Sundarī
Bài kệ thuật câu chuyện của gia đình bà-la-môn Vāseṭṭhī: bà mất hết con, ngày đêm buồn bực, nhưng sau khi nghe Phật thuyết Pháp ở Mithilā thì xua tan nỗi sầu con. Chồng bà — ông Sujāta — cũng tìm đến Phật, xuất gia, sau ba đêm thành tựu ba Minh; người đánh xe nghe tin cũng xin xuất gia theo. Con gái là Sundarī, dù mẹ trao cho cả gia sản vì cha đã đi tu và cô là người thừa tự, vẫn quyết xuất gia vì nỗi sầu mất em trai; tu tập thành tựu ba Minh, đến Sāvatthi rống tiếng rống sư tử trước Phật và được Ngài chào đón.
Điểm thực hànhNỗi sầu mất người thân chỉ tan khi thấy được lối thoát khỏi sinh tử — như bà Vāseṭṭhī: bao nhiêu trăm đứa con của mình và của người khác trong quá khứ cũng đã mất như thế, nên không còn khóc cho riêng mình nữa.
Therīgāthā 13.4 Nhóm Hai Mươi Sundarī
trong khi để cho các người con trai đã chết bị nhai ngấu nghiến (bởi loài thú),
bà quả thật vô cùng buồn bực
ban ngày lẫn ban đêm.
Này nữ Bà-la-môn Vāseṭṭhī, hôm nay
sau khi đã để cho tất cả một trăm người con trai bị nhai ngấu nghiến,
vì lý do gì
mà bà đây không buồn bực nhiều?’
‘Này ông Bà-la-môn, nhiều trăm đứa con trai
và nhiều trăm tập thể thân quyến
của tôi và của ông trong thời quá khứ
đã bị để cho nhai ngấu nghiến (bởi loài thú).
Sau khi biết được lối thoát
ra khỏi sự sống và sự chết,
tôi đây không sầu muộn, không khóc lóc,
và cũng đã không còn buồn bực nữa.’
‘Này Vāseṭṭhī, bà nói lời như thế
quả thật là phi thường!
Sau khi biết Giáo Pháp của ai
mà bà nói lời vững chãi như thế?’
‘Này ông Bà-la-môn, đấng Toàn Giác ấy,
ở cạnh thành phố Mithilā,
đã thuyết giảng Giáo Pháp nhằm việc dứt bỏ tất cả khổ đau
cho các sanh linh.
Này ông Bà-la-môn, sau khi lắng nghe Giáo Pháp
không có mầm mống tái sanh của vị A-la-hán ấy,
tại nơi ấy, với Chánh Pháp đã được nhận thức,
tôi đã xua tan nỗi sầu muộn về những đứa con trai.’
‘Tôi đây cũng sẽ đi
về phía thành phố Mithilā.
Có lẽ đức Thế Tôn ấy
có thể giúp cho tôi giải thoát khỏi tất cả khổ đau.’
Vị Bà-la-môn đã nhìn thấy đức Phật,
bậc đã được hoàn toàn giải thoát, không còn mầm mống tái sanh.
Đấng Hiền Trí, bậc đã đi đến bờ kia của khổ đau,
đã thuyết giảng Giáo Pháp cho vị (Bà-la-môn) ấy
về Khổ, về sự sanh lên của Khổ,
về sự vượt qua Khổ,
và về Thánh Đạo tám chi phần
đưa đến sự yên lặng của Khổ.
Tại nơi ấy, với Chánh Pháp đã được nhận thức,
vị ấy đã tự mình thích thú với việc xuất gia.
Sau ba đêm,
Sujāta đã chạm đến ba Minh.
‘Này người đánh xe, hãy đến.
Ngươi hãy đi, hãy đưa cỗ xe này về.
Hãy chúc bà Bà-la-môn được mạnh khỏe (và nói rằng):
Giờ đây, ông Bà-la-môn đã xuất gia.
Sau ba đêm,
Sujāta đã chạm đến ba Minh.’
Và sau đó, người đánh xe đã nhận lấy cỗ xe
và một ngàn (đồng tiền) rồi
đã chúc bà Bà-la-môn được mạnh khỏe (và nói rằng):
‘Giờ đây, ông Bà-la-môn đã xuất gia.
Sau ba đêm,
Sujāta đã chạm đến ba Minh.’
‘Này người đánh xe, sau khi biết được ông Bà-la-môn có được ba Minh,
tôi cho ông một bình bát đầy
với cỗ xe đã thắng ngựa này,
và luôn cả một ngàn (đồng tiền).’
‘Thưa bà Bà-la-môn, hãy để cỗ xe đã thắng ngựa này
và luôn cả một ngàn (đồng tiền) lại cho chính bà.
Tôi cũng sẽ xuất gia
trong sự chứng minh của bậc có trí tuệ cao quý.’
‘Sau khi từ bỏ voi, bò, ngựa, ngọc ma-ni, nhẫn,
và tài sản gia đình dồi dào này,
cha của con đã xuất gia.
Này Sundarī, là người nữ thừa tự của gia đình,
con hãy thọ hưởng các của cải.’
‘Sau khi từ bỏ voi, bò, ngựa, ngọc ma-ni, nhẫn,
và tài sản gia đình đáng yêu này,
cha của con đã xuất gia,
bị khổ sở vì nỗi sầu muộn về đứa con trai.
Con cũng sẽ xuất gia,
bị khổ sở vì nỗi sầu muộn về người em trai.’
‘Này Sundarī, mong rằng ý định ấy của con,
điều mà con ước nguyện, được thành tựu.
Đồ ăn do đã đứng (chờ đợi), sự khất thực,
và y may bằng vải quăng bỏ,
trong khi chịu đựng những điều ấy,
con sẽ không còn lậu hoặc ở đời kế tiếp.’
‘Thưa ni sư, trong khi con là cô ni tu tập sự,
Thiên nhãn (của con) được trong sạch,
con biết đời sống trước đây,
nơi con đã sống trước đây.
Thưa đấng tốt lành,
thưa bậc chói sáng của hội chúng trưởng lão ni,
ba Minh đã được (con) thành tựu,
lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Thưa ni sư, hãy cho phép con;
con muốn đi đến Sāvatthi.
Con sẽ rống tiếng rống của sư tử
trong sự chứng minh của đức Phật tối cao.’
‘Này Sundarī, ngươi hãy nhìn xem bậc Đạo Sư
có sắc màu vàng, có làn da màu vàng,
bậc thuần phục những kẻ chưa được thuần phục,
đấng Toàn Giác, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu.
Ngài hãy nhìn Sundarī đang đi đến,
đã được hoàn toàn giải thoát, không còn mầm mống tái sanh,
có sự luyến ái đã được xa lìa, không còn bị ràng buộc,
có phận sự đã làm xong, không còn lậu hoặc.’
‘Bạch đấng Đại Hùng, sau khi rời khỏi Bārāṇasī,
con đã đi đến để gặp Ngài.
Nữ đệ tử Sundarī
xin đảnh lễ hai bàn chân của Ngài.
Ngài là đức Phật. Ngài là bậc Đạo Sư.
Bạch đấng Bà-la-môn, con là người con gái chính thống của Ngài,
đã được sanh ra từ miệng,
có phận sự đã làm xong, không còn lậu hoặc.’
‘Này vị ni hiền thiện, cô đây có việc đã đi đến tốt đẹp,
do đó cô có việc đã đi đến không xấu xa.
Bởi vì những người đã được thuần phục đi đến như vậy,
đã được đảnh lễ hai bàn chân của bậc Đạo Sư,
có luyến ái đã được xa lìa, không bị ràng buộc,
có phận sự đã làm xong, không còn lậu hoặc.’”
Nghĩa là
(Ông Bà-la-môn hỏi vợ:) 'Thưa bà, những người con đã mất, khi trước đây bà để thú dữ nhai ngấu nghiến, bà buồn bực vô cùng suốt ngày lẫn đêm. Hôm nay, sau khi đã để cho tất cả bị nhai ngấu nghiến, một trăm người con trai, này nữ Bà-la-môn; vì sao mà bà không buồn bực nhiều?' (Vāseṭṭhī đáp:) 'Này ông Bà-la-môn, nhiều trăm đứa con trai và nhiều trăm vòng thân quyến của tôi và của ông trong quá khứ cũng đã bị nhai ngấu nghiến như thế. Biết được lối thoát ra khỏi sinh và chết, tôi không sầu, không khóc, cũng không buồn bực nữa.' 'Thật phi thường, Vāseṭṭhī! Bà nói lời như thế quả là phi thường! Hiểu Giáo pháp của ai mà bà nói được lời như thế?' 'Đấng Toàn Giác ấy, thưa ông, ở tại thành Mithilā, thuyết Pháp để dứt bỏ mọi khổ đau cho các sinh linh. Sau khi nghe Giáo pháp không còn mầm mống tái sinh của bậc A-la-hán ấy, tại đó, hiểu được Chánh pháp rồi, tôi đã xua tan nỗi sầu vì con.' 'Ta cũng sẽ đi về phía thành Mithilā. May ra Đức Thế Tôn giải thoát ta khỏi mọi khổ đau.' Ông Bà-la-môn thấy Đức Phật, bậc hoàn toàn giải thoát, không còn mầm mống tái sinh. thuyết Pháp cho ông, Đấng Hiền trí, bậc đã đến bờ kia của khổ. về Khổ, nguồn sinh của Khổ, sự vượt qua Khổ, và Thánh đạo tám chi phần đưa đến sự lặng yên của Khổ. Tại đó, hiểu Chánh pháp rồi, ông vui lòng chọn xuất gia. Sau ba đêm, Sujāta chạm đến ba Minh. (Sujāta dặn:) 'Này người đánh xe, hãy đến. Ngươi hãy đi, đưa cỗ xe này về. Hãy chúc bà Bà-la-môn mạnh khỏe và nói rằng: 'Giờ đây, ông Bà-la-môn đã xuất gia. Sau ba đêm, Sujāta đã chạm đến ba Minh.' Sau đó, người đánh xe nhận lấy cỗ xe và một ngàn đồng tiền, rồi chúc bà Bà-la-môn mạnh khỏe và nói rằng: 'Giờ đây, ông Bà-la-môn đã xuất gia. Sau ba đêm, Sujāta đã chạm đến ba Minh.' (Bà nói:) 'cỗ xe thắng ngựa này, và một ngàn đồng tiền, này người đánh xe; nghe tin ông Bà-la-môn có ba Minh, tôi cho ông một bình bát đầy (vàng).' (Người đánh xe đáp:) 'Thưa bà, hãy giữ cỗ xe thắng ngựa này và cả một ngàn đồng tiền lại cho bà. Tôi cũng sẽ xuất gia nơi bậc có trí tuệ cao quý.' (Mẹ nói với Sundarī:) 'Cha con, sau khi từ bỏ voi, bò, ngựa, ngọc ma-ni, nhẫn, và tài sản gia đình dồi dào này, đã xuất gia. Này Sundarī, hãy thọ hưởng các của cải, con là người thừa tự của gia đình.' (Sundarī đáp:) 'Cha con, sau khi từ bỏ voi, bò, ngựa, ngọc ma-ni, nhẫn, và tài sản gia đình đáng yêu này, đã xuất gia, khổ sở vì nỗi sầu mất con trai. Con cũng sẽ xuất gia, khổ sở vì nỗi sầu mất em trai.' 'Này Sundarī, mong ý định của con, điều con ước nguyện, được thành tựu. Đồ ăn khất thực, và y may bằng vải quăng bỏ — sống đạm bạc với những thứ ấy, con sẽ không còn lậu hoặc ở đời sau.' 'Thưa ni sư, khi con còn là ni tu tập sự, thiên nhãn của con được trong sạch, con biết các đời sống trước, những nơi con đã sống trước đây. Thưa đấng tốt lành, thưa bậc chói sáng của hội chúng trưởng lão ni, ba Minh con đã thành tựu, lời dạy của Đức Phật đã được thực hành. Thưa ni sư, xin cho phép con; con muốn đi đến Sāvatthi. Con sẽ rống tiếng rống của sư tử trước Đức Phật tối cao.' 'Này Sundarī, hãy nhìn xem bậc Đạo sư sắc vàng, làn da vàng, bậc thuần phục những kẻ chưa được thuần phục, Đấng Toàn Giác, không sợ hãi từ bất cứ đâu. (Đức Phật nói:) 'Hãy nhìn Sundarī đang đến, hoàn toàn giải thoát, không còn mầm mống tái sinh, luyến ái đã xa lìa, không còn ràng buộc, phận sự đã làm xong, không còn lậu hoặc.' (Sundarī đảnh lễ:) 'Bạch Đấng Đại Hùng, rời khỏi Bārāṇasī, con đã đến gặp Ngài. Nữ đệ tử Sundarī xin đảnh lễ dưới chân Ngài. Ngài là Đức Phật. Ngài là bậc Đạo sư. Bạch Đấng Bà-la-môn, con là con gái chính thống của Ngài, sinh ra từ miệng Ngài, phận sự đã làm xong, không còn lậu hoặc.' (Đức Phật chào đón:) 'Này vị ni hiền thiện, cô đến tốt đẹp, cô đến không xấu xa chút nào. Vì những người đã được thuần phục đều đến như vậy, đảnh lễ dưới chân bậc Đạo sư, luyến ái đã xa lìa, không bị ràng buộc, phận sự đã làm xong, không còn lậu hoặc.'
Trưởng lão ni Sundarī đã nói bài kệ như thế.