Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Milinda & Apadāna › Câu hỏi về việc cho thấy vật được che giấu sau lớp vải

Câu hỏi về việc cho thấy vật được che giấu sau lớp vải

3. Vatthaguyhanidassanapañha · MIL5.3.3 · 47 đoạn

Vua Milinda hỏi: Đức Phật dạy giữ gìn thân là tốt lành, sao Ngài lại cho Bà-la-môn Sela thấy tướng mã âm tàng? Ngài Nāgasena đáp: Ngài chỉ dùng thần thông cho riêng người đang hoài nghi thấy một hình bóng tương ứng để người ấy giác ngộ, như cảm thọ bệnh chỉ người bệnh tự cảm nhận; đức Như Lai biết cách dùng đúng phương tiện cho từng người, như thầy thuốc dùng đúng thuốc cho từng người bệnh.

Điểm thực hành

Giúp người khác hiểu ra một điều đúng cần đúng người, đúng lúc, đúng cách: có khi cần nói thẳng, có khi cần im lặng, có khi cần một ví dụ chạm đúng mối nghi của người nghe.

Mi-lan-đà Hỏi Đáp Phần Câu Hỏi Nan Giải Phẩm Đã Bị Giải Tán 3. Câu Hỏi Về Việc Cho Thấy Vật Được Che Giấu Sau Lớp Vải “Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Như Lai nói đến:

Lành thay sự phòng hộ thân!
Lành thay sự phòng hộ lời nói!
Lành thay sự phòng hộ ý!
Lành thay sự phòng hộ tất cả.

Nghĩa là

Giữ gìn thân cho cẩn thận là điều tốt lành. Giữ gìn lời nói cho cẩn thận là điều tốt lành. Giữ gìn ý nghĩ cho cẩn thận là điều tốt lành. Giữ gìn tất cả mọi mặt cho cẩn thận là điều tốt lành.

Lại nữa, đức Như Lai, sau khi ngồi xuống ở giữa bốn hội chúng, đã cho Bà-la-môn Sela nhìn thấy tướng mã âm tàng ở phía trước chư Thiên và loài người. Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đức Thế Tôn đã nói là: ‘Lành thay việc giữ gìn thân,’ thì lời nói rằng: ‘Ngài đã cho Bà-la-môn Sela nhìn thấy tướng mã âm tàng’ là sai. Nếu Ngài đã cho Bà-la-môn Sela nhìn thấy tướng mã âm tàng, thì lời nói rằng: ‘Lành thay việc giữ gìn thân’ cũng là sai. Câu hỏi hai chiều này nay đến lượt ngài; xin ngài hãy gỡ rối.” “Tâu đại vương, đức Thế Tôn quả đã nói: ‘Lành thay việc giữ gìn thân,’ và tướng mã âm tàng đã được cho Bà-la-môn Sela nhìn thấy. Tâu đại vương, đối với người nào sinh khởi hoài nghi về đức Như Lai, để giúp chính người ấy được giác ngộ, đức Thế Tôn đã dùng thần thông cho thấy hình bóng tương ứng của phần thân ấy; chỉ người ấy mới nhìn thấy phép lạ ấy.”

“Thưa ngài Nāgasena, ai sẽ tin rằng chỉ một người ở hội chúng nhìn thấy vật được che giấu ấy, còn những người còn lại đang ở ngay tại chỗ ấy lại không nhìn thấy? Xin ngài hãy chỉ cho trẫm lý do trong việc này; xin hãy làm cho trẫm hiểu bằng lý lẽ.” “Tâu đại vương, trước đây đại vương đã từng nhìn thấy một người đàn ông nào đó bị bệnh, được bà con và bạn bè vây quanh chưa?” “Đúng vậy, thưa ngài.” “Tâu đại vương, hội chúng ấy có nhìn thấy cảm thọ ấy — cảm thọ mà người đàn ông ấy đang cảm nhận — không?” “Không được, thưa ngài. Chỉ người đàn ông ấy tự mình cảm nhận.” “Cũng vậy, tâu đại vương, đối với người nào sinh khởi hoài nghi về đức Như Lai, để giúp chính người ấy được giác ngộ, đức Thế Tôn đã dùng thần thông cho thấy hình bóng tương ứng của phần thân ấy; chỉ người ấy mới nhìn thấy phép lạ ấy.

Hoặc như, tâu đại vương, khi một vong linh nhập vào một người nào đó, hội chúng ấy có nhìn thấy vong linh ấy đang tiến đến gần không?” “Không được, thưa ngài. Chỉ người bệnh ấy nhìn thấy vong linh ấy tiến đến gần.” “Cũng vậy, tâu đại vương, đối với người nào sinh khởi hoài nghi về đức Như Lai, để giúp chính người ấy được giác ngộ, đức Thế Tôn đã dùng thần thông cho thấy hình bóng tương ứng của phần thân ấy; chỉ người ấy mới nhìn thấy phép lạ ấy.” “Thưa ngài Nāgasena, việc khó làm đã được đức Thế Tôn thực hiện, khi Ngài cho thấy vật không đáng được nhìn thấy ấy, dù chỉ cho một người.” “Không phải, tâu đại vương. Đức Thế Tôn không cho thấy vật được che giấu; Ngài đã dùng thần thông cho thấy cái hình bóng.”

“Thưa ngài, dù chỉ là cái hình bóng được nhìn thấy, vật che giấu cũng coi như đã được nhìn thấy; ai nhìn thấy vật ấy thì đã đạt được mục đích.” “Tâu đại vương, đức Như Lai cũng làm việc khó làm để làm giác ngộ những chúng sinh có khả năng giác ngộ. Tâu đại vương, nếu đức Như Lai lơi lỏng công việc, những chúng sinh có khả năng giác ngộ sẽ không được giác ngộ. Vì đức Như Lai biết cách làm giác ngộ những chúng sinh có khả năng giác ngộ, nên bằng cách nào khiến cho họ được giác ngộ, đức Như Lai làm giác ngộ họ bằng cách ấy. Tâu đại vương, như vị thầy thuốc phẫu thuật, bằng thứ thuốc nào khiến người bệnh được lành bệnh thì mang thứ thuốc ấy đến cho người bệnh: làm cho nôn mửa người cần phải nôn mửa, làm xổ người cần phải xổ, bôi dầu người cần phải bôi dầu, xông hơi người cần phải xông hơi; Cũng vậy, tâu đại vương, bằng cách nào khiến cho những chúng sinh có khả năng giác ngộ được giác ngộ, đức Như Lai làm giác ngộ họ bằng cách ấy.

Hoặc như, tâu đại vương, người phụ nữ có thai ngược cho vị thầy thuốc thấy vật che giấu không đáng được nhìn thấy; Cũng vậy, tâu đại vương, để làm giác ngộ những chúng sinh có khả năng giác ngộ, đức Như Lai đã dùng thần thông cho thấy hình bóng của vật che giấu không đáng được nhìn thấy. Tâu đại vương, không có chỗ nào gọi là không đáng được nhìn thấy khi xét theo từng con người cụ thể. Tâu đại vương, nếu có người nào, sau khi nhìn thấy trái tim của đức Thế Tôn, mà được giác ngộ, đức Thế Tôn cũng sẽ dùng cách ấy cho người ấy nhìn thấy trái tim. Tâu đại vương, đức Như Lai là người biết cách làm, và khéo léo trong việc thuyết giảng. Tâu đại vương, chẳng phải đức Như Lai, sau khi biết được khuynh hướng của trưởng lão Nanda, đã đưa vị ấy đến cõi trời và cho nhìn thấy các thiên nữ, nghĩ rằng: ‘Người con nhà danh giá này sẽ được giác ngộ nhờ việc này,’ và nhờ đó người con nhà danh giá ấy đã được giác ngộ sao?

Như vậy, tâu đại vương, trong khi khinh chê, trong khi chê trách, trong khi ghê tởm hình tướng đẹp đẽ bằng nhiều cách, đức Như Lai đã cho vị ấy nhìn thấy những tiên nữ có bàn chân như chân bồ câu, vì mục đích giúp cho vị ấy giác ngộ. Theo cách ấy nữa, đức Như Lai là người biết cách làm, và khéo léo trong việc thuyết giảng. Lại nữa, tâu đại vương, khi trưởng lão Cūḷapanthaka bị người anh đuổi ra khỏi tu viện, có tâm trí buồn bã, chán nản, đức Như Lai đã đi đến và trao cho một miếng vải mềm, nghĩ rằng: ‘Người con nhà danh giá này sẽ được giác ngộ nhờ việc này.’ Nhờ lý do ấy, người con nhà danh giá ấy đã đạt được khả năng làm chủ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.

Theo cách ấy nữa, tâu đại vương, đức Như Lai là người biết cách làm, và khéo léo trong việc thuyết giảng. Lại nữa, tâu đại vương, đức Như Lai đã không trả lời câu hỏi được Bà-la-môn Mogharāja hỏi đến lần thứ ba, nghĩ rằng: ‘Như vậy, tính ngã mạn của người con nhà danh giá này sẽ được lắng xuống; nhờ ngã mạn lắng xuống sẽ có sự chứng ngộ.’ Nhờ thế, ngã mạn của người con nhà danh giá ấy đã được lắng xuống, và nhờ ngã mạn lắng xuống, vị Bà-la-môn ấy đã đạt được khả năng làm chủ sáu Thắng Trí. Theo cách ấy nữa, tâu đại vương, đức Như Lai là người biết cách làm, và khéo léo trong việc thuyết giảng.” “Tốt lắm, thưa ngài Nāgasena! Câu hỏi đã được khéo gỡ rối bằng nhiều cách với nhiều lý lẽ: bụi rậm đã được làm thành không còn bụi rậm, bóng tối đã được làm thành ánh sáng, nút thắt đã được mở ra, lời tuyên bố của ngoại đạo đã bị đổ vỡ, con mắt Pháp đã sinh khởi cho những người con của đấng Chiến Thắng, các ngoại đạo không còn chói sáng; ngài đã đạt đến vị thế cao quý và cao nhất trong số các bậc thầy có hội chúng.”

Câu hỏi về việc cho thấy vật được che giấu sau lớp vải là câu hỏi thứ ba.