Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Milinda & Apadāna › Ký sự về Khemā

Ký sự về Khemā

Khemātherīapadāna · THI-AP18 · 383 đoạn

Khemā kể hành trình nhiều kiếp: thời đức Phật Padumuttara, bà sinh ở Haṁsavatī, dâng vật thực bảy ngày cho đức Phật và Tăng đoàn rồi nguyện vị thế đứng đầu về đại trí tuệ; thời đức Phật Vipassī bà xuất gia mười ngàn năm, khéo về duyên khởi và bốn Sự Thật; thời đức Phật Koṇāgamana bà cùng hai người bạn dâng tu viện; thời đức Phật Kassapa bà là công chúa Samaṇī, bị cha vua Kikī không cho xuất gia nên cùng sáu chị em giữ Phạm hạnh thiếu nữ tại nhà hai mươi ngàn năm và học thuộc Kinh Mahānidāna. Kiếp cuối, bà là công chúa xứ Madda, vợ vua Bimbisāra, mê sắc đẹp nên tránh đức Phật; nhờ vua cho ca sĩ ca ngợi Veḷuvana, bà đến vườn, thấy người nữ do đức Phật hóa hiện già đi trong chớp mắt, nghe Ngài dạy quán bất mỹ, đạt Pháp nhãn, xuất gia, nửa tháng sau chứng A-la-hán và được tuyên bố đứng đầu về đại trí tuệ.

Điểm thực hành

Hãy tu tập tâm về đề mục bất mỹ, giữ niệm hướng đến thân và nuôi nhiều sự nhàm chán đối với thân, để lìa bỏ sự mong muốn về thân ở bên trong lẫn bên ngoài.

Trưởng Lão Ni Ký Sự Phẩm Ekūposathikā Ký sự về trưởng lão ni Khemā

đấng Chiến Thắng tên Padumuttara,
bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp,
Trước đây một trăm ngàn kiếp,
đấng Lãnh Đạo đã hiện khởi.
Khi ấy, tôi đã được sanh ra ở tại Haṁsavatī
trong gia đình triệu phú
được rạng rỡ với nhiều loại châu báu,
tôi đã được thừa hưởng lạc thú lớn lao.
Tôi đã đi đến đấng Đại Hùng ấy
và đã lắng nghe lời giảng Pháp.
Sau đó, với niềm tịnh tín sanh khởi tôi
đã đi đến nương tựa vào đấng Chiến Thắng.
Và tôi cũng đã yêu cầu mẹ cha
rồi đã thỉnh mời đấng Hướng Đạo
trong bảy ngày.
cùng với các vị Thinh Văn và đã cung ứng vật thực
Và khi bảy ngày đã trôi qua,
vị tỳ khưu ni đứng đầu trong số các vị ni có đại trí tuệ
đã thiết lập vị tỳ khưu ni đứng đầu trong số các vị ni có đại trí tuệ vào vị thế tối thắng.
đấng Điều Phục Nhân đã thiết lập
Được hoan hỷ sau khi lắng nghe điều ấy, tôi
đến bậc Đại Ẩn Sĩ ấy lần nữa
và đã phát nguyện vị thế ấy.
rồi đã nằm dài xuống và đã phát nguyện
Do đó, đấng Chiến Thắng ấy đã nói với tôi rằng:
“Điều phát nguyện của nàng (sẽ) được thành tựu.
Sự tôn kính đã được nàng thực hiện ở nơi Ta cùng với Hội Chúng
là có quả báu vô lượng.
Vào một trăm ngàn kiếp về sau này,
xuất thân gia tộc Okkāka
bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi,
sẽ xuất hiện ở thế gian.
là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy,
là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp,
Nàng sẽ có tên là Khemā,
và sẽ đạt được vị thế tối thắng.”
Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp
và do các nguyện lực của tác ý,
sau khi từ bỏ thân nhân loại
tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
Mệnh chung từ nơi ấy, tôi đã đi đến cõi trời Dạ Ma,
từ đó đã đi đến cõi trời Đẩu Suất,
và từ đó đến cõi Hóa Lạc Thiên,
rồi từ đó đến cõi Tha Hóa Tự Tại.
ở bất cứ nơi nào tôi sanh ra,
Do mãnh lực của nghiệp ấy,
của các vị vua ở chính tại các nơi ấy.
tôi đều đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu
Từ nơi ấy chết đi (sanh) vào thân nhân loại,
của các đấng Chuyển Luân Vương
và các vị vua cai quản các lãnh thổ.
tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu
Tôi đã thọ hưởng sự thành đạt
ở giữa chư Thiên và loài người,
đã được an vui ở tất cả các nơi,
và đã luân hồi trong nhiều kiếp.
Trước đây chín mươi mốt kiếp,
đấng Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī
đã hiện khởi.
vị thấy rõ tất cả các pháp
Tôi đã đi đến gặp bậc Lãnh Đạo Thế Gian,
đấng Điều Phục Nhân ấy.
Sau khi lắng nghe Giáo Pháp cao quý,
tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
trong Giáo Pháp của đấng Anh Hùng ấy mười ngàn năm,
trong Giáo Pháp của đấng Anh Hùng ấy
Sau khi thực hành Phạm hạnh
tôi đã gắn bó vào thiền tập, có sự nghe nhiều (học rộng).
Là vị thiện xảo về các biểu hiện của duyên (tùy thuận sanh khởi),
có niềm tự tín ở bốn Sự Thật,
là người khôn khéo, là vị thuyết giảng hay,
là người thực hành theo lời dạy của bậc Đạo Sư.
Từ nơi ấy chết đi, tôi đã đạt đến cõi trời Đẩu Suất,
là tiên nữ có danh tiếng.
Tại nơi ấy, tôi đã vượt trội những người khác
nhờ vào quả báu của việc thực hành Phạm hạnh.
Ở bất cứ nơi nào tôi được sanh ra,
tôi đều có nhiều của cải, nhiều tài sản,
là người có sự sáng suốt, có sắc đẹp,
và có luôn cả hội chúng đã được rèn luyện nữa.
Do nghiệp ấy
có sự gắn bó với Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng,
tất cả các sự thành tựu của tôi
đều đạt được dễ dàng và là các niềm yêu quý của tâm.
bất cứ người nào là chồng của tôi
Thậm chí ở bất cứ nơi đâu tôi sanh đến,
đều không khinh miệt tôi
nhờ vào quả báu tu tập của tôi.
Ở vào kiếp Bhadda này,
có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
đấng cao quý tên Koṇāgamana
trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý
ở tại Bārāṇasī.
tôi là hậu duệ của một gia đình vô cùng giàu có
Dhanañjāni, Sumedhā, và tôi nữa
là ba người.
đã dâng cúng tu viện đến Hội Chúng.
Là những người cộng sự trong việc bố thí trước đây
chúng tôi đã xác định trú xá là của Hội Chúng
và là những người tạo lập,
Từ nơi ấy chết đi, tất cả chúng tôi
đã đi đến cõi Đạo Lợi,
đã đạt được tư cách cao tột về danh vọng,
và tương tợ y như thế ở giữa loài người.
Chính ở vào kiếp này,
có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
tên Kassapa, thuộc dòng dõi,
trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý
là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.
Khi ấy, có vị quân vương
là đức vua xứ Kāsi tên Kikī
ở tại kinh thành Bārāṇasī
Tôi đã là người con gái lớn nhất của vị ấy,
được nổi danh là Samaṇī.
Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả,
tôi đã xin xuất gia.
Cha đã không cho phép chúng tôi.
ngay tại nhà
trong hai chục ngàn năm,
không xao lãng.
chúng tôi đã thực hành Phạm hạnh của người thiếu nữ
là những người con gái của đức vua khéo được nuôi dưỡng,
đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật.
Được hoan hỷ, bảy người con gái
Samaṇī, Samaṇaguttā,
Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā,
Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa,
và Saṅghadāsikā là thứ bảy.
Tôi, Uppalavaṇṇā,
Paṭācārā, Kuṇḍalā,
Kisāgotamī, Dhammadinnā,
và Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).
Có lần nọ đấng Mặt Trời của nhân loại ấy
thuyết giảng Giáo Pháp tuyệt vời.
Sau khi lắng nghe bài Kinh Mahānidāna
tôi đã học thuộc lòng bài Kinh ấy.
Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp
và do các nguyện lực của tác ý,
sau khi từ bỏ thân nhân loại
tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
Và trong kiếp cuối cùng hiện nay,
ở tại kinh thành Sāgalā.
tôi là người con gái vui tính, đáng mến, đáng yêu của đức vua Madda
vui tính, đáng mến, đáng yêu
Cùng với sự việc đã được sanh của tôi là
trong kinh thành ấy đã có sự thái bình.
Vì thế, tên “Khemā” đã được sanh lên cho tôi
phát xuất từ công đức (ấy).
Khi đạt đến tuổi thanh xuân,
tôi được tô điểm bởi sắc đẹp và sự mặn mà,
khi ấy người cha đã dâng tôi
cho đức vua Bimbisāra.
Tôi đã là người nữ vô cùng yêu quý của vị (vua) ấy.
Thích thú trong việc trau chuốt xác thân,
những lời nói về sự xấu xa của các sắc thân
tôi đã không tỏ ra rộng lượng
đức vua Bimbisāra
với sáng kiến nhằm giúp đỡ cho tôi,
đã ngợi khen về Veḷuvana(Trúc Lâm)
và đã bảo các ca sĩ ca hát cho tôi nghe rằng:
Người nào chưa nhìn thấy Veḷuvana đáng yêu,
chốn ngụ cư của đấng Thiện Thệ,
thì người ấy chưa nhìn thấy (vườn hoa) Nandana (của cõi trời).
“Chúng tôi quan niệm rằng:
Người nào đã nhìn thấy Veḷuvana
là (vườn hoa) hoan lạc Nandana của nhân loại,
người ấy đã nhìn thấy (vườn hoa) Nandana
vô cùng hoan lạc của vị Thiên Vương.
Chư Thiên sau khi rời (vườn hoa) Nandana
ngự xuống mặt đất
và đã nhìn thấy Veḷuvana đáng yêu
thì vô cùng sửng sốt và không còn tiếc nuối nữa.
(Veḷuvana) đã được sanh lên do phước báu của đức vua,
được làm đẹp nhờ vào phước báu của đức Phật,
có ai là người thuật lại một cách trọn vẹn
về tổng thể các đức tính tốt đẹp của khu vườn ấy?”
Sau khi nghe được sự thành công của khu rừng ấy,
đối với tôi là có sự quyến rũ vào tai.
có lòng mong muốn nhìn thấy khu vườn ấy
tôi đã trình lên đức vua.
ra lệnh cho đoàn tùy tùng đông đảo đưa tôi đi
Và khi ấy, vị lãnh chúa ấy
đưa tôi đi để nhìn xem khu vườn ấy
đã sốt sắng ra lệnh cho đoàn tùy tùng đông đảo đưa tôi đi để nhìn xem khu vườn ấy
“Hỡi nàng là của cải vĩ đại, nàng hãy đi, hãy nhìn xem khu rừng
đem lại sự bổ ích cho cặp mắt,
là nơi luôn luôn chói sáng với sự vinh quanh,
được rực rỡ với hào quang của đấng Thiện Thệ.”
để khất thực,
đã đi vào kinh thành Giribbaja
đúng vào lúc ấy tôi
tôi đã đi đến để nhìn thấy khu rừng.
Khi ấy, khu rừng cây trải dài ấy
được rì rào tiếng vo ve của ong vò vẽ các loại,
được phối hợp với tiếng rù rù của loài chim cu,
được nhảy múa bởi đám chim công.
(Khu rừng cây) có ít tiếng động, không bị phân tán,
được điểm tô bằng các đường kinh hành khác nhau,
được rải rác với các cụm liêu cốc,
được nổi bậc với các hành giả cao quý.
Trong khi dạo quanh, tôi đã suy nghĩ rằng:
“Mắt ta có được thành quả.”
Cũng tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy vị tỳ khưu trẻ gắn bó (thiền tập)
và đã suy gẫm rằng:
ở trong khu rừng dẫu cho là đáng yêu như vầy
Vị này ở vào độ tuổi rất trẻ
được phú cho dáng vóc dễ thương như là mùa xuân
và được phú cho dáng vóc dễ thương
Ngồi ở gốc cây,
đầu cạo, đắp y hai lớp,
tham thiền, quả nhiên vị tỳ khưu này
đã từ bỏ khoái lạc sanh lên từ đối tượng (bên ngoài).
nên thọ hưởng (ngũ) dục cho thoải mái với cuộc đời tại gia,
nên thọ hưởng (ngũ) dục cho thoải mái
sau này về già mới nên thực hành Giáo Pháp?”
con người vô cùng hiền thiện này
Sau khi biết được rằng “Suññaka” là hương thất,
là chỗ ngụ của đấng Chiến Thắng,
tôi đã đi đến gần và đã nhìn thấy đấng Chiến Thắng
tợ như mặt trời đang mọc lên.
ngồi mỗi một mình một cách an lạc,
đang được quạt bởi người nữ quý phái.
Sau khi nhìn thấy tôi đã suy gẫm như vầy:
“Bậc Nhân Ngưu này không có quê kệch.”
Người thiếu nữ ấy có diện mạo (sáng) như vàng,
có khuôn mặt và đôi mắt như đóa sen,
có môi đỏ, có răng màu hoa nhài,
có sự thuhút con tim và ánh mắt.
Có đôi tai lấp lánh khuyên vàng,
có ngực dạng bầu bầu,
có eo thon, có mông đẹp,
có đùi thân chuối, và có đồ trang sức xinh xắn.
Với chiếc áo khoác ngoài lên đôi vai gợi tình,
với y phục tinh khiết màu xanh,
với hình dáng (nhìn) không thể nào thỏa mãn.
được sở hữu tính chất phụ nữ
Sau khi nhìn thấy nàng ấy, tôi đã suy nghĩ như vầy:
“Ôi, nàng này tuyệt đẹp,
ta chưa từng nhìn thấy trước đây bằng (cặp) mắt này.”
ta chưa từng nhìn thấy trước đây
Kế đó, bị chế ngự bởi sự già, nàng ấy
(trở nên) có dung nhan tàn tạ, khuôn mặt chảy dài,
răng sứt mẻ, đầu bạc,
miệng có nước dãi, dơ dáy.
có tai bị co rút, mắt trắng (đục),
bộ ngực xấu xí đong đưa,
tất cả các bộ phận cơ thể bị nhăn nheo chảy xệ,
thân thể nổi đầy gân.
có lưng bị còng, có gậy là bạn,
vô cùng nhợt nhạt, gầy còm,
trong lúc run rẩy bị té nhào,
chốc chốc lại bị hụt hơi.
Do đó, tôi đã có sự chấn động,
kinh ngạc, lông dựng đứng:
“Thật là xấu hổ cho xác thân bất tịnh
là nơi mà những kẻ ngu hứng thú!”
đấng Đại Bi, bậc Thiện Thệ
sau khi nhìn thấy (tôi có) tâm bị chấn động,
bậc Thiện Thệ với tâm phấn chấn
đã nói lên những lời kệ này:
“Này Khemā, hãy nhìn xem thân thể bệnh hoạn, bất tịnh, hôi thối
Này Khemā, hãy nhìn xem
đang tiết ra, đang rò rỉ
lại được hứng thú đối với những kẻ ngu.
Nàng hãy tu tập tâm cho được chuyên nhất khéo tập trung về đề mục bất mỹ,
cho được chuyên nhất khéo tập trung
niệm hãy được hướng đến thân,
nàng hãy có nhiều sự nhàm chán.
Thân này như thế nào thì xác kia như vậy,
xác kia như thế nào thì thân này như vậy.
ở bên trong lẫn bên ngoài.
Nàng hãy lìa bỏ sự mong muốn về thân
Và nàng hãy tu tập về vô tướng,
hãy dứt bỏ ngã mạn ngũ ngầm.
Từ đó, có được sự lãnh hội về ngã mạn
nàng sẽ sống thanh tịnh.
Những người bị đắm nhiễm ái dục rơi vào dòng chảy,
tương tợ như con nhện sa vào mạng lưới được tạo nên bởi chính nó,
sau khi cắt đứt luôn cả điều ấy, xuất gia,
từ bỏ dục lạc, trở thành những người vô tư lự.”
tôi có tâm đã được sẵn sàng,
đấng Điều Phục Nhân
đã thuyết giảng bài Kinh Mahānidāna
nhằm hướng dẫn cho tôi.
Sau khi lắng nghe bài kinh tuyệt vời ấy,
tôi đã tưởng nhớ về quá khứ.
Tôi được an tịnh ngay khi đang đứng tại nơi ấy,
tôi đã làm cho Pháp nhãn được thanh tịnh.
Ngay khi ấy, tôi đã cúi xuống ở nơi bàn chân của bậc Đại Hiền Trí
Ngay khi ấy, tôi đã cúi xuống ở nơi bàn chân
nhằm mục đích bày tỏ tội lỗi,
và đã nói lời nói này:
“Bạch đấng Toàn Tri, con kính lễ Ngài!
Bạch đấng hành bi mẫn, con kính lễ Ngài!
Bạch đấng đã vượt qua luân hồi, con kính lễ Ngài!
Bạch đấng ban cho sự Bất Tử, con kính lễ Ngài!
Con đã lao theo sự nắm bắt tà kiến,
bị lầm lạc trong ái dục,
nhờ vào Ngài với phương pháp đúng đắn con đã được dẫn dắt,
được thỏa thích trong sự rèn luyện.
Do việc không nhìn thấy các bậc Đại Hiền Trí như thế ấy,
các bậc Đại Hiền Trí như thế ấy,
phải gánh chịu khổ đau lớn lao
trong biển cả luân hồi.
con đã không nhận ra Ngài là chốn nương nhờ của thế gian,
là bậc không dục vọng đã đạt đến tận cùng của sự chết,
là sự lợi ích cận kề,
con xin bày tỏ lỗi lầm ấy.
bậc có lợi ích lớn, vị có sự bố thí cao quý,
hoài nghi là: ‘Không có lợi ích,’
Bị đắm say xác thân, con đã không đến gần
con xin bày tỏ lỗi lầm ấy.”
vị có giọng nói vang ngọt ngào,
bậc Đại Bi, đấng Chiến Thắng,
đã nói rằng: “Này Khemā, hãy đứng lại.”
trong lúc rưới rắc sự Bất Tử đến tôi,
Khi ấy, sau khi đã đê đầu đảnh lễ
và đã thực hiện việc nhiễu quanh vị ấy, tôi đã ra đi.
Sau khi nhìn thấy đấng quân vương,
tôi đã nói lời nói này:
“Ôi vị khuất phục kẻ thù, phương pháp đúng đắn này
đã được suy tính bởi bệ hạ.
Do ước muốn nhìn thấy khu rừng mà
bậc Hiền Trí, vị ban phát Niết Bàn, đã được nhìn thấy.
Tâu bệ hạ, nếu ngài vui thích
trong Giáo Pháp của vị như thế ấy.
thiếp sẽ xuất gia
thiếp đã nhàm chán sắc thân.”

Nghĩa là

đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc có mắt thấy mọi pháp, Một trăm ngàn kiếp trước, vị lãnh đạo đã xuất hiện. Khi ấy tôi sinh ở Haṁsavatī, trong gia đình triệu phú, sáng rực với nhiều loại châu báu, được hưởng lạc thú lớn lao. Tôi đến gặp đấng Đại Hùng ấy, và nghe lời giảng Pháp. Sau đó, lòng tin trong sạch sinh khởi, tôi, đi đến nương tựa đấng Chiến Thắng. Tôi xin phép cha mẹ, rồi thỉnh mời đấng Hướng Đạo, trong bảy ngày. cùng với các đệ tử, và đã dâng vật thực cho các vị. Khi bảy ngày đã qua, vị Tỷ-kheo-ni đứng đầu về đại trí tuệ, đặt vào vị thế cao nhất. đấng Điều Phục Nhân đã đặt, Nghe vậy, tôi hoan hỷ, lại làm lễ kính trọng bậc đại ẩn sĩ ấy, và nguyện đạt vị thế ấy. rồi phủ phục xuống và phát nguyện, Rồi đấng Chiến Thắng nói với tôi: “Nguyện của nàng sẽ thành tựu. Việc tôn kính nàng làm cho Ta cùng Tăng đoàn, có quả không thể đo lường, do nàng đã làm. Một trăm ngàn kiếp sau, sinh ra trong gia tộc Okkāka, bậc Đạo Sư tên Gotama theo họ, sẽ xuất hiện ở đời. là người thừa tự Pháp của Ngài, con chính thức, được Pháp tạo thành, đạt được vị thế cao nhất, nàng sẽ tên là Khemā.” Nhờ nghiệp ấy đã làm khéo, và nhờ sức nguyện trong ý hướng, sau khi bỏ thân người, tôi sinh lên cõi trời Đạo Lợi. Chết ở nơi ấy, tôi đi đến cõi trời Dạ Ma, từ đó đi đến cõi trời Đẩu Suất, và từ đó đến cõi Hóa Lạc, rồi từ đó đến cõi Tha Hóa Tự Tại. Bất cứ nơi nào tôi sinh ra, nhờ sức mạnh của nghiệp ấy, của các vị vua ở chính nơi ấy. tôi đều làm chánh hậu, Từ đó chết đi, sinh vào thân người, của các vị Chuyển Luân Vương, và của các vị vua cai quản lãnh thổ. tôi làm chánh hậu, Tôi đã hưởng mọi thành tựu, giữa chư thiên và loài người, được an vui ở khắp nơi, và luân hồi qua nhiều kiếp. Chín mươi mốt kiếp trước, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī, đã xuất hiện. bậc thấy rõ mọi pháp, có dáng vẻ thu hút, Tôi đến gặp bậc Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Điều Phục Nhân ấy. Sau khi nghe Pháp đã được thuyết, tôi xuất gia sống đời không nhà. Mười ngàn năm trong giáo pháp của đấng Anh Hùng ấy, trong giáo pháp của đấng Anh Hùng ấy, sau khi thực hành Phạm hạnh, gắn bó với việc tu tập, nghe nhiều học rộng. Khéo về các dạng của duyên khởi, tự tin nơi bốn Sự Thật, khôn khéo, là người thuyết giảng khéo, là người làm theo lời dạy của bậc Đạo Sư. Từ đó chết đi, tôi đến cõi trời Đẩu Suất, là một vị có danh tiếng. Tại đó, tôi vượt trội những người khác, nhờ quả của việc thực hành Phạm hạnh. Bất cứ nơi nào tôi sinh ra, tôi đều có nhiều của cải, tài sản lớn, có trí sáng suốt, có sắc đẹp, và có cả hội chúng đã được rèn luyện. Nhờ nghiệp ấy, tôi được như thế, gắn bó với giáo pháp của đấng Chiến Thắng, mọi thành tựu của tôi, đều dễ đạt và đáng yêu quý trong tâm. Bất cứ ai là chồng của tôi, dù tôi đi đến nơi nào, không ai khinh miệt tôi, nhờ sức tu tập của tôi. Trong kiếp Bhadda này, danh tiếng lớn, thân quyến của Phạm Thiên. tên là Koṇāgamana, bậc cao quý nhất trong những người thuyết giảng đã xuất hiện, ở Bārāṇasī. tôi là con cháu một gia đình rất giàu có, Dhanañjānī, Sumedhā và tôi, là ba người. Chúng tôi đã dâng một khu vườn tu viện cho Tăng đoàn. là những người bạn đồng hành trong việc bố thí trước đây, và một trú xá cho Tăng đoàn, chúng tôi đã làm, với sự hướng định rõ ràng. Từ đó chết đi, tất cả chúng tôi, đi đến cõi trời Đạo Lợi, đạt vị trí cao nhất về danh vọng, và cũng thế giữa loài người. Cũng trong kiếp này, danh tiếng lớn, thân quyến của Phạm Thiên. tên Kassapa theo họ, bậc cao quý nhất trong những người thuyết giảng đã xuất hiện, là người hộ độ của bậc đại ẩn sĩ. Khi ấy có một vị vua chúa, vua xứ Kāsi tên Kikī, ở kinh thành Bārāṇasī, Tôi là con gái lớn nhất của vua ấy, nổi danh là Samaṇī. Nghe Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi chọn đời xuất gia. Cha không cho phép chúng tôi. khi ấy chúng tôi ở ngay tại nhà, hai mươi ngàn năm, chúng tôi sống không xao lãng. Thực hành Phạm hạnh của người thiếu nữ, những công chúa được nuôi dưỡng sung sướng, vui thích trong việc hộ độ đức Phật. bảy người con gái, lòng hoan hỷ, Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāyikā, Dhammā và cả Sudhammā, và Saṅghadāyikā là người thứ bảy. Tôi, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, Kuṇḍalā, Kisāgotamī, Dhammadinnā, và Visākhā là người thứ bảy. Có lần đấng mặt trời của loài người ấy, thuyết giảng Pháp kỳ diệu. Nghe bài Kinh Mahānidāna, tôi học thuộc bài kinh ấy. Nhờ các nghiệp ấy đã làm khéo, và nhờ sức nguyện trong ý hướng, sau khi bỏ thân người, tôi sinh lên cõi trời Đạo Lợi. Trong kiếp cuối cùng này, ở kinh thành Sāgalā. tôi là con gái của vua Madda, dễ thương, đáng mến, đáng yêu, Ngay khi tôi vừa sinh ra, trong thành ấy có sự bình yên. Vì thế tên Khemā sinh ra cho tôi, xuất phát từ đức tính ấy. Khi đến tuổi thanh xuân, được trang điểm bằng sắc đẹp và sự duyên dáng, khi ấy cha gả tôi, cho vua Bimbisāra. Tôi là người nữ được vua ấy yêu quý nhất. Mê thích trau chuốt thân thể, những lời nói về lỗi lầm của sắc đẹp, tôi đã không đến gần đấng Đại Bi, Vua Bimbisāra, với ý muốn giúp đỡ tôi, đã ca ngợi Veḷuvana, và bảo các ca sĩ hát cho tôi nghe rằng: Ai chưa thấy Veḷuvana đáng yêu, nơi ở của đấng Thiện Thệ, thì người ấy chưa thấy vườn Nandana. Chúng tôi nghĩ rằng: Ai đã thấy Veḷuvana, vườn Nandana làm loài người vui thích, người ấy đã khéo thấy vườn Nandana, vườn làm vua trời vui thích. Chư thiên rời vườn Nandana, xuống mặt đất, và thấy Veḷuvana đáng yêu, thì sửng sốt và không còn thỏa mãn với vườn cũ nữa. Sinh ra nhờ phước của nhà vua, được trang điểm nhờ phước của đức Phật, ai có thể kể hết, toàn bộ các đức tính tốt đẹp của khu vườn ấy?” Nghe về sự thịnh vượng của khu rừng ấy, âm thanh ấy làm tai tôi vui thích. muốn thấy khu vườn ấy, lúc bấy giờ tôi trình lên nhà vua. Với đoàn tùy tùng đông đảo, khi ấy vị chúa đất ấy, sai tôi đến khu vườn ấy, háo hức muốn cho tôi thấy khu vườn, “Này nàng giàu có lớn, hãy đi, hãy xem khu rừng, món thuốc bổ cho đôi mắt, nơi luôn sáng chói với vinh quang, được rực rỡ bởi hào quang của đấng Thiện Thệ.” Khi bậc hiền trí đi khất thực, vào kinh thành Giribbaja cao nhất, đúng lúc ấy tôi, đi đến để thấy khu rừng. Khi ấy khu rừng đầy hoa ấy, vang tiếng ong các loại vo ve, kèm tiếng chim cu gù, và đàn chim công nhảy múa. Ít tiếng động, không đông người, được trang điểm bằng nhiều đường kinh hành, rải rác các cốc và mái che, sáng lên nhờ các hành giả cao quý. Đang đi dạo, tôi nghĩ rằng: “Mắt ta đã có kết quả.” Cũng ở đó, tôi thấy một Tỷ-kheo trẻ đang tu tập, và suy nghĩ rằng: Trong khu rừng đáng yêu như thế này, vị này đang ở tuổi thanh xuân mới, như mùa xuân, với dáng vẻ đáng yêu, và được phú cho sắc đẹp, Ngồi ở gốc cây, đầu cạo, đắp y hai lớp, vị Tỷ-kheo này đang thiền, thật vậy, đã bỏ niềm vui sinh từ các đối tượng. Người tại gia nên hưởng dục thỏa thích, hưởng dục thỏa thích, sau này khi già mới nên thực hành Pháp?” con người rất hiền thiện này, Biết rằng “Suññaka” là hương thất, là nơi ở của đấng Chiến Thắng, tôi đến gần và thấy đấng Chiến Thắng, như mặt trời đang mọc. Ngồi một mình an lạc, đang được một người nữ quý phái quạt. Thấy vậy, tôi suy nghĩ như thế này: “Bậc Nhân Ngưu này không thô kệch.” Thiếu nữ ấy sáng như vàng, mặt và mắt như hoa sen, môi đỏ như quả bimba, răng như hoa nhài, là món thuốc bổ cho tim và mắt. Tai lấp lánh khuyên vàng, ngực như nụ hoa, eo như bàn thờ, mông đẹp, đùi như thân chuối, trang sức xinh đẹp. Áo khoác đỏ trên đôi vai, y phục dưới xanh mịn, với hình dáng nhìn không thỏa mãn được, và có vẻ cười duyên, Thấy nàng, tôi suy nghĩ như thế này: “Ôi, nàng này xinh đẹp quá, mắt này của ta chưa từng thấy như thế.” chưa từng thấy trước đây bao giờ, Kế đó, bị già chế ngự, nàng, mất màu, mặt biến dạng, răng gãy, đầu bạc, miệng chảy nước dãi, dơ bẩn. Tai co rút, mắt bạc trắng, bộ ngực xấu xí treo lủng lẳng, toàn thân nhăn nheo, thân nổi đầy gân. Thân cong, gậy là bạn đồng hành thứ hai, xương sườn lộ ra, gầy còm, run rẩy, ngã xuống, thở hổn hển liên hồi. Do đó tôi có sự chấn động, kinh ngạc, lông dựng đứng: “Đáng hổ thẹn thay sắc đẹp bất tịnh, nơi những kẻ ngu thích thú!” Đấng Đại Bi, thấy tâm tôi đã chấn động, đấng Thiện Thệ, tâm phấn chấn, đã nói những bài kệ này: “Hãy nhìn thân thể bệnh, bất tịnh, hôi thối này, này Khemā, hãy nhìn, đang chảy ra, đang rò rỉ, mà những kẻ ngu thích thú. Hãy tu tập tâm về đề mục bất mỹ, một điểm, khéo định tĩnh, niệm đặt trên thân phải có mặt, hãy có nhiều sự nhàm chán. Cái này thế nào thì cái kia thế ấy, cái kia thế nào thì cái này thế ấy. bên trong và bên ngoài, hãy lìa bỏ ham muốn đối với thân. Hãy tu tập về vô tướng, hãy bỏ khuynh hướng ngã mạn ngủ ngầm. Từ đó, nhờ hiểu thấu ngã mạn, nàng sẽ sống an tịnh. Những kẻ bị ái dục nhuộm đỏ rơi vào dòng chảy, như con nhện sa vào lưới do chính nó làm, cắt đứt cả điều ấy rồi xuất gia, bỏ dục lạc, không còn mong cầu.” Tâm tôi đã sẵn sàng, đấng Điều Phục Nhân, biết được, đã thuyết giảng Kinh Mahānidāna, bài kinh, để huấn luyện tôi. Nghe bài kinh cao nhất ấy, tôi nhớ lại nhận thức xưa. Đang đứng tại đó, tôi được an tịnh, và làm Pháp nhãn trong sạch. Ngay lúc ấy tôi sụp xuống dưới chân bậc đại ẩn sĩ, ngay lúc ấy, dưới chân Ngài, để bày tỏ lỗi lầm, tôi đã nói lời này: “Kính lễ Ngài, bậc thấy tất cả! Kính lễ Ngài, kho tàng của lòng bi! Kính lễ Ngài, bậc đã vượt qua luân hồi! Kính lễ Ngài, bậc ban sự bất tử! Con đã lao vào rừng rậm tà kiến, bị ái dục làm mê mờ, nhờ Ngài, bằng phương tiện đúng đắn, con được huấn luyện, vui thích trong sự rèn luyện. Vì không được thấy những bậc đại ẩn sĩ như thế, những bậc đại ẩn sĩ như thế, chịu khổ đau lớn, các chúng sinh trong biển luân hồi. Khi con không nhận ra Ngài là nơi nương nhờ của thế gian, bậc không tham, đã đến tận cùng của tham, không thấy Ngài dù Ngài ở gần, con bày tỏ lỗi lầm ấy. Bậc có lợi ích lớn, bậc cho điều cao quý, nghi ngờ rằng “không có lợi ích”, mê đắm sắc đẹp, con đã không đến gần, con bày tỏ lỗi lầm ấy.” bậc có giọng nói ngọt ngào vang rền, đấng Chiến Thắng đại bi, đã nói: “Này Khemā, hãy đứng lại.” đang rưới sự bất tử lên tôi, Khi ấy, cúi đầu đảnh lễ, và đi nhiễu quanh Ngài rồi ra đi. Thấy nhà vua, tôi đã nói lời này: “Ôi bậc khuất phục kẻ thù, phương tiện khéo này, đã được bệ hạ nghĩ ra. Vì muốn thấy khu rừng, bậc hiền trí, vị ban Niết-bàn, đã được thấy. Tâu bệ hạ, nếu ngài vui lòng, trong giáo pháp của vị như thế ấy. thiếp sẽ xuất gia, đã nhàm chán sắc đẹp, thiếp đã nhàm chán sắc đẹp, nhờ lời của bậc hiền trí.”

Phần tụng thứ hai.

vị lãnh chúa ấy đã chắp tay lên
và nói rằng:
“Này hiền thê, trẫm cho phép nàng.
Cầu chúc sự xuất gia được thành tựu đến nàng.”
Và sau khi xuất gia,
khi ấy đã được nửa tháng,
sau khi nhìn thấy sự sáng lên của ngọn đèn và sự diệt tắt,
tôi có tâm bị chấn động.
Nhàm chán tất cả các hành,
được rành rẽ về biểu hiện của duyên (tùy thuận sanh khởi),
sau khi đã vượt qua bốn dòng nước lũ,
tôi đã đạt được phẩm vị A-la-hán.
Tôi đã có năng lực về thần thông,
về thiên nhĩ giới,
tôi cũng đã có năng lực về trí biết tâm của người khác.
và tôi cũng đã có năng lực
Tôi biết được đời sống trước đây,
thiên nhãn được thanh tịnh,
tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt,
giờ đây không còn tái sanh nữa.
về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ,
và tương tợ y như thế về phép biện giải
Trí tuệ hoàn toàn thanh tịnh của tôi
là được thành tựu trong Giáo Pháp của đức Phật.
Tôi được thiện xảo về các (pháp) thanh tịnh,
tự tin trong vấn đề tranh luận,
biết về phương thức của vi diệu pháp,
và đã đạt được năng lực ở Giáo Pháp.
Sau đó,
được đức vua (Pasenadi) chủ quản xứ Kosala hỏi
các câu hỏi khôn khéo về vấn đề vật thực,
tôi đã giải thích đúng theo bản thể.
Sau đó, vị vua ấy đã đi đến gặp đấng Thiện Thệ
và đã hỏi lại.
thì đức Phật đã giải thích y như thế ấy.
Các điều ấy đã được tôi giải thích như thế nào
Đấng Chiến Thắng, bậc Tối Thượng Nhân hoan hỷ về đức hạnh ấy
đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng
là “Vị đứng đầu các vị có đại tuệ”
trong số các vị tỳ khưu ni.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt,
tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói),
tôi sống không còn lậu hoặc.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn,
đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
đã thực hành lời dạy của đức Phật
Bốn (tuệ) phân tích,
tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng;
tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Nghĩa là

Vị chúa đất ấy chắp tay lên, khi ấy đã nói rằng: “Này nàng hiền, trẫm cho phép nàng. Chúc việc xuất gia của nàng thành tựu.” Sau khi xuất gia, khi nửa tháng đã đến, thấy ngọn đèn sáng lên và sự phân tán của nó, tâm tôi bị chấn động. Chán ngán mọi hành, khéo về các dạng của duyên khởi, vượt qua bốn dòng lũ, tôi chứng quả A-la-hán. Tôi đã có năng lực về thần thông, về thiên nhĩ, về trí biết tâm người khác, tôi cũng đã làm chủ, Tôi biết đời sống trước đây, thiên nhãn đã trong sạch, mọi ô nhiễm đã cạn sạch, giờ đây không còn tái sinh nữa. về ý nghĩa, Pháp, ngôn từ, và cũng thế về khả năng biện giải, Trí của tôi hoàn toàn trong sạch, đã sinh khởi trong giáo pháp của đức Phật. Tôi khéo về các pháp thanh tịnh, tự tin trong các vấn đề tranh luận, biết phương thức của Abhidhamma, và đã đạt năng lực trong giáo pháp. Sau đó, tại địa điểm cổng tháp, được vua xứ Kosala hỏi, các câu hỏi tinh tế, tôi giải thích đúng như thật. Rồi vị vua ấy đến gặp đấng Thiện Thệ, đến gần và hỏi lại. đức Phật giải thích đúng y như thế. như tôi đã giải thích cho vua thế nào, Đấng Chiến Thắng hoan hỷ về đức tính ấy, đặt tôi vào vị thế cao nhất, “đứng đầu trong các vị có đại trí tuệ”, trong các Tỷ-kheo-ni, bậc người cao nhất. Phiền não của tôi đã bị đốt sạch, mọi kiếp sống đã dứt sạch; như voi cái đã đứt dây trói, tôi sống không còn ô nhiễm trong tâm. Thật tốt đẹp, tôi đã thành tựu trọn vẹn, tôi đã đạt ba minh, ngay trước mặt đức Phật cao nhất, tôi đã làm theo lời dạy của đức Phật. Bốn tuệ phân tích, tám giải thoát và sáu thắng trí đã chứng đạt; tôi đã làm theo lời dạy của đức Phật.

Tỷ-kheo-ni Khemā đã nói những bài kệ này như vậy. Ký sự về trưởng lão ni Khemā là phần thứ tám.