Ký sự tên Pubbakammapilotika
Tại hồ Anotatta, trước hội chúng Tỷ-kheo, đức Phật tự kể các nghiệp quá khứ của chính Ngài và phần dư sót còn chín muồi ngay trong kiếp cuối: các lần vu cáo bậc thánh (Phật Độc Giác Sarabhū, đệ tử Nanda, ẩn sĩ Bhīma), giết người anh em vì tài sản, ném đá Phật Độc Giác, xua voi tấn công bậc hiền trí, giết người bằng cây thương, vui mừng khi cá bị giết, chê bai đệ tử của Phật Phussa, đánh gục con trai dòng Malla, cho thuốc xổ và lời khinh miệt thời Jotipāla. Quả dư sót gồm các vụ vu cáo vì Sundarikā và Ciñcā, đá của Devadatta làm dập ngón chân, voi Nālāgirī, đau đầu, ba tháng ăn lúa mạch ở Verañjā, đau lưng, tiêu chảy và sáu năm khổ hạnh ở Uruvelā.
Điểm thực hànhNgay cả bậc đã thành Phật vẫn phải nhận phần dư sót của nghiệp cũ; hiểu điều này để không oán trách khi quả xấu đến, và cẩn trọng với mọi việc làm từ hôm nay.
Trưởng Lão Ký Sự Phẩm Avaṭaphala Pubbakammapilotika
ở trên mặt phẳng của tảng núi đá đáng yêu
được lấp lánh bởi nhiều loại châu ngọc.
Ở trong khu rừng có nhiều loại hương thơm
Được vây quanh bởi Hội Chúng tỳ khưu đông đảo,
đấng Lãnh Đạo Thế Gian,
ngồi ở tại nơi ấy, đã giảng giải
về các việc làm quá khứ của bản thân:
“Này các tỳ khưu, hãy lắng nghe Ta.
Nghiệp nào đã được tạo ra bởi Ta,
nếu là nghiệp vụn vặt
thì cũng sẽ chín muồi cho dầu ở vào bản thể của vị Phật.
Nghĩa là
Ở gần hồ Anotatta, trên mặt đá bằng phẳng, đáng yêu, lấp lánh bởi nhiều loại châu ngọc; trong khu rừng có nhiều loại hương thơm. Được hội chúng Tỷ-kheo đông đảo vây quanh, đấng lãnh đạo thế gian, ngồi tại nơi ấy, Ngài giảng giải về các việc làm quá khứ của chính Ngài: “Này các Tỷ-kheo, hãy nghe Ta: nghiệp nào do Ta đã tạo, dù là nghiệp vụn vặt, cũng sẽ chín muồi ngay cả khi đã thành Phật.
10.1
Trong những đời sống khác trước đây,
đức Phật Độc Giác Sarabhū,
(Ngài là) vị không làm điều sái quấy.
Do quả thành tựu của nghiệp ấy,
Ta đã luân hồi lâu dài ở địa ngục
trong nhiều ngàn kiếp
và đã nhận chịu cảm thọ khổ đau.
Do phần dư sót của nghiệp ấy,
tại đây trong kiếp sống cuối cùng,
Ta đã nhận lãnh sự vu cáo
vì nguyên nhân của (nữ du sĩ ngoại đạo) Sundarikā.
Nghĩa là
Ta đã là kẻ vô lại tên Munāḷī, trong những đời sống khác trước đây; đức Phật Độc Giác Sarabhū, Ta đã vu cáo Ngài, vị không làm điều sai quấy. Do quả của nghiệp ấy, Ta luân hồi lâu dài trong địa ngục, suốt nhiều ngàn kiếp, và chịu cảm thọ đau khổ. Do phần dư sót của nghiệp ấy, tại đây, trong kiếp sống cuối cùng, Ta nhận lấy sự vu cáo, vì cớ nữ du sĩ ngoại đạo Sundarikā.
10.2
tên là Nanda.
Do sự vu cáo vị (Thinh Văn) ấy,
Ta đã luân hồi lâu dài ở địa ngục.
Ta đã luân hồi lâu dài ở địa ngục
trong mười ngàn năm.
Đạt được bản thể nhân loại,
Ta đã nhận lãnh nhiều sự vu cáo.
Do phần dư sót của nghiệp ấy,
nàng Ciñcamānavikā
đã vu cáo Ta với sự không có thật
ở trước đám đông dân chúng.
Nghĩa là
Đức Phật Sabbābhibhū có vị đệ tử, tên là Nanda; do vu cáo vị đệ tử ấy, Ta luân hồi lâu dài trong địa ngục. Suốt mười ngàn năm, Ta luân hồi lâu dài trong địa ngục; được sinh làm người rồi, Ta nhận nhiều sự vu cáo. Do phần dư sót của nghiệp ấy, nàng Ciñcamānavikā, đã vu cáo Ta bằng điều không có thật, ở trước đám đông dân chúng.
10.3
được tôn vinh kính trọng. Ta đã chỉ dạy về chú thuật cho năm trăm người trai trẻ ở tại khu rừng lớn.
ở tại khu rừng lớn.
Ta đã chỉ dạy về chú thuật cho năm trăm người trai trẻ
Vị ẩn sĩ Bhīma
có năm thắng trí, có đại thần lực,
đã đi đến nơi ấy. Và sau khi nhìn thấy vị ấy đi đến,
Ta đã vu cáo vị không làm điều sái quấy.
Kế đó, Ta đã nói với các người học trò rằng:
‘Vị ẩn sĩ này có sự thọ hưởng dục lạc.’
Ngay trong khi Ta đang nói,
các người trai trẻ đã vui thích theo.
Sau đó, tất cả các người trai trẻ,
trong khi khất thực theo từng nhà,
đã nói với đám đông dân chúng rằng:
‘Vị ẩn sĩ này có sự thọ hưởng dục lạc.’
Do quả thành tựu của nghiệp ấy,
tất cả năm trăm vị tỳ khưu này
đã gánh chịu sự vu cáo,
vì nguyên nhân của (nữ du sĩ ngoại đạo) Sundarikā.
Nghĩa là
Ta đã là vị Bà-la-môn thông thái, được tôn vinh, kính trọng; ở tại khu rừng lớn, Ta dạy chú thuật cho năm trăm người trai trẻ. Vị ẩn sĩ Bhīma, có năm thắng trí, có đại thần lực, đã đến nơi ấy; thấy vị ấy đến, Ta vu cáo vị không làm điều sai quấy ấy. Kế đó, Ta nói với các học trò rằng: ‘Vị ẩn sĩ này có thọ hưởng dục lạc.’ Ngay khi Ta đang nói, các người trai trẻ vui thích theo. Sau đó, tất cả các người trai trẻ, trong khi đi khất thực theo từng nhà, nói với đám đông dân chúng rằng: ‘Vị ẩn sĩ này có thọ hưởng dục lạc.’ Do quả của nghiệp ấy, tất cả năm trăm vị Tỷ-kheo này, đã gánh chịu sự vu cáo, vì cớ nữ du sĩ ngoại đạo Sundarikā.
10.4
vì nguyên nhân tài sản Ta đã giết chết
Ta đã xô vào hẻm núi hiểm trở
và đã nghiền nát bằng tảng đá.
Do quả thành tựu của nghiệp ấy,
Devadatta đã ném tảng đá
và đã làm dập ngón cái ở bàn chân của Ta
do mảnh vỡ của tảng đá.
Nghĩa là
người anh em trai khác mẹ của Ta, vì tài sản, Ta đã giết chết; Ta xô xuống hẻm núi hiểm trở, và nghiền nát bằng tảng đá. Do quả của nghiệp ấy, Devadatta ném tảng đá, và làm dập ngón cái ở bàn chân Ta, do mảnh vỡ của tảng đá.
10.5
đang đùa giỡn ở con đường lớn.
Sau khi nhìn thấy đức Phật Độc Giác,
Ta đã ném đá vụn ở con đường (vào vị Phật ấy).
Do quả thành tựu của nghiệp ấy,
tại đây trong kiếp sống cuối cùng,
Devadatta đã bố trí các sát thủ
nhằm mục đích giết hại Ta.
Nghĩa là
Trước đây, Ta là đứa bé trai, đang đùa giỡn ở con đường lớn; thấy đức Phật Độc Giác rồi, Ta ném đá vụn trên đường vào vị Phật ấy. Do quả của nghiệp ấy, tại đây, trong kiếp sống cuối cùng, Devadatta bố trí các sát thủ, nhằm giết hại Ta.
10.6
bậc Hiền Trí Độc Giác tối thượng
đang đi đó đây để khất thực,
Ta đã dùng con voi công kích vị ấy.
Do quả thành tựu của nghiệp ấy, ở trong kinh thành Giribbaja con voi Nālāgirī quẩn trí hung hãn
con voi Nālāgirī quẩn trí hung hãn
ở trong kinh thành Giribbaja
đã tiến gần đến Ta.
Nghĩa là
Trước đây, Ta là kẻ cưỡi voi; bậc Hiền Trí Độc Giác cao nhất, đang đi đó đây để khất thực, Ta dùng con voi công kích vị ấy. Do quả của nghiệp ấy, con voi Nālāgirī điên cuồng, hung hãn, ở trong kinh thành Giribbaja, đã tiến đến gần Ta.
10.7
Ta đã giết chết người đàn ông bằng cây thương.
Do quả thành tựu của nghiệp ấy,
Ta đã bị nung nấu ở địa ngục một cách dữ dội.
Do phần dư sót của nghiệp ấy,
giờ đây toàn bộ lớp da ở bàn chân của Ta
đã gây khó chịu,
bởi vì nghiệp không bị tiêu hoại.
Nghĩa là
Ta đã là đức vua, người trị vì; Ta giết người đàn ông bằng cây thương; do quả của nghiệp ấy, Ta bị nung nấu dữ dội trong địa ngục. Do phần dư sót của nghiệp ấy, giờ đây, toàn bộ lớp da ở bàn chân Ta, đã gây khó chịu; vì nghiệp không bị tiêu hoại.
10.8
ở trong ngôi làng của các ngư phủ.
Sau khi nhìn thấy các con cá bị giết chết,
Ta đã sanh tâm vui mừng.
Do quả thành tựu của nghiệp ấy,
đã có sự đau nhức ở đầu của Ta. Và khi Viḍūdabha nổi loạn, tất cả dòng tộc Sakya (Thích Ca) đã bị giết chết.
tất cả dòng tộc Sakya (Thích Ca) đã bị giết chết.
Và khi Viḍūdabha nổi loạn,
Nghĩa là
Ta ở trong làng của các ngư phủ, đã là đứa trẻ đánh cá; thấy các con cá bị giết chết, Ta khởi tâm vui mừng. Do quả của nghiệp ấy, Ta bị đau nhức ở đầu; tất cả dòng tộc Sakya đã bị giết chết, khi Viḍūḍabha nổi loạn.
10.9
Ta đã quở mắng các vị Thinh Văn rằng:
‘Các ngươi hãy nhai, hãy ăn lúa mạch,
và chớ có ăn cơm gạo sālī.’
Do quả thành tựu của nghiệp ấy,
Ta đã (phải) ăn lúa mạch ba tháng.
Khi ấy, được vị Bà-la-môn thỉnh mời,
Ta đã cư ngụ ở Verañjā.
Nghĩa là
Vào thời Giáo Pháp của đức Phật Phussa, Ta quở mắng các vị đệ tử rằng: ‘Các ngươi hãy nhai, hãy ăn lúa mạch, và đừng ăn cơm gạo sālī.’ Do quả của nghiệp ấy, Ta phải ăn lúa mạch suốt ba tháng; khi ấy, được vị Bà-la-môn thỉnh mời, Ta ở tại Verañjā.
10.10
Ta đã đánh gục người con trai dòng Malla.
Do quả thành tựu của nghiệp ấy,
đã có sự đau nhức ở lưng của Ta.
Nghĩa là
Khi cuộc đấu vật đang diễn ra, Ta đánh gục người con trai dòng Malla; do quả của nghiệp ấy, Ta bị đau nhức ở lưng.
10.11
Ta đã cho người con trai nhà triệu phú thuốc xổ.
Do quả thành tựu của nghiệp ấy,
Ta có bệnh tiêu chảy.
Nghĩa là
Ta đã là người thầy thuốc; Ta cho con trai nhà triệu phú uống thuốc xổ; do quả của nghiệp ấy, Ta mắc bệnh tiêu chảy.
10.12
Ta đã nói với đấng Thiện Thệ Kassapa rằng: ‘Giác Ngộ là sự đạt được vô cùng khó khăn, do đâu sự Giác Ngộ lại có cho kẻ cạo đầu?’
do đâu sự Giác Ngộ lại có cho kẻ cạo đầu?’
‘Giác Ngộ là sự đạt được vô cùng khó khăn,
Do quả thành tựu của nghiệp ấy,
Ta đã thực hành nhiều việc làm khó khăn
trong sáu năm ở Uruvelā,
sau đó Ta đã đạt được quả vị Giác Ngộ.
Ta đã không đạt được quả vị Giác Ngộ tối thượng
bằng con đường (Trung Đạo) này. Bị ngăn cản bởi nghiệp quá khứ, Ta đã tầm cầu đạo lộ sai trái (khổ hạnh).
Ta đã tầm cầu đạo lộ sai trái (khổ hạnh).
Bị ngăn cản bởi nghiệp quá khứ,
Ta có sự chấm dứt về phước và tội,
Ta đã tránh xa mọi điều bực bội,
Ta không sầu muộn, không đau buồn,
Ta sẽ Niết Bàn, không còn lậu hoặc.”
đã giảng giải như thế.
ở trước Hội Chúng tỳ khưu,
Đấng Chiến Thắng, vị đã đạt được toàn bộ năng lực của các thắng trí,
tại hồ nước lớn Anotatta,
Nghĩa là
Lúc bấy giờ, Ta là Jotipāla; Ta nói với đấng Thiện Thệ Kassapa rằng: ‘Giác Ngộ đâu có cho kẻ cạo đầu?’ ‘Giác Ngộ là điều đạt được vô cùng khó khăn, Do quả của nghiệp ấy, Ta thực hành nhiều việc khó khăn, suốt sáu năm ở Uruvelā; sau đó Ta đạt được Giác Ngộ. Không phải qua con đường này, Ta đã đạt được Giác Ngộ cao nhất; Ta tìm cầu con đường sai trái; bị nghiệp quá khứ ngăn cản, Phước và tội của Ta đã chấm dứt, Ta tránh xa mọi điều bực bội; Ta không sầu muộn, không đau buồn, Ta sẽ nhập Niết-bàn, không còn ô nhiễm.” Đấng Chiến Thắng đã giảng giải như vậy; ở trước hội chúng Tỷ-kheo, đấng đã đạt toàn bộ năng lực của các thắng trí, tại hồ nước lớn Anotatta.
Đức Thế Tôn đã thuyết bài giảng Giáo Pháp tên Pubbakammapilotika, nói về các hành động quá khứ của chính Ngài, như vậy. Ký sự về đức Phật tên Pubbakammapilotika, bài thứ 10. Phẩm Avaṭaphala là phẩm thứ ba mươi chín. Phần tóm lược của phẩm này: Trái cây avaṭa, luôn cả trái bánh mì, trái sung, và trái pilakkha, trái cây phārusa, trái cây valli, và vị có trái chuối, trái mít, vị Koṭivīsa, và ký sự tên “Pubbakammapiloti” của bậc Đại Ẩn Sĩ; (tổng cộng) có chín mươi mốt câu kệ đã được tính đếm bởi các bậc trí. Phần tụng đọc thứ mười bốn.