Ký sự về trưởng lão Ekadhammasavaṇiya
Trưởng lão Ekadhammasavaṇiya kể: khi là đạo sĩ tóc bện bay trên hư không, ông không thể bay qua phía trên đức Phật Padumuttara, liền đáp xuống và tình cờ nghe Ngài thuyết về vô thường — chỉ một pháp ấy. Ông ghi nhớ nhận biết vô thường suốt nhiều kiếp; đến kiếp cuối, nghe lại câu kệ vô thường lúc bảy tuổi, ông nhớ lại và chứng quả A-la-hán ngay tại chỗ ngồi.
Điểm thực hànhChỉ nghe một pháp thoại về vô thường với tâm chú ý cũng có thể theo ta qua nhiều kiếp và chín muồi thành giải thoát; hãy nghe Pháp cho thật kỹ, dù chỉ một bài.
Trưởng Lão Ký Sự Phẩm Sakiṁsammajjaka Ekadhammasavaṇiya
bậc thông suốt về tất cả các pháp,
trong khi công bố về bốn Sự Thật
đã giúp cho nhiều người vượt qua.
Vào lúc bấy giờ,
tôi là vị đạo sĩ tóc bện có sự khổ hạnh cao tột.
(vừa đi) vừa phất phơ các y phục bằng vỏ cây.
Khi ấy, tôi di chuyển ở hư không,
Tôi không thể di chuyển ở phía trên của đức Phật tối thượng.
Tôi không thể di chuyển
Như là con chim bị va vào tảng đá,
tôi không đạt được sự di chuyển.
Tợ như người đã đi vào trong nước,
tôi di chuyển ở hư không như vậy.
Sự hư hoại về các oai nghi này chưa từng xảy ra cho tôi trước đây.
Sự hư hoại về các oai nghi này
“Nào! Ta sẽ tìm hiểu việc này.
Ít ra ta cũng có thể đạt được lý do.”
Trong khi từ không trung đáp xuống,
tôi đã nghe tiếng nói của bậc Đạo Sư.
với âm điệu khích lệ,
cuốn hút, dễ nghe,
Ngài đang thuyết giảng về tính chất vô thường
tôi đã học tập chỉ có pháp ấy của Ngài.
Sau khi đã học tập sự nhận biết về vô thường,
tôi đã đi về khu ẩn cư của tôi.
Sau khi sống đến hết tuổi thọ,
tôi đã mệnh chung ở tại nơi ấy.
Khi đang ở vào thời điểm cuối cùng,
tôi đã nhớ lại sự lắng nghe về Chánh Pháp.
Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp
và do các nguyện lực của tác ý,
sau khi từ bỏ thân nhân loại
tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
Tôi đã sướng vui ở thế giới chư Thiên ba mươi ngàn kiếp.
Tôi đã sướng vui ở thế giới chư Thiên
Và tôi đã cai quản Thiên quốc năm mươi mốt lần.
tôi đã cai quản Thiên quốc
Và tôi đã là đấng Chuyển Luân Vương hai mươi mốt lần.
tôi đã là đấng Chuyển Luân Vương
Lãnh thổ vương quốc là bao la,
không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
Tôi đã thọ hưởng phước báu của chính mình,
tôi đã được sung sướng ở cõi này cõi khác.
tôi đã nhớ lại sự suy tưởng (về vô thường) ấy.
Trong khi luân hồi ở cõi này cõi khác,
Tôi không thấu triệt điểm cốt yếu
là Niết Bàn, vị thế Bất Tử.
Sau khi ngồi xuống ở căn nhà của người cha,
vị Sa-môn có giác quan đã được tu tập,
trong khi giải thích về câu kệ ngôn,
đã đề cập đến tính chất vô thường:
“Quả vậy, các pháp hữu vi là vô thường,
có pháp sanh và diệt,
sau khi sanh lên chúng hoại diệt,
sự tịnh lặng của chúng là an lạc.”
Sau khi lắng nghe câu kệ,
tôi đã nhớ lại sự suy tưởng trước đây.
Sau khi ngồi ở ngay chỗ ngồi ấy,
tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh,
tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
Đức Phật đã cho (tôi) tu lên bậc trên;
điều này là quả báu của việc lắng nghe Giáo Pháp.
Kể từ khi tôi đã lắng nghe Giáo Pháp trước đây một trăm ngàn kiếp,
tôi đã lắng nghe Giáo Pháp
tôi không còn biết đến khổ cảnh;
điều này là quả báu của việc nghe Giáo Pháp.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt,
tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói),
tôi sống không còn lậu hoặc.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn,
đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
đã thực hành lời dạy đức Phật
Bốn (tuệ) phân tích,
tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng;
tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Nghĩa là
Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt tất cả các pháp, đang công bố bốn Sự Thật, đã giúp nhiều người vượt qua. Vào lúc bấy giờ, tôi là đạo sĩ tóc bện, khổ hạnh cao tột; vừa phất phơ các y phục bằng vỏ cây, khi ấy tôi bay đi ở hư không. Ở phía trên đức Phật cao nhất, tôi không thể bay qua; Như con chim va vào tảng đá, tôi không bay tiếp được. Như người đã bước vào trong nước, tôi bay ở hư không như vậy. Điều này chưa từng xảy ra với tôi trước đây; sự hư hoại về oai nghi này. “Nào! Ta sẽ tìm hiểu việc này. Ít ra ta cũng có thể đạt được lý do.” Đang từ không trung đáp xuống, tôi nghe tiếng nói của bậc Đạo Sư. Với âm điệu khích lệ, cuốn hút, dễ nghe, Ngài đang thuyết giảng về tính vô thường, tôi đã học lấy duy nhất pháp ấy của Ngài. Sau khi học lấy nhận biết về vô thường, tôi đi về khu ẩn cư của tôi. Sau khi sống hết tuổi thọ, tôi mệnh chung tại nơi ấy. Khi đang ở vào lúc cuối cùng, tôi nhớ lại việc lắng nghe Chánh Pháp. Nhờ nghiệp ấy đã làm tốt đẹp, và nhờ nguyện lực của tác ý, sau khi bỏ thân người, tôi đi đến cõi trời Đạo Lợi. Ba mươi ngàn kiếp, tôi vui sướng ở thế giới chư Thiên; Năm mươi mốt lần, tôi cai quản Thiên quốc. Hai mươi mốt lần, tôi là Chuyển Luân Vương; Vương quốc rộng lớn, không đếm xuể. Tôi thọ hưởng phước báu của chính mình, tôi được sung sướng ở cõi này cõi khác. tôi nhớ lại sự suy tưởng về vô thường ấy; đang luân hồi ở cõi này cõi khác, Tôi không thấu triệt được cốt lõi, là Niết-bàn, vị thế bất tử. Sau khi ngồi xuống ở nhà của người cha, vị Sa-môn có các căn đã được tu tập, đang giải thích về câu kệ, đã đề cập đến tính vô thường: “Quả vậy, các pháp hữu vi là vô thường, có tính sinh và diệt, sinh lên rồi chúng hoại diệt, sự lắng lặng của chúng là an lạc.” Sau khi nghe câu kệ, tôi nhớ lại sự suy tưởng trước đây. Sau khi ngồi ngay tại chỗ ngồi ấy, tôi thành tựu quả A-la-hán. Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sinh, tôi thành tựu quả A-la-hán. Đức Phật đã cho tôi thọ giới cụ túc; đó là quả của việc lắng nghe Giáo Pháp. Một trăm ngàn kiếp trước, khi tôi lắng nghe Giáo Pháp, việc nghe Pháp tôi đã nghe khi ấy, tôi không còn biết đến đường dữ; đó là quả của việc nghe Giáo Pháp. Các phiền não của tôi đã bị thiêu đốt, mọi kiếp sống đã dứt sạch; như voi đực bứt đứt dây trói, tôi sống không còn lậu hoặc. Quả thật, tôi đã thành công tốt đẹp, trước mặt đức Phật cao nhất, tôi đã đạt ba minh; tôi đã làm theo lời dạy của đức Phật. Bốn tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí, tôi đã chứng đắc; tôi đã làm theo lời dạy của đức Phật.
Trưởng lão Ekadhammasavaṇiya đã nói những lời kệ ấy như vậy. Ký sự về trưởng lão Ekadhammasavaṇiya, bài thứ 7.