Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Milinda & Apadāna › Câu hỏi về Chaddanta và Jotipāla

Câu hỏi về Chaddanta và Jotipāla

6. Chaddantajotipālārabbhapañha · MIL5.5.6 · 26 đoạn

Vua Milinda hỏi: kiếp làm voi chúa Chaddanta, Bồ-tát dù đang đau đớn vẫn tôn kính tấm y ca-sa của kẻ thợ săn; sao kiếp làm thanh niên Jotipāla, đã là người trí tuệ chín muồi, Ngài lại mắng nhiếc đức Phật Kassapa? Trưởng lão Nāgasena giải thích: Jotipāla sinh trong gia tộc Bà-la-môn không có đức tin, bị môi trường gia đình làm cho mù quáng — như thuốc trường sinh để gần thuốc độc hóa đắng, nước mát để gần lửa hóa nóng. Về sau, khi đến gần và biết ân đức của Phật, Jotipāla xuất gia, chứng các thắng trí và sinh lên cõi Phạm Thiên.

Điểm thực hành

Môi trường sống có thể làm lệch lạc cả người vốn có đức tin và trí tuệ; chọn bạn, chọn môi trường gần gũi là một phần của việc tu tập, và người từng lầm lỗi vì môi trường vẫn có thể quay đầu khi gặp được bậc thiện tri thức.

Mi-lan-đà Hỏi Đáp Phần Câu Hỏi Nan Giải Phẩm Thân Thiết 6. Câu hỏi về Chaddanta và Jotipāla “Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến khi là voi chúa Chaddanta:

Trong khi siết chặt (nghĩ rằng): Ta có thể hủy diệt gã này,
con voi đã nhìn thấy tấm y ca-sa, biểu tượng của các vị ẩn sĩ.
Con thú bị hành hạ đau khổ đã có ý tưởng sanh khởi rằng:
Biểu tượng của các vị A-la-hán là cao quý, là hình bóng không thể bị hủy diệt.

Nghĩa là

Đang ghì chặt (kẻ thợ săn, và nghĩ rằng): ‘Ta sẽ giết kẻ này’ con voi trông thấy tấm y ca-sa, lá cờ của các vị ẩn sĩ Con voi đang bị đau đớn hành hạ bỗng nảy ra ý nghĩ rằng: Lá cờ của bậc A-la-hán là điều cao quý, không ai được xâm phạm

Và Ngài còn nói rằng: ‘Khi là thanh niên Jotipāla, (Ta) đã mắng nhiếc, chê bai đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bằng những lời vô lễ, thô lỗ, gọi là kẻ trọc đầu, gọi là hạng sa-môn.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Bồ-tát, khi là loài thú, đã tôn kính tấm y ca-sa, thì lời nói rằng: ‘Đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã bị thanh niên Bà-la-môn Jotipāla mắng nhiếc, chê bai bằng những lời vô lễ, thô lỗ, gọi là kẻ trọc đầu, gọi là hạng sa-môn’ là sai trái. Nếu đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã bị thanh niên Bà-la-môn Jotipāla mắng nhiếc, chê bai bằng những lời vô lễ, thô lỗ, gọi là kẻ trọc đầu, gọi là hạng sa-môn, thì lời nói rằng: ‘Tấm y ca-sa đã được voi chúa Chaddanta tôn kính’ cũng là sai trái.

Nếu đức Bồ-tát, khi là loài thú, đang chịu đựng cảm thọ thô ráp, gay gắt, đau đớn, vẫn tôn kính tấm y ca-sa mà kẻ thợ săn khoác lên, thì tại sao khi là con người, trí tuệ đã chín muồi, sự giác ngộ đã chín muồi, sau khi nhìn thấy đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đấng Thập Lực, vị lãnh đạo thế gian, vô cùng nổi bật, hào quang một sải tay rực sáng, bậc cao quý tối thượng đang khoác tấm y ca-sa bằng vải xứ Kāsī cao quý tuyệt đẹp — ngài lại không tôn kính? Câu hỏi hai đầu này cũng đã đến với ngài; ngài hãy giải quyết nó.” “Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến khi là voi chúa Chaddanta: ‘Trong khi siết chặt (nghĩ rằng): Ta có thể hủy diệt gã này, con voi đã nhìn thấy tấm y ca-sa, biểu tượng của các vị ẩn sĩ. Con thú bị hành hạ đau khổ đã có ý tưởng sinh khởi rằng:

Biểu tượng của các vị A-la-hán là cao quý, là hình bóng không thể bị hủy diệt.’ Và thanh niên Bà-la-môn Jotipāla quả đã mắng nhiếc, chê bai đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bằng những lời vô lễ, thô lỗ, gọi là kẻ trọc đầu, gọi là hạng sa-môn. Nhưng điều ấy là do ảnh hưởng của dòng dõi, do ảnh hưởng của gia tộc. Tâu đại vương, thanh niên Bà-la-môn Jotipāla sinh ra trong một gia tộc không có đức tin, không có lòng tin. Cha mẹ, chị em, anh em, tôi trai, tớ gái, kẻ hầu, người tùy tùng của anh ta đều là những người thờ phụng đấng Phạm Thiên, kính trọng đấng Phạm Thiên. Họ cho rằng ‘chỉ các vị Bà-la-môn mới là tối thượng, cao quý nhất’ rồi chê trách, ghê tởm các vị xuất gia còn lại. Nghe những lời ấy từ họ, thanh niên Bà-la-môn Jotipāla, khi được người thợ gốm Ghaṭīkāra mời đi diện kiến đấng Đạo Sư, đã nói rằng:

‘Việc diện kiến gã sa-môn trọc đầu ấy thì có ích gì?’ Tâu đại vương, như thuốc trường sinh đặt gần thuốc độc thì trở nên đắng; và như nước mát để gần ngọn lửa thì trở nên nóng; cũng vậy, tâu đại vương, thanh niên Bà-la-môn Jotipāla sinh ra trong gia tộc không có đức tin, không có lòng tin; anh ta, mù quáng vì ảnh hưởng của gia tộc, đã mắng nhiếc, chê bai đức Như Lai. Tâu đại vương, như khối lửa lớn đã được đốt lên, đang cháy rực, có ánh sáng, khi gặp nước thì trở nên mát lạnh, đen thui, ánh sáng và sức nóng bị dập tắt, giống như trái nigguṇḍī đã chín; cũng vậy, tâu đại vương, thanh niên Bà-la-môn Jotipāla — người có phước đức, có đức tin, có ánh sáng trí tuệ bao la — sinh ra trong gia tộc không có đức tin, không có lòng tin; anh ta, mù quáng vì ảnh hưởng của gia tộc, đã mắng nhiếc, chê bai đức Như Lai. Nhưng sau khi đến gần và biết được ân đức của đức Phật, anh ta trở nên như một người hầu; rồi xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, làm sinh khởi các thắng trí và các thiền chứng, và đi đến cõi Phạm Thiên.”

“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng như vậy.” Câu hỏi về Chaddanta và Jotipāla là thứ sáu.