Ký sự về trưởng lão Tiṇasūlakachadaniya
Trưởng lão Tiṇasūlakachādaniya kể: sau khi suy xét về sinh, già, chết, ông xuất gia sống độc cư và lấy cỏ cùng lá che phủ chỗ ở khi cúng dường đức Phật. Nhờ đó ông trải qua nhiều kiếp không biết khổ cảnh, kiếp cuối thiêu đốt phiền não và chứng đắc tuệ phân tích cùng thắng trí.
Điểm thực hànhQuán xét thẳng thắn về sinh, già, chết là động lực chân thật để bước vào đời sống tu tập.
Trưởng Lão Ký Sự Phẩm Bhaddāli Tiṇasūlakachādaniya
sự già, và sự chết.
Sau khi lìa khỏi sự sống chung,
tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
Trong khi tuần tự du hành,
tôi đã đi đến bờ sông Gaṅgā.
Ở tại nơi ấy,
tôi đã nhìn thấy khoảnh đất nổi cao lên ở bờ sông Gaṅgā.
Sau khi tạo lập khu ẩn cư ở tại nơi ấy,
tôi sống ở khu ẩn cư.
Đường kinh hành của tôi đã khéo được thực hiện,
được lai vãng bởi các bầy chim khác loại.
Chúng đến gần tôi, và trở nên quen thuộc.
Và chúng hót líu lo một cách quyến rũ.
Trong khi đùa vui với chúng,
tôi sống ở khu ẩn cư.
Ở lân cận khu ẩn cư của tôi,
có con sư tử (vua của loài thú) đi khắp bốn phương.
Sau khi rời khỏi chỗ trú ẩn,
nó đã gầm lên như là tiếng sấm.
Và khi con nai chúa gào thét,
nụ cười đã xuất hiện ở tôi.
Trong lúc tìm kiếm con nai chúa,
tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian.
Sau khi nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian Tissa,
vị Trời của chư Thiên,
tôi đã trở nên mừng rỡ.
Với tâm mừng rỡ tôi đã cúng dường nhụy bông hoa nāga.
Tôi đã ca tụng đấng Lãnh Đạo Thế
Gian như là mặt trời đang mọc lên,
như là cây sālāchúa đã được trổ hoa,
như là vì sao osadhīđang chiếu sáng.
“Bạch đấng Toàn Tri,
Ngài đã giải thoát thế gian này luôn cả chư Thiên bằng trí tuệ của Ngài.
Sau khi làm cho Ngài hài lòng,
(chúng sanh) được hoàn toàn giải thoát khỏi sự sanh.
Bạch đấng Toàn Tri,
do sự không nhìn thấy chư Phật là các vị có sự nhìn thấy tất cả,
(chúng sanh) bị xâm chiếm bởi ái dục
sân hận (rồi) rơi vào địa ngục Vô Gián.
Bạch đấng Toàn Tri,
bạch đấng Lãnh Đạo Thế Gian,
sau khi đi đến diện kiến Ngài,
tất cả được giải thoát khỏi hữu (và) chạm đến Đạo Lộ Bất Tử.
Khi chư Phật,
các bậc Hữu Nhãn,
các đấng Phát Quang xuất hiện,
sau khi thiêu đốt các phiền não các Ngài thị hiện ánh sáng.”
Sau khi tán dương đấng Toàn Giác Tissa,
bậc Lãnh Đạo cao cả của thế gian,
tôi đã trở nên mừng rỡ.
Với tâm mừng rỡ tôi đã cúng dường hoa tiṇasūla.
Sau khi biết được ý định của tôi,
đấng Lãnh Đạo Thế Gian
Tissa đã ngồi xuống chỗ
ngồi của mình rồi đã nói lên những lời kệ này:
“Người nào được tịnh tín tự tay
mình che phủ Ta bằng các bông hoa,
Ta sẽ tán dương người ấy.
Các người hãy lắng nghe Ta nói.
Người ấy sẽ cai quản Thiên
quốc hai mươi lăm lần,
và sẽ trở thành đấng Chuyển
Luân Vương bảy mươi lăm lần.
Lãnh thổ vương quốc là bao la,
không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
Và (đó là) kết quả về hành động của
người ấy do sự cúng dường các bông hoa.
Và người nam này,
được gắn liền với nghiệp phước thiện,
khi đã gội đầu xong nếu ao ước về bông hoa,
(bông hoa) sẽ hiện ra ở phía trước.
(Nếu người này) ước muốn bất cứ điều gì với các dục,
chính điều ấy sẽ hiện ra.
Sau khi làm tròn đủ ý định,
(người này) sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
( Tụng phẩm thứ mười tám).
Có sự nhận biết mình,
có niệm (đầy đủ),
tôi đã thiêu đốt các phiền não.
Tôi đã ngồi ở ngay chỗ ngồi ấy và đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
Trong khi đi kinh hành,
trong khi nằm, trong khi ngồi,
hay trong khi đứng,
tôi sống thường xuyên tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng.
Ở tại nơi ấy, tôi không có sự thiếu hụt về y phục,
vật thực, thuốc men,
và chỗ nằm ngồi;
điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
Bây giờ, tôi đây đã đạt đến vị thế Bất Tử, thanh tịnh,
vô thượng.
Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc,
tôi sống không còn lậu hoặc.
(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông
hoa trước đây chín mươi hai kiếp,
tôi không còn biết đến khổ cảnh;
điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt,
tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói),
tôi sống không còn lậu hoặc.
Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn,
đã thành tựu tam minh,
đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
Bốn (tuệ) phân tích,
tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng;
tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Nghĩa là
về sự sanh, sự già, và sự chết, tôi đã suy xét vào lúc bấy giờ; sau khi lìa khỏi sự sống chung, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. trong khi tuần tự du hành, tôi đã đi đến bờ sông Gaṅgā. ở tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy khoảnh đất nổi cao lên ở bờ sông Gaṅgā. sau khi tạo lập khu ẩn cư ở tại nơi ấy, tôi sống ở khu ẩn cư. đường kinh hành của tôi đã khéo được thực hiện, được lai vãng bởi các bầy chim khác loại. chúng đến gần tôi, và trở nên quen thuộc. và chúng hót líu lo một cách quyến rũ. trong khi đùa vui với chúng, tôi sống ở khu ẩn cư. ở lân cận khu ẩn cư của tôi, có con sư tử vua của loài thú đi khắp bốn phương. sau khi rời khỏi chỗ trú ẩn, nó đã gầm lên như là tiếng sấm. và khi con sư tử gào thét, nụ cười đã xuất hiện ở tôi. trong lúc tìm kiếm con sư tử, tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Sau khi nhìn thấy vị Trời của chư Thiên, đức Tissa, bậc Lãnh Đạo cao nhất của thế gian, tôi đã trở nên mừng rỡ. với tâm mừng rỡ tôi đã cúng dường nhụy bông hoa nāga. như mặt trời đang mọc lên, như cây sālā chúa đang trổ hoa, như sao osadhī đang tỏa sáng, tôi đã ca tụng đấng Lãnh Đạo Thế Gian. bạch đấng Toàn Tri, ngài đã giải thoát thế gian này luôn cả chư Thiên bằng trí tuệ của Ngài. sau khi làm cho Ngài hài lòng, chúng sanh được hoàn toàn giải thoát khỏi sự sanh. bạch đấng Toàn Tri, do sự không nhìn thấy chư Phật là các vị có sự nhìn thấy tất cả, chúng sanh rơi vào địa ngục Vô Gián, bị xâm chiếm bởi ái dục và sân hận. sau khi đi đến diện kiến Ngài, bạch đấng Toàn Tri, đấng Lãnh Đạo Thế Gian, tất cả được giải thoát khỏi các hữu, và chạm đến Đạo Lộ Bất Tử. khi chư Phật, các bậc Hữu Nhãn, các đấng Phát Quang xuất hiện, sau khi thiêu đốt các phiền não, các Ngài thị hiện ánh sáng.” Sau khi tán dương đấng Toàn Giác, đức Tissa, bậc Lãnh Đạo cao cả của thế gian, tôi đã trở nên mừng rỡ. với tâm mừng rỡ tôi đã cúng dường hoa tiṇasūla. sau khi biết được ý định của tôi, đức Tissa, đấng Lãnh Đạo cao nhất của thế gian, đã ngồi xuống chỗ ngồi của mình rồi đã nói lên những lời kệ này: người nào đã che phủ Ta bằng các bông hoa, được tịnh tín, bằng các bàn tay của mình, ta sẽ tán dương người ấy. các người hãy lắng nghe Ta nói. hai mươi lăm lần, người ấy sẽ cai quản Thiên quốc; bảy mươi lăm lần, sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương. lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm. và đó là kết quả về hành động của người ấy do sự cúng dường các bông hoa. và người nam này, khi đã gội đầu xong, nếu ao ước về bông hoa, được gắn liền với nghiệp phước thiện, (bông hoa) sẽ hiện ra ở phía trước. nếu người này ước muốn bất cứ điều gì với các dục, chính điều ấy sẽ hiện ra. sau khi làm tròn đủ ý định, người này sẽ Niết-bàn không còn lậu hoặc.” Tụng phẩm thứ mười tám. sau khi thiêu đốt các phiền não, có sự nhận biết mình, có niệm đầy đủ, sau khi ngồi xuống ở một chỗ ngồi, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán. trong khi đi kinh hành, trong khi nằm, trong khi ngồi, hay trong khi đứng, sau khi tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng, tôi sống thường xuyên. về y phục, vật thực, thuốc men, và chỗ nằm ngồi; ở tại nơi ấy, tôi không có sự thiếu hụt; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật. bây giờ, tôi đây đã đạt đến vị thế Bất Tử, thanh tịnh, vô thượng. sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc. chín mươi hai kiếp về trước, kể từ khi tôi đã cúng dường bông hoa, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật. các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực đã được cởi trói, tôi sống không còn lậu hoặc. quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng. bốn tuệ phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi chứng đắc; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Trưởng lão Tiṇasūlakachādaniya đã nói những lời kệ ấy như vậy. Ký sự về trưởng lão Tiṇasūlakachādaniya, bài thứ 3.