Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tiểu Bộ › Sumaṅgalamātā

Sumaṅgalamātā

Sumaṅgalamātātherīgāthā · THIG2.3 · 12 đoạn

Mẹ của Sumaṅgala reo vui: bà đã 'giải thoát khéo' khỏi cái chày, khỏi người chồng vô liêm sỉ và cái nồi hôi mùi rắn nước; nay dập tắt tham và sân, ngồi dưới gốc cây hành thiền trong an lạc.

Điểm thực hành

Biết ơn cả những thứ tầm thường mình đã thoát được — cái chày, cái nồi — để thấy tự do nằm ở những buông bỏ rất cụ thể.

Therīgāthā 2.3 Nhóm Hai Sumaṅgalamātā

“Này cô ni đã khéo được giải thoát! Này cô ni đã khéo được giải thoát!
Lành thay, tôi đã được giải thoát khỏi cái chày.
Người chồng vô liêm sỉ của tôi và luôn cả cái dù lọng (không được tôi thích thú).
Cái nồi nhỏ của tôi tỏa ra mùi (thối) của loài rắn nước.
Tôi tiêu diệt sự luyến ái và sân hận
với âm thanh ‘tí ta tí tách.’
Sau khi đi đến gốc cây,
nhờ vào sự an lạc, tôi đây tham thiền (nghĩ rằng:) ‘Ôi, an lạc thay!’”

Nghĩa là

Đã giải thoát khéo! Đã giải thoát khéo! Lành thay, tôi đã thoát khỏi cái chày giã gạo. Ông chồng không biết xấu hổ của tôi, và cả cái dù lọng nữa — những thứ từng trói buộc tôi. Cái nồi nhỏ của tôi từng bốc mùi như rắn nước. Tôi dập tắt tham ái và sân hận nghe như tiếng 'xèo xèo' khi bị dập tắt. Rồi đến ngồi dưới gốc cây, tôi an lạc hành thiền, thầm nói: 'Ôi, an lạc thay!'

Trưởng lão ni Sumaṅgalamātā đã nói bài kệ như thế.