Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Milinda & Apadāna › Ký sự về trưởng lão Abhaya

Ký sự về trưởng lão Abhaya

Abhayattheraapadāna · THA-AP549 · 122 đoạn

Trưởng lão Abhaya kể tiền thân: là con trai một Bà-la-môn ở thành Haṁsavatī, thông suốt các bộ Vệ-đà, ông nghe đức Phật Padumuttara thuyết pháp không một lời thừa hay lạc đề nên xuất gia, soạn bốn bài kệ tán dương Ngài và thuyết giảng suốt đời. Nhờ phước tán dương, suốt một trăm ngàn kiếp ông không rơi vào khổ cảnh; kiếp cuối ông là con vua Bimbisāra, bị bạn xấu và ngoại đạo dẫn lệch, nhưng khi đến hỏi đức Phật ông đã xuất gia và chứng A-la-hán.

Điểm thực hành

Hãy học như Abhaya: nghe pháp cho kỹ, nhận ra lời dạy không thừa không thiếu, rồi đem điều thiện mình thấy mà tán dương và chia sẻ cho người khác suốt đời.

Trưởng Lão Ký Sự Phẩm Bhaddiya Abhaya

vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara,
bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp
Trước đây một trăm ngàn kiếp,
đã hiện khởi.
Đức Như Lai giúp cho người an
trú vào việc đi đến nương nhờ,
giúp cho người an trú vào giới, vào mười đường lối tối
thượng về (thiện) nghiệp.
Đấng Đại Hùng ấy ban cho người quả vị Sa-môn
tối thượng.
Tương tợ như thế Ngài ban phát tám
sự thể nhập (thiền) và ba minh.
Bậc Tối Thượng Nhân giúp
cho chúng sanh gắn bó vào sáu thắng trí.
Bậc Bảo Hộ ấy ban cho
người bốn pháp phân tích
Sau khi nhìn thấy người có khả năng giác ngộ
dầu (ở xa) vô số do-tuần,
đấng Điều Phục Nhân trong phút chốc
vẫn đi đến gặp và hướng dẫn.
Lúc bấy giờ, tôi đã là con trai của
vị Bà-la-môn ở thành Haṁsavatī, là người thông suốt
tất cả các bộ Vệ-đà, được công nhận về
(khả năng) giảng giải.
Được thiện xảo về ngôn từ, và tự tin về từ đồng nghĩa,
là người rõ về cú pháp,
hiểu biết về nghi lễ, rành rẽ về việc kết hợp
âm điệu thi ca.
Trong khi đi bộ lang thang tôi đã đi đến
tu viện Haṁsa.
Tôi đã nhìn thấy bậc hàng đầu trong số các vị đang thuyết giảng,
được đám đông dân chúng ái mộ.
Trong khi Ngài đang thuyết giảng Giáo Pháp không bị ô nhiễm,
(dầu) có sự hiểu
biết trái nghịch tôi đã đi đến và đã lắng
nghe những lời nói không bị bợn nhơ của Ngài.
Tôi đã không nhìn thấy lời đã được
nói ra của bậc Hiền Trí ấy là
bị lập lại, lạc đề, hoặc không có ý nghĩa;
do đó tôi đã xuất gia.
Trong thời gian không bao lâu, được tự tin
về tất cả các học thuật,
tôi đã được công nhận bởi tập thể là
vị thông thạo về lời dạy của đức Phật.
Khi ấy, tôi đã sáng tác bốn câu kệ có
sự diễn tả khéo léo.
Tôi đã ngợi ca bậc Cao Cả của tam
giới và tôi đã diễn giảng ngày này qua ngày khác:
“Bạch đấng Đại Hùng,
Ngài không bị ái luyến trong khi sống trong luân hồi (đầy) sự kinh hãi.
Vì lòng bi mẫn Ngài đã không Niết Bàn;
do đó bậc Hiền Trí là đấng Bi Mẫn.
Người nào dầu còn là phàm nhân mà đã không
bị sự chi phối của phiền não, có sự nhận biết mình,
được gắn liền với niệm;
do đó người này là không thể nghĩ bàn.
Đối với người nào các phiền não ở trạng
thái ngủ ngầm đã trở nên yếu ớt,
đã bị thiêu đốt bởi
ngọn lửa trí tuệ mà không bị cạn kiệt, điều ấy là kỳ diệu.
Vị nào là thầy của tất cả thế gian và thế
gian tôn kính như thế đối với vị nào, cũng tương tợ như vậy vị
nào là thầy dạy của thế gian,
thế gian là xu hướng theo vị ấy.”
Trong khi tán dương đấng Toàn Giác như thế,
tôi ngợi ca đấng Toàn Giác và thuyết giảng Giáo Pháp,
Sau khi thực hiện việc thuyết giảng Giáo Pháp đến hết cuộc đời,
từ nơi ấy chết đi tôi đã đi đến cõi trời.
Kể từ khi tôi đã tán dương
đức Phật cho đến một trăm ngàn kiếp,
tôi không còn biết đến khổ cảnh;
điều này là quả báu của việc tán dương.
Ở thế giới chư Thiên, tôi đã cai
quản vương quốc rộng lớn và vùng địa phận.
Là đấng Chuyển Luân Vương,
tôi đã thường xuyên thọ hưởng vương quốc rộng lớn.
Tôi (đã) được sanh ra ở hai cảnh
giới trong bản thể Thiên nhân và loài người,
tôi không biết đến cõi tái sanh khác;
điều này là quả báu của việc tán dương.
Tôi (đã) được sanh ra ở hai gia tộc,
Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn,
tôi không biết đến gia tộc hạ tiện;
điều này là quả báu của việc tán dương.
Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay,
tôi là con trai của
đức vua Bimbisāra ở tại
kinh thành Giribbajja và có tên là Abhaya.
Sau khi rơi vào sự ảnh hưởng của bạn xấu,
tôi đã bị mê muội vì ngoại đạo.
Được phái đi bởi (Giáo chủ) Nātaputta, tôi đã đi đến
gặp đức Phật tối thượng.
Tôi đã hỏi câu hỏi khôn khéo và đã lắng nghe
lời giảng giải xuất chúng. Tôi đã xuất gia,
chẳng bao lâu tôi đã thành
tựu phẩm vị A-la-hán.
Sau khi tán dương đấng Chiến Thắng cao quý,
tôi được ca ngợi vào mọi lúc. Với thân hình và khuôn
mặt có hương thơm ngát,
tôi đã đạt được sự an lạc.
Tôi có được tuệ sắc bén,
tuệ vi tiếu, tuệ nhẹ nhàng và
tuệ vĩ đại tương tợ y như thế,
và tôi có tài biện giải đa dạng nhờ vào tác động của nghiệp ấy.
Với tâm tịnh tín,
sau khi ngợi ca danh xưng (của đức Phật) Padumuttara, đấng Tự Chủ,
không người sánh bằng, tôi (đã) không đi đến khổ cảnh trong một
trăm ngàn kiếp nhờ vào quả báu của nghiệp ấy.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt,
tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói),
tôi sống không còn lậu hoặc.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn,
đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
đã thực hành lời dạy đức Phật
Bốn (tuệ) phân tích,
tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng;
tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Nghĩa là

vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp Trước đây một trăm ngàn kiếp, đã hiện khởi. Một số người trong việc đi đến nương nhờ, Đức Như Lai đã an lập; giúp cho người an trú vào giới, vào mười đường lối tối thượng về (thiện) nghiệp. Đấng Đại Hùng ấy ban cho người quả vị Sa-môn tối thượng. Tương tợ như thế Ngài ban phát tám sự thể nhập (thiền) và ba minh. Bậc Tối Thượng Nhân giúp cho chúng sanh gắn bó vào sáu thắng trí. Bậc Bảo Hộ ấy ban cho người bốn pháp phân tích Sau khi nhìn thấy người có khả năng giác ngộ dầu (ở xa) vô số do-tuần, đấng Điều Phục Nhân trong phút chốc vẫn đi đến gặp và hướng dẫn. Lúc bấy giờ, ở thành Haṁsavatī, tôi là con trai của vị Bà-la-môn, tất cả các bộ Vệ-đà, được công nhận về (khả năng) giảng giải. Được thiện xảo về ngôn từ, và tự tin về từ đồng nghĩa, là người rõ về cú pháp, hiểu biết về nghi lễ, rành rẽ về việc kết hợp âm điệu thi ca. Trong khi đi bộ lang thang tôi đã đi đến tu viện Haṁsa. Tôi đã nhìn thấy bậc hàng đầu trong số các vị đang thuyết giảng, được đám đông dân chúng ái mộ. Trong khi Ngài đang thuyết giảng Giáo Pháp không bị ô nhiễm, (dầu) có sự hiểu biết trái nghịch tôi đã đi đến và đã lắng nghe những lời nói không bị bợn nhơ của Ngài. lời đã được nói ra bị lập lại, lạc đề, hoặc không có ý nghĩa; tôi đã không nhìn thấy của bậc Hiền Trí ấy; do đó tôi đã xuất gia. Trong thời gian không bao lâu, được tự tin về tất cả các học thuật, vị thông thạo về lời dạy của đức Phật tôi đã được công nhận bởi tập thể. Khi ấy, tôi đã sáng tác bốn câu kệ có sự diễn tả khéo léo. Tôi đã ngợi ca bậc Cao Cả của tam giới và tôi đã diễn giảng ngày này qua ngày khác: Bạch đấng Đại Hùng, Ngài không bị ái luyến trong khi sống trong luân hồi (đầy) sự kinh hãi. Vì lòng bi mẫn Ngài đã không Niết-bàn; do đó bậc Hiền Trí là đấng Bi Mẫn. Người nào dầu còn là phàm nhân mà đã không bị sự chi phối của phiền não, có sự nhận biết mình, được gắn liền với niệm; do đó người này là không thể nghĩ bàn. Đối với người nào các phiền não ở trạng thái ngủ ngầm đã trở nên yếu ớt, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ mà không bị cạn kiệt, điều ấy là kỳ diệu. Vị nào là thầy của tất cả thế gian và thế gian tôn kính như thế đối với vị nào, cũng tương tợ như vậy vị nào là thầy dạy của thế gian, thế gian là xu hướng theo vị ấy. Trong khi tán dương đấng Toàn Giác như thế, ngợi ca sự thuyết giảng Giáo Pháp, Sau khi thực hiện việc thuyết giảng Giáo Pháp đến hết cuộc đời, từ nơi ấy chết đi tôi đã đi đến cõi trời. Từ một trăm ngàn kiếp về trước, đức Phật mà tôi đã tán dương, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả của việc tán dương. Ở thế giới chư Thiên, tôi đã cai quản vương quốc rộng lớn và vùng địa phận. Là đấng Chuyển Luân Vương, tôi đã thường xuyên thọ hưởng vương quốc rộng lớn. Tôi (đã) được sanh ra ở hai cảnh giới trong bản thể Thiên nhân và loài người, tôi không biết đến cõi tái sanh khác; điều này là quả của việc tán dương. Tôi (đã) được sanh ra ở hai gia tộc, Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn, tôi không biết đến gia tộc hạ tiện; điều này là quả của việc tán dương. Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi là con trai của đức vua Bimbisāra ở tại kinh thành Giribbajja và có tên là Abhaya. Sau khi rơi vào sự ảnh hưởng của bạn xấu, tôi đã bị mê muội vì ngoại đạo. Được phái đi bởi (Giáo chủ) Nātaputta, tôi đã đi đến gặp đức Phật tối thượng. Tôi đã hỏi câu hỏi khôn khéo và đã lắng nghe lời giảng giải xuất chúng. Tôi đã xuất gia, chẳng bao lâu tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán. Sau khi tán dương đấng Chiến Thắng cao quý, tôi được ca ngợi vào mọi lúc. Với thân hình và khuôn mặt có hương thơm ngát, tôi đã đạt được sự an lạc. Tôi có được tuệ sắc bén, tuệ vi tiếu, tuệ nhẹ nhàng và tuệ vĩ đại tương tợ y như thế, và tôi có tài biện giải đa dạng nhờ vào tác động của nghiệp ấy. Sau khi ngợi ca đức Padumuttara, tôi, với tâm tịnh tín, hướng đến đấng Tự Chủ, không người sánh bằng, tôi (đã) không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp nhờ vào quả của nghiệp ấy. Các phiền não của tôi đã bị thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng. đã thực hành lời dạy đức Phật Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí tôi đã chứng đắc; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Trưởng lão Abhaya đã nói những lời kệ ấy như vậy. Ký sự về trưởng lão Abhaya, bài thứ 7.