Ký sự về trưởng lão Saddasaññaka
Trưởng lão Saddasaññaka kể: khi còn là thợ săn trong rừng, ông nghe bậc Toàn Giác Sikhī giảng bốn Sự Thật cho đám đông, lắng nghe giọng nói ngọt ngào như tiếng chim karavīka và làm tâm mình tin tưởng vào âm vang giọng nói Phạm Thiên ấy. Nhờ niềm tin trong sạch đó, suốt ba mươi mốt kiếp ông không rơi vào khổ cảnh và nay đạt đến sự dứt sạch các ô nhiễm.
Điểm thực hànhNghe Pháp với tâm tin tưởng và chú tâm cũng là một cách tu: một lần nghe chân thành có thể đổi hướng cả cuộc đời.
Trưởng Lão Ký Sự Phẩm Saddasañña Saddasaññaka
ở trong khu rừng hoang rậm.
Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy bậc Toàn Giác
được vây quanh bởi hội chúng chư Thiên.
Trong lúc Ngài đang công bố về bốn Sự Thật
(và) đang tiếp độ đám đông dân chúng,
tôi đã lắng nghe lời nói ngọt ngào
tương tợ tiếng hót của loài chim karavīka.
giọng nói Phạm Thiên của bậc Hiền Trí
Sikhī, đấng quyến thuộc của thế gian,
Sau khi làm cho tâm được tịnh tín vào âm vang giọng nói Phạm Thiên của bậc Hiền Trí Sikhī, đấng quyến thuộc của thế gian,
tôi đạt được sự đoạn tận các lậu hoặc.
Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây ba mươi mốt kiếp,
tôi đã thực hiện việc làm ấy
tôi không còn biết đến khổ cảnh;
điều này là quả báu của niềm tịnh tín.
Bốn (tuệ) phân tích,
tám giải thoát,
và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng;
tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Nghĩa là
Xưa kia tôi là thợ săn, sống trong rừng hoang rậm; tại nơi ấy, tôi thấy bậc Toàn Giác, được hội chúng chư thiên vây quanh. Khi Ngài đang giảng bốn Sự Thật, và đang cứu độ đám đông dân chúng, tôi lắng nghe lời nói ngọt ngào, như tiếng hót của chim karavīka. giọng nói Phạm Thiên của bậc Hiền Trí, là đức Sikhī, quyến thuộc của thế gian; làm tâm tin tưởng vào âm vang giọng nói ấy rồi, tôi đạt đến sự dứt sạch ô nhiễm trong tâm. Từ ba mươi mốt kiếp trước, khi tôi làm việc ấy, việc làm mà tôi đã làm khi ấy, tôi không còn biết đến đường dữ; đó là quả của niềm tin trong sạch. Bốn tuệ phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được chứng đắc; tôi đã làm theo lời dạy của đức Phật.
Trưởng lão Saddasaññaka đã nói những lời kệ ấy như vậy. Ký sự về trưởng lão Saddasaññaka, bài thứ 1.