Ký sự về trưởng lão Yūthikāpupphiya
Trưởng lão Yūthikāpupphiya kể vắn tắt: đức Phật Padumuttara rời rừng lớn và đi đến trú xá; ông cầm bông hoa yūthika tối thượng bằng cả hai tay và dâng lên Ngài, bậc có tâm từ ái. Nhờ sự tịnh tín ấy, ông thọ hưởng sự thành tựu và trong một trăm ngàn kiếp không bị sinh vào khổ cảnh, từng làm Chuyển Luân Vương Samittanandana. Bài này kết thúc phẩm Tamālapupphiya — phẩm thứ hai mươi — kèm phần tóm lược các phẩm của nhóm một trăm thứ hai: mười phẩm, sáu trăm sáu mươi sáu câu kệ.
Điểm thực hànhNâng bông hoa yūthika tối thượng bằng cả hai tay dâng lên bậc có tâm từ ái — hai tay nâng hoa là hình ảnh của lòng tôn kính trọn vẹn; bài này khép lại phẩm thứ hai mươi và cả nhóm một trăm thứ hai.
Trưởng Lão Ký Sự Phẩm Tamālapupphiya Yūthikāpupphiya
vị thọ nhận các vật hiến cúng,
bậc Hữu Nhãn đã rời khỏi khu rừng bao la
và đã đi đến trú xá.
Sau khi cầm lấy bông hoa yūthika tối thượng bằng cả hai tay,
bông hoa yūthika tối thượng
tôi đã dâng lên đức Phật,
bậc có tâm từ ái như thế ấy.
Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm,
tôi đã thọ hưởng sự thành tựu
trong một trăm ngàn kiếp.
và đã không bị sanh vào khổ cảnh
Trước đây năm mươi kiếp,
tôi đã là người độc nhất thống lãnh dân chúng
tên Samittanandana,
là đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
Bốn (tuệ) phân tích,
tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng;
tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Nghĩa là
Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc xứng thọ nhận các vật hiến cúng, bậc Hữu Nhãn rời khỏi rừng lớn, và đi đến trú xá. Cầm bông hoa yūthika tối thượng bằng cả hai tay rồi, bông hoa yūthika tối thượng (ấy) tôi dâng lên đức Phật, bậc có tâm từ ái như thế ấy. Nhờ sự tịnh tín ấy trong tâm, tôi đã thọ hưởng sự thành tựu, Suốt một trăm ngàn kiếp, và không bị sinh vào đường dữ Năm mươi kiếp trước, tôi là người duy nhất thống lãnh dân chúng, tên Samittanandana, là Chuyển Luân Vương có oai lực lớn. Bốn tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí, tôi đã chứng đắc; tôi đã làm theo lời dạy của đức Phật.”
Trưởng lão Yūthikāpupphiya đã nói những lời kệ ấy như vậy. Ký sự về trưởng lão Yūthikāpupphiya là phần thứ mười. Phẩm Tamālapupphiya là phẩm thứ hai mươi. Phần Tóm Lược:
vị khám phá sự đổ vỡ, vị liên quan đến bông hoa asoka,
vị có bông hoa aṅkola, chồi non,
trái cây tinduka, các bông hoa nela,
vị có bông hoa kiṅkaṇi, vị có bông hoa yūthikā;
(tổng cộng) có năm mươi tám câu kệ.
Nghĩa là
Vị có hoa tamāla, vị thảm trải bằng cỏ, vị tu sửa chỗ đổ vỡ, vị có hoa asoka, vị có hoa aṅkola, vị chồi non, vị trái cây tinduka, vị các bông hoa nela, vị có hoa kiṅkaṇi, vị có hoa yūthikā; tổng cộng có năm mươi tám câu kệ.
Giờ là phần tóm lược của các phẩm:
bông hoa sereyya, trưởng lão Sobhita là tương tợ,
vị có chiếc lọng che, bông hoa bandhujīva,
và luôn cả vị có sự phục vụ khéo léo,
bông hoa kumuda, bông hoa kuṭaja,
và luôn cả vị có bông hoa tamāla đã được thực hiện là thứ mười.
Có sáu trăm câu kệ
và sáu mươi sáu câu thêm vào đó.
Nghĩa là
Phẩm vị dâng cúng thức ăn, phẩm đoàn tùy tùng, phẩm hoa sereyya, phẩm Sobhita cũng vậy, phẩm chiếc lọng, phẩm hoa bandhujīva, và cả phẩm vị có sự phục vụ khéo léo, Phẩm hoa kumuda, phẩm hoa kuṭaja, và phẩm hoa tamāla là phẩm thứ mười. Có sáu trăm câu kệ, và sáu mươi sáu câu thêm vào đó.
Nhóm “Mười” từ phẩm Bhikkhā. Nhóm “Một Trăm” thứ hai đã đầy đủ.