Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Milinda & Apadāna › Ký sự về trưởng lão Udena

Ký sự về trưởng lão Udena

Udenattheraapadāna · THA-AP412 · 208 đoạn

Trưởng lão Udena kể thời ông sống ẩn cư ở núi Paduma gần Hy-mã-lạp và cúng dường đức Phật. Nhờ phước ấy ông trải qua nhiều kiếp an lạc, cuối cùng chứng đắc tuệ phân tích và thắng trí. Cuối phẩm Metteyya có phần tóm lược liệt kê mười vị trưởng lão của phẩm và tổng số câu kệ.

Điểm thực hành

Một việc lành làm với tâm tịnh tín ở nơi thanh vắng vẫn kết quả lâu dài qua nhiều kiếp.

Trưởng Lão Ký Sự Phẩm Metteyya Udena

Ở không xa núi Hi-mã-lạp,
có ngọn núi tên là Paduma,
có khu ẩn cư của tôi đã khéo được xây dựng,
có gian nhà rộng bằng lá đã khéo được tạo lập.
Các con sông chảy qua nơi ấy có những bến nước cạn xinh xắn làm thích ý.
Các con sông luôn luôn có nước trong,
có nước mát,
xinh đẹp.
Có các loài cá như là cá pāṭhīna, cá pāvusa,
cá valaja, cá muñja, và cá rohita.
Những loài cá này thường xuyên sống ở dòng sông,
đồng thời làm cho các con sông trở nên rực rỡ.
(Các con sông) được che phủ bởi các cây xoài và cây mận.
Tương tợ như thế,
có các cây bông hường, cây tilaka, cây bả đậu,
cây hoa kèn làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
Các cây aṅkolaka,
cây bimbijāla,
và cây māyākārīđược trổ hoa,
trong khi tỏa ra hương thơm chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
Các cây atimutta,
cây sattalika, cây nāga,
và cây sālāđược trổ hoa,
trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
Các cây kosamba,
cây salala, cây nīpa,
và cây aṭṭhaṅgakhéo được trổ hoa,
trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
Ở khu ẩn cư có nhiều loại trái cây như trái harītaka,
trái āmalaka,
trái xoài, trái mận đỏ,
trái vibhīṭaka, trái táo, trái bhallātaka, và trái billa.
Tại nơi ấy,
ở khu ẩn cư của tôi các cây kalamba,
cây kandalītrổ hoa,
trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
Các cây asokapiṇḍī,
cây varī,
và cây nimbađược trổ hoa,
trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
Các cây punnāga,
cây giripunnāga,
cây timiraở tại nơi ấy được trổ hoa,
trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
Các cây nigguṇḍī,
cây sirinigguṇḍī,
cây campaở tại nơi này được trổ hoa,
trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
Không xa có cái hồ nước được
líu lo bởi loài ngỗng đỏ,
được che phủ bởi các cây mạn-đà-la,
bởi các bông sen xanh và các bông sen đỏ.
Có bến nước cạn xinh xắn làm thích ý,
có nước trong, có nước mát,
trong vắt tương tợ ngọc pha-lê,
(cái hồ nước) làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
Ở tại nơi ấy, có các bông sen xanh, các bông sen trắng,
và các bông sen đỏ nở rộ.
Được che phủ bởi các cây mạn-đà-la,
(cái hồ nước) làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
Có các loại cá như là cá pāṭhīna, cá pāvusa,
cá valaja, cá muñja, cá rohita.
Và trong khi thơ thẩn ở tại nơi ấy,
chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
Có các con cá sấu kumbhīla,
cá sấu suṁsumāra, các con rùa, các con gaha,
các con rắn,
và các con mãng xà làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
Và ở tại nơi ấy có các loài sống ở sông như chim bồ câu,
ngỗng trời,
ngỗng đỏ, chim le le, chim sáo,
chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
Các cây nayita,
cây ambagandhī,
và cây dừa dại ở tại nơi ấy được trổ hoa,
trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
Có các con sư tử, cọp, báo,
gấu, chó sói,
và linh cẩu,
trong khi đi lang thang ở khu rừng bao la chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
Có các vị (đạo sĩ) mang các búi tóc,
có y choàng là tấm da dê,
trong khi đi lang thang ở khu rừng bao la các
vị làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
Các vị này mặc các tấm da dê,
cẩn trọng, có hành vi thanh tịnh,
có hành trang ít ỏi,
tất cả các vị ấy làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ.
Lúc bấy giờ,
các vị đã cầm lấy túi vật dụng rồi đi sâu vào rừng.
Trong khi thọ thực các rễ và trái cây,
các vị thường xuyên sống ở khu ẩn cư.
Các vị ấy không đem lại
củi (và) nước rửa chân.
Do năng lực của tất cả các vị (các
vật dụng) được tự chúng mang lại.
Có tám mươi bốn ngàn vị ẩn sĩ đã tụ hội ở tại nơi này.
Tất cả các vị này là các vị
tầm cầu mục đích tối thượng,
có thiền chứng.
Là các đạo sĩ khổ hạnh,
có sự hành trì Phạm hạnh, đang năng nổ trong việc duy trì sự nhập định,
có sự di chuyển ở không trung,
tất cả các vị thường xuyên sống ở khu ẩn cư.
Mỗi năm ngày, các vị tụ hội lại,
có sự chăm chú, có hành vi thanh tịnh.
Sau khi đảnh lễ lẫn nhau,
các vị ra đi bằng hướng đối nghịch.
Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara là
bậc thông suốt về tất cả các pháp.
Trong khi hủy diệt điều tăm tối ấy,
đấng Chiến Thắng đã tức thời hiện khởi.
Ở lân cận khu ẩn cư của tôi có con Dạ-xoa có đại thần lực.
Khi ấy,
nó đã thông báo cho tôi về đấng Toàn
Giác bậc Lãnh Đạo Padumuttara rằng:
“Thưa ngài,
đức Phật bậc Đại Hiền Trí
Padumuttara này đã xuất hiện.
Ngài hãy mau đi đến và phục vụ bậc Toàn Giác.”
Sau khi lắng nghe lời nói của con Dạ-xoa,
khi ấy với tâm ý trong sạch,
tôi đã xếp đặt lại khu ẩn
cư và đã lìa khỏi khu rừng.
Như là mảnh vải đang bốc cháy,
sau khi lìa khỏi khu ẩn cư tôi đã trú ngụ
(chỉ) một đêm và đã đi
đến gặp đấng Hướng Đạo.
Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara,
vị thọ nhận các vật hiến cúng,
trong khi công bố về bốn Sự Thật
đã thuyết giảng về vị thế Bất Tử.
Sau khi cầm lấy đóa sen khéo được nở rộ,
tôi đã đi đến gần bậc Đại Ẩn Sĩ.
Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng,
tôi đã dâng lên đức Phật.
Sau khi cúng dường bậc Toàn Giác,
đấng Lãnh Đạo Padumuttara,
tôi đã khoác tấm da dê một bên vai rồi
đã ngợi ca đấng Lãnh Đạo Thế Gian rằng:
“ĐấngToàn Giác bậc không còn lậu hoặc
sống ở thế gian này với trí tuệ nào,
tôi sẽ tán dương trí tuệ ấy.
Xin các người hãy lắng nghe tôi nói.
Sau khi cắt đứt dòng chảy luân hồi,
Ngài đã giúp cho tất cả chúng sanh vượt qua.
Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài,
họ vượt qua dòng chảy ái dục.
Bạch đấng Tối Thượng của loài người, Ngài là bậc thầy,
là biểu hiệu, là ngọn cờ, là mục đích tối cao,
là nơi nương tựa, là sự nâng đỡ,
là ngọn đèn của chúng sanh.
Bạch đấng Toàn Tri,
cho đến những người được gọi là các bậc Xa Phu có đồ chúng ở trên thế gian,
Ngài là đấng Cao Cả,
tất cả những người ấy đều được gộp chung lại ở Ngài.
Bạch đấng Toàn Tri, bằng trí tuệ của Ngài,
Ngài đã giúp cho nhiều người vượt qua.
Sau khi đi đến diện kiến Ngài,
họ sẽ được chấm dứt khổ đau.
Bạch đấng Hữu Nhãn,
bạch đấng Đại Hiền Trí,
những hương thơm nào đã được sanh lên và tỏa ra ở thế gian,
không có gì sánh bằng hương thơm ở Phước Điền của Ngài.
Bạch đấng Hữu Nhãn,
Ngài giúp cho thoát khỏi sự sanh vào loài thú,
địa ngục. Bạch đấng Đại Hiền Trí,
Ngài giảng giải về Đạo Lộ an tịnh, không còn tạo tác.”
Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara,
vị thọ nhận các vật hiến cúng,
đã ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu
và đã nói lên những lời kệ này:
“Người nào được tịnh tín đã tự tay
mình cúng dường trí tuệ của Ta,
Ta sẽ tán dương người ấy.
Các người hãy lắng nghe Ta nói.
Người này sẽ sướng vui ở thế giới
chư Thiên trong ba mươi ngàn kiếp,
và sẽ trở thành đấng Chuyển
Luân Vương một ngàn lần.”
Tôi đã nhận lãnh điều lợi ích đã được đạt thành một cách tốt đẹp.
Sau khi làm hài lòng bậc có sự hành trì tốt đẹp,
sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc,
tôi sống không còn lậu hoặc.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt,
tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói),
tôi sống không còn lậu hoặc.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn,
đã thành tựu tam minh,
đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
Bốn (tuệ) phân tích,
tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng;
tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Nghĩa là

ở không xa núi Hi-mã-lạp, có ngọn núi tên là Paduma, có khu ẩn cư của tôi đã khéo được xây dựng, có gian nhà rộng bằng lá đã khéo được tạo lập. các con sông chảy qua nơi ấy, có những bến nước cạn xinh xắn làm thích ý; có nước trong, có nước mát, các con sông luôn luôn chảy qua. có các loài cá như là cá pāṭhīna, cá pāvusa, cá valaja, cá muñja, và cá rohita. những loài cá này làm cho các con sông trở nên rực rỡ, chúng thường xuyên sống ở dòng sông. các con sông được che phủ bởi các cây xoài và cây mận. cây kareri, cây tilaka, tương tợ như thế; cây uddālaka, cây pāṭalī, làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ. các cây aṅkolaka, cây bimbijāla, và cây māyākārī được trổ hoa, trong khi tỏa ra hương thơm, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ. các cây atimutta, cây sattalika, cây nāga, cây sālā được trổ hoa, trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ. các cây kosamba, cây salala, cây nīpa, và cây aṭṭhaṅga được trổ hoa, trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ. ở khu ẩn cư có nhiều loại trái cây như trái harītaka, trái āmalaka, trái xoài, trái mận đỏ, trái vibhītaka, trái táo, trái bhallātaka, và trái billa, có nhiều trái cây ở khu ẩn cư. các cây kalamba, cây kandalī tại nơi ấy, trổ hoa ở khu ẩn cư của tôi; trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ. các cây asokapiṇḍī, cây varī, và cây nimba được trổ hoa, trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ. các cây punnāga, cây giripunnāga, cây timira ở tại nơi ấy được trổ hoa; trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ. các cây nigguṇḍī, cây sirinigguṇḍī, cây campa ở tại nơi này được trổ hoa; trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ. không xa có cái hồ nước được líu lo bởi loài ngỗng đỏ, được che phủ bởi các cây mạn-đà-la, bởi các bông sen xanh và các bông sen đỏ. có nước trong, có nước mát, có những bến nước cạn xinh xắn làm thích ý, trong vắt tương tợ ngọc pha-lê, cái hồ nước làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ. ở tại nơi ấy, có các bông sen xanh, các bông sen trắng, và các bông sen đỏ nở rộ. được che phủ bởi các cây mạn-đà-la, cái hồ nước làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ. có các loại cá như là cá pāṭhīna, cá pāvusa, cá valaja, cá muñja, cá rohita. và trong khi thơ thẩn ở tại nơi ấy, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ. có các con cá sấu kumbhīla, cá sấu suṁsumāra, các con rùa, nhiều con gaha, các con rắn ogahā, và các con mãng xà, làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ. và ở tại nơi ấy có chim bồ câu, ngỗng trời ravihaṁsa, ngỗng đỏ cakkavāka, các loài sống ở sông; chim le le, chim sáo ở nơi này, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ. các cây nayita, cây ambagandhī, và cây ketaka ở tại nơi ấy được trổ hoa; trong khi tỏa ra hương thơm của cõi trời, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ. có các con sư tử, cọp, báo, gấu, chó sói, và linh cẩu, trong khi đi lang thang ở khu rừng bao la, chúng làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ. có các vị đạo sĩ mang các búi tóc, có y choàng là tấm da dê, trong khi đi lang thang ở khu rừng bao la các vị làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ. các vị này mặc các tấm da dê, cẩn trọng, có hành vi thanh tịnh, có hành trang ít ỏi, tất cả các vị ấy làm cho khu ẩn cư của tôi trở nên rực rỡ. sau khi cầm lấy túi vật dụng, các vị rồi đi sâu vào rừng vào lúc bấy giờ. trong khi thọ thực các rễ và trái cây, các vị thường xuyên sống ở khu ẩn cư. các vị ấy không đem lại củi và nước rửa chân. do năng lực của tất cả các vị (các vật dụng) được tự chúng mang lại. có tám mươi bốn ngàn vị ẩn sĩ đã tụ hội ở tại nơi này. tất cả các vị này là các vị tất cả các vị này đều có thiền chứng, là những vị tầm cầu mục đích tối thượng. là các đạo sĩ khổ hạnh, có sự hành trì Phạm hạnh, đang năng nổ trong việc duy trì sự nhập định, có sự di chuyển ở không trung, tất cả các vị thường xuyên sống ở khu ẩn cư. mỗi năm ngày, các vị tụ hội lại, có sự chăm chú, có hành vi thanh tịnh. sau khi đảnh lễ lẫn nhau, các vị ra đi bằng hướng đối nghịch. đấng Chiến Thắng tên Padumuttara là bậc thông suốt về tất cả các pháp. trong khi hủy diệt điều tăm tối ấy, đấng Chiến Thắng đã tức thời hiện khởi. ở lân cận khu ẩn cư của tôi, có con Dạ-xoa có đại thần lực; nó đã thông báo cho tôi về đấng Toàn giác bậc Lãnh Đạo Padumuttara rằng: đức Phật này đã xuất hiện, Padumuttara, bậc Đại Hiền Trí; ngài hãy mau đi đến bậc Toàn Giác và phục vụ, thưa ngài.” sau khi lắng nghe lời nói của con Dạ-xoa, khi ấy với tâm ý trong sạch, tôi đã xếp đặt lại khu ẩn cư và đã lìa khỏi khu rừng. như là mảnh vải đang bốc cháy, sau khi lìa khỏi khu ẩn cư tôi đã trú ngụ chỉ một đêm và đã đi đến gặp đấng Hướng Đạo. đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, trong khi công bố về bốn Sự Thật đã thuyết giảng về vị thế Bất Tử. sau khi cầm lấy đóa sen khéo được nở rộ, tôi đã đi đến gần bậc Đại Ẩn Sĩ. với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng lên đức Phật. sau khi cúng dường bậc Toàn Giác, đấng Lãnh Đạo Padumuttara, tôi đã khoác tấm da dê một bên vai rồi đã ngợi ca đấng Lãnh Đạo Thế Gian rằng: với trí tuệ nào mà đấng Toàn Giác sống ở thế gian này, bậc không còn lậu hoặc; tôi sẽ tán dương trí tuệ ấy. xin các người hãy lắng nghe tôi nói. sau khi cắt đứt dòng chảy luân hồi, ngài đã giúp cho tất cả chúng sanh vượt qua. sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài, họ vượt qua dòng chảy ái dục. bạch đấng Tối Thượng của loài người, Ngài là bậc thầy, là biểu hiệu, là ngọn cờ, là mục đích tối cao, là nơi nương tựa, là sự nâng đỡ, là ngọn đèn của chúng sanh. cho đến những người có đồ chúng ở trên thế gian, được gọi là các bậc Xa Phu, bạch đấng Toàn Tri, Ngài là đấng Cao Cả, tất cả những người ấy đều được gộp chung lại ở Ngài. bạch đấng Toàn Tri, bằng trí tuệ của Ngài, ngài đã giúp cho nhiều người vượt qua. sau khi đi đến diện kiến Ngài, họ sẽ được chấm dứt khổ đau. những hương thơm nào đã được sinh lên, và tỏa ra ở thế gian, bạch đấng Hữu Nhãn; không có hương thơm nào sánh bằng hương thơm của Ngài, ở Phước Điền, bạch đấng Đại Hiền Trí. sự sinh vào loài thú, địa ngục, Ngài giúp cho thoát khỏi, bạch đấng Hữu Nhãn; về Đạo Lộ an tịnh, không còn tạo tác, Ngài giảng giải, bạch đấng Đại Hiền Trí.” đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đã ngồi xuống ở hội chúng Tỷ-kheo và đã nói lên những lời kệ này: người nào đã cúng dường trí tuệ của Ta, được tịnh tín, đã tự tay mình (cúng dường), ta sẽ tán dương người ấy. các người hãy lắng nghe Ta nói. trong ba mươi ngàn kiếp, người này sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên, một ngàn lần sẽ là vua, sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương.” tôi đã nhận lãnh điều lợi ích đã được đạt thành một cách tốt đẹp. sau khi làm hài lòng bậc có sự hành trì tốt đẹp, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc. các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực đã được cởi trói, tôi sống không còn lậu hoặc. quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng. bốn tuệ phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi chứng đắc; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Trưởng lão Udena đã nói những lời kệ ấy như vậy. Ký sự về trưởng lão Udena, bài thứ 10. Phẩm Metteyya là phẩm thứ bốn mươi mốt. Phần tóm lược của phẩm này:

Vị trưởng lão Metteyya,
vị Puṇṇaka, vị Mettagū, luôn cả vị Dhotaka,
vị Upasīva, vị Nanda,
và vị Hemaka là vị thứ bảy ở nơi ấy,
vị Todeyya,
vị Jatukaṇṇī,
và vị Udeno có danh vọng lớn lao.
Ở đây là ba trăm câu kệ và thêm vào tám mươi ba câu.

Nghĩa là

vị trưởng lão Metteyya, vị Puṇṇaka, vị Mettagū, luôn cả vị Dhotaka, vị Upasīva, vị Nanda, và vị Hemaka là vị thứ bảy ở nơi ấy, vị Todeyya, vị Jatukaṇṇī, và vị Udena có danh vọng lớn lao. ở đây là ba trăm câu kệ, và thêm vào tám mươi ba câu.