Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tiểu Bộ › Kệ của trưởng lão Mahāmoggallāna

Kệ của trưởng lão Mahāmoggallāna

Mahāmoggallānattheragāthā · THAG20.1 · 299 đoạn

Bài kệ của trưởng lão Mahāmoggallāna, bậc đệ nhất thần thông. Mở đầu bằng bốn bài kệ quyết tâm của người ở rừng, đi khất thực, vui với vật trong bát: nội tâm định tĩnh, hãy phá tan đạo binh của Thần Chết như voi phá chòi lau sậy. Rồi là lời mắng thân thể như nói với người đàn bà dụ hoặc: cái chòi xương khâu bằng thịt gân, túi chứa phân bọc da, nữ yêu tinh có chín dòng chảy tuôn trào không ngừng — Tỷ-kheo cầu trong sạch tránh xa nó như tránh bãi phân mùa mưa. Xen vào là loạt kệ quán thân nổi tiếng (tượng vẽ màu, chân sơn đỏ mặt bôi phấn — đủ mê kẻ ngu, không mê người tìm bờ kia) và hai bài kệ thợ săn nai (ăn mồi xong ra đi, để thợ săn than khóc). Tiếp đến là những bài kệ về Sāriputta: sự kinh sợ ngày ngài nhập Niết-bàn, kệ vô thường "Aniccā vata saṅkhārā", lời ca ngợi vị xuyên thủng đầu sợi tóc bằng mũi tên tuệ, và mười ngàn Thiên nhân Phạm thiên chắp tay lễ bái Moggallāna. Phần thần thông: ngài rung chuyển lâu đài Migāramātu bằng ngón chân cái, biến hóa trăm ngàn koṭi thân trong giây lát, hỏi Sakka ở lâu đài Vejayanta, hỏi Phạm Thiên ở hội trường Sudhammā khiến Phạm Thiên từ bỏ tà kiến thường hằng. Phần kết là cuộc đối đầu với Māra: địa ngục trăm cọc sắt nơi Dussī bị nung nấu vì công kích đệ tử Vidhura và Phật Kakusandha; ai công kích vị Tỷ-kheo Thinh Văn biết rõ điều này sẽ đi đến khổ đau; Māra công kích Như Lai chỉ tự thiêu đốt mình như kẻ ngu chạm vào lửa. Bài kệ khép lại: Tỷ-kheo ở rừng Bhesakaḷā quở trách Māra, Dạ-xoa buồn rầu biến mất ngay tại chỗ.

Điểm thực hành

Như kẻ ngu chạm vào lửa tự thiêu đốt mình, người công kích bậc thánh tự chuốc lấy khổ đau: đừng để tâm ganh ghét, khinh chê dẫn mình vào chỗ tự hại.

Trưởng Lão Tăng Kệ 20.1 Phẩm Sáu Mươi Kệ Phẩm thứ nhất Mahāmoggallāna

“Là những vị ngụ ở rừng và chuyên đi khất thực,
thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực,
nội tâm khéo được định tĩnh,
chúng ta hãy phá tan đạo binh của Thần Chết.
Là những vị ngụ ở rừng và chuyên đi khất thực,
thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực,
chúng ta hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết,
tựa như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy.
Là những vị ngụ ở gốc cây, kiên trì,
thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực,
khéo được định tĩnh nội tâm,
chúng ta hãy phá tan đạo binh của Thần Chết.
Là những vị ngụ ở gốc cây, kiên trì,
thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực,
chúng ta hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết,
tựa như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy.
‘Này cái chòi nhỏ có khung sườn là xương,
được khâu lại với thịt và gân.
Thật ghê tởm những thân xác với mùi khó chịu,
nàng còn âu yếm thân thể của người khác.
Này cái túi chứa phân, này vật được gói lại bằng lớp da,
này nữ yêu tinh có (hai) khối u ở ngực,
chín dòng chảy ở thân thể của nàng
luôn luôn tuôn trào.
Cơ thể của nàng có chín dòng chảy,
tạo ra mùi khó chịu, là vật chướng ngại.
Vị tỳ khưu tránh xa nó,
giống như tránh xa cục phân, với ước muốn được trong sạch.
Nếu người ta biết về nàng,
giống như ta biết về nàng,
họ sẽ tránh né ra xa,
như là (tránh xa) bãi chứa phân vào lúc mưa.’
‘Thưa vị đại anh hùng,
thưa ngài Sa-môn, điều ấy là như vậy, giống như ngài đã nói.
Và nhiều người chìm đắm ở nơi này,
tựa như con bò già (chìm đắm) ở vũng lầy.’
‘Kẻ nào suy nghĩ
để tô màu vàng nghệ
hoặc bất cứ màu nào khác ở bầu trời,
việc ấy chỉ đem lại phiền muộn.
Tâm này, tương tự như bầu trời,
nội phần khéo được định tĩnh.
Này cô nàng có tâm địa xấu xa, chớ công kích,
tựa như loài bướm đêm công kích đống lửa.
Hãy nhìn xem bóng dáng được vẽ màu,
nơi hội tụ các vết thương, được dựng lên (bằng ba trăm khúc xương),
bệnh hoạn, nhiều suy tư (sái quấy),
không có sự tồn tại trường cửu.
Hãy nhìn xem vóc dáng được vẽ màu,
với ngọc ma-ni và với bông tai;
là xương được bọc lại bởi da,
nó rạng rỡ nhờ những vải vóc.
Các bàn chân được sơn màu đỏ,
khuôn mặt được bôi phấn bột,
là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu,
nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
Các sợi tóc được làm thành tám lớp,
các con mắt được bôi thuốc màu,
là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu,
nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
Thân thể hôi thối đã được trang điểm
tựa như hộp thuốc bôi đã được vẽ màu,
là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu,
nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
Thợ săn đã đặt bẫy mồi,
con nai đã không đến gần cái lưới bẫy.
Sau khi ăn xong mồi nhử, chúng ta hãy ra đi,
trong khi kẻ bắt thú đang than vãn.
Cái bẫy mồi của gã thợ săn đã bị đứt lìa,
con nai đã không đến gần cái lưới bẫy.
Sau khi ăn xong mồi nhử, chúng ta hãy ra đi,
trong khi kẻ săn thú sầu muộn.’
khi ấy đã có sự kinh sợ,
khi ấy đã có sự nổi da gà.
Khi Sāriputta, vị đã thành tựu nhiều biểu hiện,
Niết Bàn,
Quả vậy, các pháp hữu vi là vô thường,
có pháp sanh và diệt,
sau khi sanh lên chúng hoại diệt,
sự tịnh lặng của chúng là an lạc.
Những người nào nhìn thấy năm uẩn là cái khác,
không phải là bản ngã,
những người ấy thấu triệt điều tinh vi,
giống như xuyên thủng đầu cọng tóc bằng mũi tên.
Và những người nào nhìn thấy các hành là cái khác,
không phải là bản ngã,
những người ấy đã thấu triệt điều vi tế,
giống như đã xuyên thủng đầu cọng tóc bằng mũi tên.
Tựa như bị chém bởi thanh gươm,
tựa như đang bị thiêu đốt ở đỉnh đầu,
vị tỳ khưu sống đời du sĩ, có niệm,
nhằm dứt bỏ sự luyến ái ở các dục.
Tựa như bị chém bởi thanh gươm,
tựa như đang bị thiêu đốt ở đỉnh đầu,
vị tỳ khưu sống đời du sĩ, có niệm,
nhằm dứt bỏ sự luyến ái ở hiện hữu.
Được khích lệ bởi vị có bản thân đã được tu tập,
bởi vị có sự mang thân mạng cuối cùng,
bằng ngón chân cái tôi đã làm rung động
tòa lâu đài của Migāramātu.
Niết Bàn, sự thoát khỏi tất cả các mối buộc thắt,
có thể được chứng đắc;
việc này không liên quan sự lơi lỏng,
không phải với chút ít sức lực.
Và vị tỳ khưu trẻ này,
con người tối thượng này,
mang thân mạng cuối cùng,
sau khi chiến thắng Ma Vương cùng với đạo quân binh.
Các tia sét đã đánh dọc theo khe núi
Vebhāra và Paṇḍava,
người con trai của bậc không người đối xứng như thế ấy
đã đi vào khe núi, tham thiền.
Bậc hiền trí, an tịnh, tiết chế,
có chỗ ngụ xa vắng,
là người thừa tự của đức Phật tối thượng,
được đấng Phạm Thiên lễ bái.
Này Bà-la-môn, hãy đảnh lễ vị Kassapa,
bậc hiền trí, an tịnh, tiết chế,
có chỗ ngụ xa vắng,
là người thừa tự của đức Phật tối thượng.
Và người nào có thể trải qua một trăm kiếp sống ở giữa loài người lần này lần khác,
tất cả đều là dòng dõi Bà-la-môn,
có các sự tốt lành,
thành tựu về kinh Vệ Đà.
Thậm chí nếu có thể là người giảng dạy,
vượt qua bờ kia của ba bộ Vệ Đà,
việc ấy không giá trị bằng một phần mười sáu
của việc đảnh lễ đến vị (Kassapa) ấy.
Vị ấy, trước bữa ăn,
đã chạm đến tám (thiền) giải thoát,
thuận chiều và nghịch chiều,
sau đó mới đi khất thực.
Này Bà-la-môn, chớ công kích vị tỳ khưu như thế ấy,
chớ đào sâu bản ngã,
ngươi hãy khởi tâm tịnh tín
ở vị A-la-hán như thế ấy,
hãy mau chắp tay đảnh lễ,
chớ làm vỡ tan cái đầu của ngươi.
Bị dẫn đầu bởi sự luân hồi,
kẻ này không nhìn thấy Diệu Pháp,
gã chạy theo con đường sai trái,
con đường cong quẹo dẫn xuống phía dưới.
Tựa như con dòi bị lấm lem bởi phẩn,
bị bám víu vào pháp hữu vi,
bị đắm chìm trong lợi lộc và sự tôn vinh,
Poṭhila rỗng không ra đi.
Và hãy nhìn xem vị Sāriputta đang đi đến,
có dáng vẻ tốt đẹp,
đã được giải thoát ở cả hai phần,
nội tâm khéo được định tĩnh.
Vị không còn mũi tên, có sự ràng buộc đã được cạn kiệt,
có ba Minh, có sự chiến thắng Thần Chết,
bậc đáng được cúng dường,
là thửa ruộng phước vô thượng của loài người.
Nhiều vị Thiên nhân này,
có thần thông, có danh tiếng,
tất cả mười ngàn vị Thiên nhân
được dẫn đầu bởi đấng Phạm Thiên,
đứng, chắp tay lại,
đang lễ bái vị Moggallāna.
‘Thưa bậc siêu nhân, xin kính lễ ngài.
Thưa bậc tối thượng nhân, xin kính lễ ngài.
Các lậu hoặc của ngài đã được cạn kiệt.
Thưa ngài, ngài là bậc đáng được cúng dường.’
Được người và trời tôn vinh,
bậc chế ngự Thần Chết đã được hiện khởi,
không bị lấm lem bởi pháp hữu vi,
tựa như loài sen không bị lấm lem bởi nước.
Vị tỳ khưu ấy, với năng lực về các loại thần thông,
về việc tử và sanh,
nhìn thấy chư Thiên vào lúc hợp thời,
đối với vị ấy thế gian luôn cả Phạm Thiên giới được nhận biết bằng một ngàn cách trong giây lát.
Còn vị tỳ khưu đã đi đến bờ kia, nếu là tối thắng y như thế ấy,
chính là vị Sāriputta,
với tuệ,
với giới, và với sự an tịnh.
Tôi có thể biến hóa ra trăm ngàn koṭi bản thể của mình
trong giây lát.
Là thiện xảo trong các việc biến hóa,
tôi có được năng lực về thần thông.
Vị dòng dõi Moggallāna, đã đi đến sự toàn hảo về năng lực của định và minh
trong Giáo Pháp của bậc không bị vướng mắc,
là vị thông minh, có giác quan được định tĩnh, đã cắt đứt sự trói buộc,
giống như con voi giật đứt sợi dây rừng thối tha.
Bậc Đạo Sư đã được tôi hầu hạ,
lời dạy của đức Phật đã được thực hành,
vật mang nặng đã được đặt xuống,
lối dẫn đến hiện hữu đã được xóa sạch.
Vì mục đích nào mà tôi đã xuất gia,
rời nhà sống không nhà,
mục đích ấy của tôi,
sự cạn kiệt tất cả các điều ràng buộc, đã được thành tựu.
Địa ngục,
nơi mà Dussī đã bị nung nấu
sau khi công kích vị Thinh Văn (hàng đầu) Vidhura
và vị Bà-la-môn Kakusandha (Phật Toàn Giác), đã là như thế nào?
Đã là trăm cây cọc sắt,
tất cả có cảm thọ riêng biệt.
Địa ngục, nơi mà Dussī đã bị nung nấu
sau khi công kích vị Thinh Văn (hàng đầu) Vidhura
và vị Bà-la-môn Kakusandha (Phật Toàn Giác),
đã là như thế này.
Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật.
Này Kaṇha,
sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy,
ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
Các cung điện ngự ở giữa hồ,
có sự tồn tại một kiếp,
có màu ngọc bích, xinh đẹp,
rực rỡ, chói lọi.
Nơi ấy, nhiều tiên nữ nhảy múa,
có bản thể và màu sắc khác biệt.
Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật.
Này Kaṇha,
sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy,
ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
Đúng vậy, vị này, được khích lệ bởi đức Phật,
trong khi hội chúng tỳ khưu đang chứng kiến,
đã làm rung động tòa lâu đài của Migāramātu
bằng ngón chân cái.
Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật.
Này Kaṇha,
sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy,
ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
Được hỗ trợ bởi năng lực của thần thông,
vị này đã làm rung động tòa lâu đài Vejayanta
bằng ngón chân cái,
và đã làm chư Thiên kinh động.
Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật.
Này Kaṇha,
sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy,
ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
Ở tòa lâu đài Vejayanta,
vị này hỏi (Thiên Chủ) Sakka rằng:
‘Thưa ngài, có phải ngài cũng biết
về các sự giải thoát do sự cạn kiệt của tham ái?’
Được hỏi câu hỏi, (Thiên Chủ) Sakka
đã trả lời vị ấy đúng theo sự thật.
Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật.
Này Kaṇha,
sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy,
ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
Đứng tại cuộc hội họp ở Sudhammā,
vị này hỏi đấng (Đại) Phạm Thiên rằng:
‘Thưa ngài, thậm chí hôm nay quan điểm ấy của ngài
cũng là quan điểm của ngài đã có trước kia?
Ngài có nhìn thấy sự chói lọi
ở thế giới Phạm Thiên đang mất dần không?’
Được hỏi câu hỏi,
Phạm Thiên đã trả lời vị ấy đúng theo sự thật rằng:
‘Thưa ngài, quan điểm ấy không còn là của tôi,
đó là quan điểm của tôi đã có trước kia.
Tôi nhìn thấy sự chói lọi
ở thế giới Phạm Thiên đang mất dần.
Làm thế nào hôm nay tôi đây có thể nói:
Tôi là thường hằng, là trường tồn được?’
Người biết rõ điều này là vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Phật.
Này Kaṇha,
sau khi công kích vị tỳ khưu như thế ấy,
ngươi (sẽ) đi đến khổ đau.
Bằng sự giải thoát,
vị này đã sờ vào chóp đỉnh của núi Neru vĩ đại,
(luôn cả) khu rừng thuộc về Châu Pubbavideha,
và những người đàn ông nằm ở mặt đất (thuộc Châu Uttarakuru).

Nghĩa là

Ở rừng, ăn đồ khất thực, vui với những gì có trong bát, hãy xé tan đạo binh của Thần Chết, nội tâm khéo định tĩnh. Ở rừng, ăn đồ khất thực, vui với những gì có trong bát, hãy nghiền nát đạo binh của Thần Chết như con voi phá căn chòi lau sậy. Ở gốc cây, kiên trì, vui với những gì có trong bát, hãy xé tan đạo binh của Thần Chết, nội tâm khéo định tĩnh. Ở gốc cây, kiên trì, vui với những gì có trong bát, hãy nghiền nát đạo binh của Thần Chết như con voi phá căn chòi lau sậy. Này căn chòi nhỏ khung xương, được khâu bằng thịt và gân; ghê tởm thay thân xác hôi thối này, ngươi còn âu yếm thân thể của kẻ khác! Này túi chứa phân, được gói bằng da! Này nữ yêu tinh có hai khối u ở ngực! Thân ngươi có chín dòng chảy luôn luôn tuôn trào. Thân ngươi có chín dòng chảy, hôi thối, đầy phân dơ. Vị Tỷ-kheo cầu sự trong sạch tránh xa nó, như tránh xa đống phân vậy. Nếu người ta biết ngươi như ta biết ngươi, họ sẽ tránh xa, như tránh bãi phân vào mùa mưa. Đúng vậy, thưa bậc Đại Anh Hùng! Đúng như ngài nói, thưa bậc Sa-môn! Nhưng có kẻ chìm đắm ở đây, như con bò già sa lầy trong bùn. Ai suy nghĩ để nhuộm bầu trời thành màu nghệ, hoặc một màu nào khác — kẻ ấy chỉ tự chuốc lấy phiền não. Tâm này như bầu trời, nội tâm khéo định tĩnh. Này kẻ tâm ác, đừng công kích ta, như con thiêu thân lao vào đống lửa. Hãy xem thân hình vẽ màu này, một thân thể chồng chất vết thương, bệnh hoạn, bị ám ảnh nhiều, trong đó không có gì tồn tại bền lâu. Hãy xem thân hình vẽ màu này, với ngọc quý và bông tai; chỉ là xương bọc trong da, chỉ đẹp nhờ quần áo. Chân sơn màu đỏ son, mặt thoa phấn, có thể đủ để mê hoặc kẻ ngu, nhưng không mê hoặc được người đi tìm bờ kia. Tóc tết thành tám bím, mắt kẻ màu, có thể đủ để mê hoặc kẻ ngu, nhưng không mê hoặc được người đi tìm bờ kia. như chiếc hộp thuốc mới sơn vẽ, thân thể hôi thối đã được trang điểm; có thể đủ để mê hoặc kẻ ngu, nhưng không mê hoặc được người đi tìm bờ kia. Thợ săn đã đặt bẫy, nhưng con nai không sập bẫy lưới. Ăn xong mồi nhử, ta ra đi, để kẻ giăng bẫy ngồi than vãn. Bẫy của thợ săn đã đứt lìa, nhưng con nai không sập bẫy lưới. Ăn xong mồi nhử, ta ra đi, để thợ săn nai ngồi sầu muộn. Khi ấy có sự kinh hoàng! Khi ấy lông tóc dựng đứng! Khi Sāriputta, bậc đầy đủ nhiều đức tính cao quý, nhập Niết-bàn. Các pháp hữu vi thật vô thường, bản chất là sinh và diệt; sinh lên rồi hoại diệt — sự lắng dịu của chúng là an lạc. Người ấy xuyên thấu điều vi tế, như lấy mũi tên xuyên thủng đầu sợi tóc; ai thấy năm uẩn là cái khác, không phải là tự ngã. Ai thấy các hành là cái khác, không phải là tự ngã, người ấy đã xuyên thấu điều vi tế, như lấy mũi tên xuyên thủng đầu sợi tóc. Như bị gươm chém, như đầu đang bốc cháy, để dứt bỏ tham ái nơi các dục, vị Tỷ-kheo hãy du hành với chánh niệm. Như bị gươm chém, như đầu đang bốc cháy, để dứt bỏ tham ái nơi hiện hữu, vị Tỷ-kheo hãy du hành với chánh niệm. Được bậc đã tu tập bản thân thúc giục, bậc mang thân cuối cùng, lâu đài của mẹ Migāra tôi đã rung chuyển bằng ngón chân cái. không đạt được bằng sự lơi lỏng, không bằng chút ít sức lực Niết-bàn cần được chứng đắc, sự giải thoát khỏi mọi trói buộc. Vị Tỷ-kheo trẻ này, con người tối thượng này, mang thân cuối cùng, đã chiến thắng Ma Vương cùng đạo quân của nó. Sét chớp dọc theo khe núi của Vebhāra và Paṇḍava. Nhưng đang tham thiền trong khe núi, người con của bậc vô song như thế ấy. Bậc hiền trí an tịnh, tự chế, chỗ ở xa vắng, thừa tự của Đức Phật tối thượng, được cả Phạm Thiên lễ bái. Vị an tịnh, tự chế, bậc hiền trí có chỗ ở xa vắng, thừa tự của Đức Phật tối thượng: này Bà-la-môn, hãy lễ bái Kassapa. Dù ai trải qua một trăm kiếp sống, đều là dòng dõi Bà-la-môn, một người học thức, thành tựu về kinh Vệ Đà; hết lần này đến lần khác giữa loài người. Dù vị ấy là người tụng đọc, thông suốt ba bộ Vệ Đà: sự lễ bái vị ấy cũng không đáng một phần mười sáu của sự lễ bái này. Vị ấy đạt tám giải thoát trước giờ ăn sáng, thuận chiều và nghịch chiều, rồi mới đi khất thực. Đừng công kích vị Tỷ-kheo như thế, đừng tự đào huyệt cho mình, Bà-la-môn! Hãy để tâm sinh niềm tin nơi vị A-la-hán vững vàng như thế; mau chắp tay lễ bái ngài, kẻo đầu ngươi vỡ tan! kẻ này không thấy được Chánh Pháp, bị dẫn đầu bởi sự luân hồi. Gã chạy theo con đường cong quẹo, con đường xấu dẫn xuống thấp. Như con dòi lấm lem phân, say đắm các pháp hữu vi, chìm đắm trong lợi lộc và tôn vinh, Poṭṭhila ra đi trống rỗng. Hãy xem Sāriputta đang đến! Thật tốt đẹp khi nhìn thấy ngài; được giải thoát cả hai phần, nội tâm khéo định tĩnh; Không còn mũi tên, kiết sử đã cạn, có ba Minh, đã chiến thắng Thần Chết; bậc đáng được cúng dường, ruộng phước vô thượng cho loài người. Những vị Thiên nhân đông đảo này, có thần thông, có vinh quang, tất cả mười ngàn vị ấy, đều là tế sư của Phạm Thiên. Họ lễ bái Moggallāna, đứng chắp tay lại: Kính lễ ngài, bậc nhân mã thuần chủng! Kính lễ ngài, bậc tối thượng trong loài người! Các lậu hoặc của ngài đã cạn kiệt, thưa ngài, ngài là bậc đáng được cúng dường. Được chư Thiên và loài người tôn vinh, bậc chế ngự Thần Chết đã xuất hiện; như hoa sen với nước, không bị các pháp hữu vi làm lấm lem. Vị Tỷ-kheo mà thế gian nghìn cách được biết trong khoảnh khắc, cùng với cõi Phạm Thiên — bậc có thần lực về sự chết và sự sinh, ngài thấy chư Thiên vào lúc hợp thời, vào lúc chúng chết và tái sinh. Sāriputta, đầy trí tuệ, giới và sự an tịnh; Vị Tỷ-kheo đã đến bờ kia, tối thắng nhất cũng chỉ chừng ấy. Ta có thể biến hóa ra thân tướng của mình, nhiều đến trăm ngàn koṭi, trong giây lát. Ta thiện xảo trong các phép biến hóa; ta là bậc thầy về thần thông. Vị dòng dõi Moggallāna, toàn hảo về định và minh, trong Giáo Pháp của bậc không vướng mắc, bậc sáng suốt, các căn định tĩnh, đã bứt đứt trói buộc, như con voi giật đứt sợi dây leo thối. Bậc Đạo Sư đã được tôi hầu hạ, lời dạy của Đức Phật đã được làm theo; gánh nặng đã được đặt xuống, dây dẫn đến tái sinh đã bị nhổ sạch. Mục đích tôi xuất gia vì nó — rời nhà, sống đời không nhà — mục đích ấy của tôi đã đạt được: sự cạn kiệt mọi kiết sử. Địa ngục ấy là thế nào, nơi Dussī bị nung nấu, sau khi công kích vị đệ tử Vidhura và Bà-la-môn Kakusandha? Có một trăm cọc sắt, mỗi cọc đều có cảm thọ đau đớn riêng. Địa ngục ấy là như thế này, nơi Dussī bị nung nấu, sau khi công kích vị đệ tử Vidhura và vị Bà-la-môn Kakusandha. Ai biết rõ điều này — vị Tỷ-kheo, đệ tử của Đức Phật; nếu công kích một vị Tỷ-kheo như thế, này Kaṇha, ngươi sẽ đi đến khổ đau. Giữa hồ có những cung điện tồn tại suốt một kiếp, màu lưu ly, xinh đẹp, rực rỡ, chói sáng. Nơi ấy, các tiên nữ nhảy múa, tỏa sáng đủ màu sắc khác nhau. Ai biết rõ điều này — vị Tỷ-kheo, đệ tử của Đức Phật; nếu công kích một vị Tỷ-kheo như thế, này Kaṇha, ngươi sẽ đi đến khổ đau. Được Đức Phật thúc giục, trước mắt hội chúng Tỷ-kheo, ngài đã rung chuyển lâu đài của mẹ Migāra bằng ngón chân cái. Ai biết rõ điều này — vị Tỷ-kheo, đệ tử của Đức Phật; nếu công kích một vị Tỷ-kheo như thế, này Kaṇha, ngươi sẽ đi đến khổ đau. Người đã làm rung chuyển lâu đài Vejayanta, bằng ngón chân cái, nhờ sức thần thông nâng đỡ, và làm chư Thiên chấn động kính sợ. Ai biết rõ điều này — vị Tỷ-kheo, đệ tử của Đức Phật; nếu công kích một vị Tỷ-kheo như thế, này Kaṇha, ngươi sẽ đi đến khổ đau. Ở lâu đài Vejayanta, ngài hỏi Sakka; ngài là người đã hỏi Sakka: "Thưa ngài, ngài có nhớ vị được giải thoát nhờ sự cạn kiệt của tham ái không?" Và ngài là người mà Sakka, khi được hỏi, đã trả lời đúng theo sự thật. Ai biết rõ điều này — vị Tỷ-kheo, đệ tử của Đức Phật; nếu công kích một vị Tỷ-kheo như thế, này Kaṇha, ngươi sẽ đi đến khổ đau. Ngài hỏi Phạm Thiên, đứng tại hội trường Sudhammā trước hội chúng, ngài hỏi: "Thưa ngài, hôm nay ngài còn giữ quan điểm ấy, quan điểm ngài đã có trước kia không? Hay ngài thấy sự chói sáng vượt hơn cõi Phạm Thiên?" Khi được hỏi, Phạm Thiên đã trả lời ngài đúng theo sự thật: "Thưa ngài, tôi không còn quan điểm ấy, quan điểm tôi đã có trước kia." Tôi thấy sự chói lọi vượt hơn cõi Phạm Thiên. Vậy hôm nay sao tôi có thể nói: "Tôi là thường hằng, là vĩnh cửu"? Ai biết rõ điều này — vị Tỷ-kheo, đệ tử của Đức Phật; nếu công kích một vị Tỷ-kheo như thế, này Kaṇha, ngươi sẽ đi đến khổ đau. Ngài chạm đến đỉnh núi Neru vĩ đại bằng sức của sự giải thoát thiền định; ngài đã đến các khu rừng của châu Pubbavideha, và những người sống trên mặt đất ở đó.

Ai biết rõ điều này — vị Tỷ-kheo, đệ tử của Đức Phật; nếu công kích một vị Tỷ-kheo như vậy, này Kaṇha, ngươi sẽ đi đến khổ đau.

Thật vậy, ngọn lửa không nghĩ rằng:
‘Ta thiêu đốt kẻ ngu;’
chỉ có kẻ ngu bị thiêu đốt
sau khi công kích ngọn lửa đã được cháy rực.
Này Ma Vương, tương tự y như thế,
sau khi công kích đức Như Lai,
ngươi sẽ thiêu đốt bản thân chính mình,
tựa như kẻ ngu chạm vào ngọn lửa.
Sau khi công kích đức Như Lai,
Ma Vương đã tạo ra điều vô phước.
Này kẻ xấu xa, phải chăng ngươi nghĩ rằng:
‘Việc ác của ta không kết quả?’
Này Thần Chết, việc ác của ngươi đang làm được tích lũy
thời gian lâu dài.
Này Ma Vương, ngươi hãy lánh xa đức Phật,
ngươi chớ làm khó các vị tỳ khưu.
Vị tỳ khưu ở khu rừng bhesakalā
đã quở trách Ma Vương như thế.
Do đó, Dạ-xoa ấy, buồn rầu,
đã biến mất ngay tại chỗ ấy.”

Nghĩa là

Lửa không hề nghĩ: "Ta sẽ đốt kẻ ngu!" Thế mà kẻ ngu thì bị thiêu đốt sau khi công kích ngọn lửa đang cháy rực. Cũng vậy, này Māra, khi công kích Đức Như Lai, ngươi sẽ tự thiêu đốt chính mình, như kẻ ngu chạm vào ngọn lửa. Māra đã tạo ra điều vô phước khi công kích Đức Như Lai. Này kẻ ác, ngươi tưởng rằng việc ác của ngươi sẽ không kết quả sao? Việc ác ngươi làm đang chồng chất, lâu dài, này Kẻ Chấm Dứt! Māra, hãy từ bỏ Đức Phật đi! Và đừng ôm hy vọng gì với các Tỷ-kheo nữa! Đã quở trách Māra như thế — vị Tỷ-kheo ở khu rừng Bhesakaḷā — Dạ-xoa ấy, buồn rầu, đã biến mất ngay tại chỗ ấy.

Đó là cách những bài kệ này đã được trưởng lão Mahāmoggallāna nói lên như thế. Phẩm Sáu Mươi Kệ được chấm dứt.

TÓM LƯỢC NHÓM NÀY “Ở nhóm Sáu Mươi, vị Moggallāna có đại thần lực là vị trưởng lão độc nhất, các câu kệ ấy là sáu mươi tám.”

“Ở nhóm Sáu Mươi,
vị Moggallāna có đại thần lực
là vị trưởng lão độc nhất, các câu kệ ấy
là sáu mươi tám.”

Nghĩa là

Trong phẩm Sáu Mươi, vị Moggallāna có đại thần lực — là vị trưởng lão duy nhất, và các bài kệ ấy gồm sáu mươi tám bài.