Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Milinda & Apadāna › Ký sự về Udakadāyikā

Ký sự về Udakadāyikā

Udakadāyikātherīapadāna · THI-AP10 · 72 đoạn

Udakadāyikā là cô gái gánh nước thuê ở thành Bandhumatī, nghèo đến mức không có vật gì đáng giá để dâng cúng ruộng phước cao quý nhất, nên bà cung cấp nước tại bể chứa. Nhờ việc lành ấy, bà sinh lên cõi trời Đạo Lợi, có cung điện riêng, làm chánh hậu của năm mươi vua trời và hai mươi vua chuyển luân, muốn nước là có ngay, và suốt chín mươi mốt kiếp không biết đến cảnh khổ.

Điểm thực hành

Không có của cải cũng không sao — hãy bố thí đúng thứ mình đang có, như nước cho người khát; việc lành vừa sức mà làm với tâm thành vẫn sinh quả lớn.

Trưởng Lão Ni Ký Sự Phẩm Sumedhā Ký sự về trưởng lão ni Udakadāyikā

Ở thành phố Bandhumatī,
tôi đã là cô gái đội nước.
Tôi sống nhờ vào việc đội nước.
Nhờ vào việc ấy, tôi nuôi dưỡng các đứa trẻ.
Và tôi không có gì xứng đáng để dâng cúng
đến phước điền vô thượng.
Tôi đã đi đến bể chứa
và đã cung cấp nước.
Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp,
tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
Ở nơi ấy, có cung điện đã được kiến tạo khéo léo,
đã được hóa hiện ra dành cho tôi do (công đức của) việc đội nước.
của một ngàn tiên nữ,
Khi ấy, chính tôi là người đứng đầu
cùng với mười khu vực.
tôi luôn luôn cai quản tất cả các nàng ấy
của năm mươi vị Thiên Vương.
Tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của năm mươi vị Thiên Vương.
của hai mươi đấng Chuyển Luân Vương.
Tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của hai mươi đấng Chuyển Luân Vương.
Tôi (đã) luân hồi trong hai cảnh giới,
ở bản thể chư Thiên và nhân loại.
Tôi không còn biết đến khổ cảnh;
điều này là quả báu của việc bố thí nước.
Cho dù ở đỉnh núi hoặc ở ngọn cây,
ở trên không trung và ở trên mặt đất,
khi nào tôi ước muốn về nước
thì tôi đạt được ngay lập tức.
Không có phương nào là không có mưa,
và không bị nóng bức hoặc bị thiêu đốt;
sau khi biết được ý định của tôi
đám mây lớn (sẽ) đổ mưa xuống.
Lúc bấy giờ, vào một lần nào đó
trong khi tôi được tập thể quyến thuộc dẫn đi,
khi nào tôi muốn mưa
thì khi ấy đám mây lớn đổ mưa xuống.
Sự nóng nực hoặc bực bội
không được biết đến ở cơ thể của tôi,
và bụi bặm không có ở trên thân thể của tôi;
điều này là quả báu của việc bố thí nước.
Hiện nay, do tâm ý thanh tịnh,
các ác pháp đã lìa,
tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt,
giờ đây không còn tái sanh nữa.
trước đây chín mươi mốt kiếp,
Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy
tôi không còn biết đến khổ cảnh;
điều này là quả báu của việc bố thí nước.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt,
tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói),
tôi sống không còn lậu hoặc.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn,
đã thành tựu tam minh,
đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
Bốn (tuệ) phân tích,
tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng;
tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Nghĩa là

Ở thành Bandhumatī, tôi là cô gái đội nước thuê; Tôi sống bằng nghề đội nước, nhờ đó nuôi dưỡng các con. Tôi không có gì đáng giá để dâng cúng cho ruộng phước cao quý nhất; Tôi đến bể chứa nước và cung cấp nước ở đó. Nhờ nghiệp ấy được làm tốt đẹp, tôi sinh lên cõi trời Đạo Lợi. Ở đó, một cung điện được dựng khéo cho tôi, hóa hiện ra nhờ công đức của việc đội nước. Của một ngàn tiên nữ, khi ấy chính tôi là người đứng đầu; bằng mười phương diện, đối với tất cả các nàng, tôi luôn vượt hơn hẳn. Của năm mươi vị vua trời; tôi được lập làm chánh hậu của các vị ấy. Của hai mươi vị vua chuyển luân; tôi được lập làm chánh hậu của các vị ấy. Tôi luân hồi trong hai cảnh giới, cõi trời và cõi người. Tôi không còn biết đến cảnh khổ; đây là quả của việc bố thí nước. Dù ở đỉnh núi hay ngọn cây, ở trên không trung hay trên mặt đất, khi nào tôi muốn nước thì lập tức có được. Không nơi nào thiếu mưa cho tôi, cũng không nơi nào nắng gắt hay thiêu đốt; biết được ý muốn của tôi, đám mây lớn liền đổ mưa xuống. Có một lần, khi ấy, trong lúc họ hàng cùng đi với tôi, khi nào tôi muốn mưa thì đám mây lớn liền đổ mưa. Cái nóng nực hay oi bức không hề có trên thân thể tôi, bụi bặm cũng không bám trên thân tôi; đây là quả của việc bố thí nước. Nay tâm ý tôi trong sạch, các điều ác đã rời bỏ, mọi lậu hoặc đã cạn sạch, giờ đây không còn tái sinh nữa. Từ chín mươi mốt kiếp trước, khi tôi làm việc bố thí nước ấy, tôi không còn biết đến cảnh khổ; đây là quả của việc bố thí nước. Mọi phiền não của tôi đã được đốt sạch, mọi cảnh giới sinh tử đã bị nhổ sạch; như voi cái bứt đứt dây trói, tôi sống không còn lậu hoặc. Tôi đã thật may mắn được đến, đã đạt được ba minh, đã làm theo lời Phật dạy, trước mặt đức Phật cao quý nhất. Bốn tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí đã được tôi chứng đắc; tôi đã làm theo lời Phật dạy.

Tỷ-kheo-ni Udakadāyikā đã nói những bài kệ này như thế. Ký sự về trưởng lão ni Udakadāyikā — phần thứ mười. Phẩm Sumedhā là phẩm đầu tiên. Phần tóm lược của phẩm ấy:

Vị ni Sumedhā, cô gái dâng dây nịt,
dâng cúng mái che, và con đường đi,
cô gái có tràng hoa sậy, cô gái thí vật thực,
muỗng (thức ăn), và cô gái dâng cúng đóa sen xanh,
cô gái dâng các ngọn đèn, và luôn cả cô gái bố thí nước.
Các câu kệ ngôn đã được tính đếm ở đây là
một trăm câu kệ ngôn
và ba mươi câu thêm vào đó nữa.

Nghĩa là

Sumedhā, người dâng dây đai, người dâng mái che và con đường đi, người có tràng hoa sậy, người cho vật thực, người cho chiếc muỗng và người dâng hoa sen xanh, người dâng đèn và người bố thí nước; các bài kệ đã được đếm ở đây: một trăm bài kệ và thêm ba mươi bài nữa.