong chín mươi mốt kiếp ông không biết khổ cảnh. Bài này kết thúc phẩm Mahāparivāra với kệ tóm lược mười trưởng lão, chín mươi câu kệ.
Điểm thực hànhViệc cúng dường ngay từ ngày đản sinh của bậc giác ngộ đã gieo hạt từ rất sớm; điều lành làm với tâm tịnh tín theo ta qua mọi kiếp sinh.
Trưởng Lão Ký Sự Phẩm Mahāparivāra Jātipūjaka
có nguồn ánh sáng bao la đã xuất hiện.
Và quả địa cầu cùng với biển cả và núi non
đã rúng động.
Khi đấng Vipassī đản sinh, có nguồn sáng bao la xuất hiện. Và quả đất đã rung động, cùng với biển cả và núi non.
“Đức Phật, bậc cao cả đối với tất cả chúng sanh, sẽ xuất hiện ở thế gian
bậc cao cả đối với tất cả chúng sanh,
và sẽ tiếp độ dân chúng.”
Các nhà tiên tri dự báo rằng: “Đức Phật sẽ xuất hiện ở thế gian, bậc cao cả nhất đối với mọi chúng sinh, và sẽ tiếp độ dân chúng.”
tôi đã thực hiện việc cúng dường đản sanh.
Không có sự cúng dường nào như là
sự cúng dường đản sanh.
Nghe lời các nhà tiên tri rồi, tôi làm lễ cúng dường đản sinh. Không có lễ cúng dường nào bằng lễ cúng dường đản sinh.
tôi đã làm cho tâm của mình được tịnh tín.
Sau khi thực hiện việc cúng dường đản sanh,
tôi đã mệnh chung ở tại nơi ấy.
Làm việc lành rồi, tôi làm tâm mình tịnh tín. Làm lễ cúng dường đản sinh xong, tôi mệnh chung ngay tại nơi ấy.
dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại,
tôi vượt trội tất cả chúng sanh;
điều này là quả báu của việc cúng dường đản sanh.
Sinh vào cõi nào đi nữa, dù là Thiên nhân hay loài người, tôi vượt trội mọi chúng sinh; đây là quả của lễ cúng dường đản sinh.
thuận theo năng lực tâm của tôi,
những người ấy không thể nào làm tôi nổi giận;
điều này là quả báu của việc cúng dường đản sanh.
Các vú nuôi chăm sóc tôi, thuận theo ý của tâm tôi, họ không thể làm tôi nổi giận; đây là quả của lễ cúng dường đản sinh.
Kể từ khi tôi đã thực hiện việc cúng dường
tôi không còn biết đến khổ cảnh;
điều này là quả báu của việc cúng dường đản sanh.
Chín mươi mốt kiếp trước, từ khi tôi làm lễ cúng dường ấy, tôi không còn biết đường dữ; đây là quả của lễ cúng dường đản sinh.
ba mươi bốn vị thống lãnh dân chúng
Trước đây vào kiếp thứ ba,
đã là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
Cùng tên Supāricāriya, ba mươi bốn vị thống lãnh dân chúng, vào kiếp thứ ba trước đây, là các Chuyển Luân Vương có oai lực lớn.
tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng;
tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Bốn tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí, tôi đã chứng đắc; tôi đã làm theo lời dạy của đức Phật.”
Trưởng lão Jātipūjaka đã nói những lời kệ ấy như vậy. Ký sự về trưởng lão Jātipūjaka là phần thứ mười. Phẩm Mahāparivāra là phẩm thứ mười hai. Phần Tóm Lược:
vị nương nhờ, vị có chỗ ngồi, vị dâng bông hoa,
vị cúng dường lễ hỏa táng, vị suy tưởng về đức Phật,
vị chỉ đường, vị có sự phục vụ, vị với sự đản sanh;
(tổng cộng) có chín mươi câu kệ đã được nói lên
và đã được tính đếm bởi các bậc trí.
Vị có tùy tùng, vị Sumaṅgala, vị nương nhờ, vị có chỗ ngồi, vị dâng hoa, vị cúng dường lễ hỏa táng, vị tưởng niệm đức Phật, vị chỉ đường, vị phục vụ, vị cúng dường đản sinh; tổng cộng chín mươi câu kệ đã được nói lên, và được các bậc trí tính đếm.