Kệ của trưởng lão Vaṅgīsa
Trưởng lão Vaṅgīsa, nhà thơ của Tăng đoàn, ca ngợi Đức Phật, tôn giả Sāriputta, Koṇḍañña và Moggallāna, tự thuật việc chế ngự các ý nghĩ của Ma Vương, buông bỏ ngã mạn và dập tắt lửa dục bằng quán bất tịnh. Cuối bài, ngài hỏi Đức Phật về sự tịch diệt của trưởng lão Nigrodhakappa ở Āḷavī và được xác nhận vị ấy đã cắt đứt tham ái ở danh sắc, vượt qua hẳn sanh và chết.
Điểm thực hànhNói lời chân thật và êm ái: chỉ nói lời không làm nóng nảy bản thân, không hãm hại người khác — lời chân thật là lời bất tử, và lời của Đức Phật dạy chấm dứt khổ đau là lời tối thượng.
Trưởng Lão Tăng Kệ 21.1 Phẩm Lớn Kệ Phẩm thứ nhất Vaṅgīsa
rời nhà sống không nhà,
những ý nghĩ suy tầm táo bạo này,
từ sự tăm tối, đeo đuổi tôi.
Những người con trai hung bạo, những cung thủ vĩ đại,
đã được học tập, có cây cung vững chắc,
có thể bắn ra xung quanh một ngàn mũi tên đến (tôi),
tôi (cũng) không đào tẩu.
Thậm chí, nếu nhiều hơn chừng ấy phụ nữ
sẽ đi đến,
họ cũng sẽ không bao giờ làm cho tôi,
người đã khéo được đứng vững ở Giáo Pháp, nao núng.
Bởi vì điều này đã do tôi đích thân nghe được
về Đạo Lộ đi đến Niết Bàn
của đức Phật, vị thân quyến của mặt trời;
tâm tôi đã được thích thú về điều ấy.
Này kẻ xấu xa, nếu ngươi đến gần ta
trong lúc ta đang sống như vầy,
này Thần Chết, ta sẽ làm cho ngươi
sẽ không nhìn thấy ngay cả đường đi của ta.
Sau khi từ bỏ toàn bộ sự ghét bỏ, sự ưa thích,
và mọi suy tầm liên hệ đến gia đình,
không nên thể hiện tham ái ở bất cứ đâu.
Xa lìa tham ái, không có tham ái, vị ấy là tỳ khưu.
Bất cứ vật gì ở nơi này, ở trái đất và ở không trung,
đã đạt đến hình thể, bị gắn chặt với thế gian,
tất cả đều là vô thường, bị hư hoại;
những người đã lãnh hội như vậy, sống, có bản thân đã được cảm nhận.
Chúng sanh bị cột trói vào các mầm tái sanh,
vào điều đã được thấy, được nghe, được chạm đến, và được cảm nhận.
Ở đây, ngươi hãy xua đuổi lòng ham muốn, trở thành người không còn dục vọng,
bởi vì ở đây người nào không bị lấm lem (bởi ái dục), người ta đã gọi vị ấy là bậc hiền trí.
Chúng sanh có sự suy tầm liên quan đến sáu mươi hai (tà kiến)
đã bị dính líu vào các điều phi pháp thuộc về phàm nhân.
Và nên là người không theo phe nhóm ở bất cứ nơi đâu,
thêm nữa không có việc nắm lấy sự thô tục, vị ấy là tỳ khưu.
Có khả năng, được định tĩnh lâu dài,
không xảo trá, thận trọng, không tham ái,
bậc hiền trí đã chứng đắc vị thế an tịnh,
chờ đợi thời điểm, tùy duyên viên tịch Niết Bàn.
Này vị (dòng dõi) Gotama, ngươi hãy dứt bỏ ngã mạn,
và hãy từ bỏ hoàn toàn đường lối của ngã mạn.
Bị say đắm ở đường lối của ngã mạn,
ngươi đã có sự ân hận dài lâu.
Bị nhơ bẩn bởi sự gièm pha,
bị hãm hại bởi ngã mạn, chúng sanh rơi vào địa ngục.
Bị hãm hại bởi ngã mạn, bị sanh vào địa ngục,
loài người sầu muộn dài lâu.
Bởi vì vị tỳ khưu không bao giờ sầu muộn,
là người chiến thắng nhờ vào Đạo Lộ, đã thực hành đúng đắn,
và thọ hưởng danh tiếng và sự an lạc,
người ta đã gọi vị ấy là: ‘Bậc đã thấy pháp.’
Vì thế, (hãy là) không cứng nhắc, có sự ra sức,
sau khi từ bỏ các pháp che lấp, được thanh tịnh,
và sau khi từ bỏ hoàn toàn ngã mạn,
là người tạo ra sự chấm dứt nhờ vào (ba) Minh, có sự yên tịnh.
Tôi bị thiêu đốt bởi sự luyến ái ở các dục,
tâm của tôi bị thiêu đốt toàn diện.
Thưa vị (dòng dõi) Gotama, vì lòng thương xót, lành thay,
hãy nói về việc dập tắt.
Vì sự tầm cầu sai trái của tưởng,
tâm của ngươi bị thiêu đốt toàn diện.
Ngươi hãy tránh xa hiện tướng mỹ miều,
được gắn liền với luyến ái.
Ngươi hãy tu tập tâm được chuyên nhất,
khéo được định tĩnh, về (đề mục) tử thi.
Đối với ngươi, hãy có niệm được đặt ở thân,
hãy có nhiều sự nhàm chán.
Ngươi hãy tu tập về vô tướng,
hãy dẹp bỏ sự tiềm ẩn của ngã mạn,
sau đó, nhờ vào sự lãnh hội về ngã mạn,
ngươi sẽ sống, được an tịnh.
Nên nói chỉ lời nói ấy thôi,
với lời nói ấy không làm cho bản thân nóng nảy,
và không hãm hại người khác;
đúng vậy lời nói ấy đã được khéo nói.
Nên nói chỉ mỗi lời êm ái,
là lời nói được hoan hỷ đón nhận.
Nên nói lời êm ái là lời nói
không đem đến các điều ác xấu cho những người khác.
Đúng vậy, chân thật là lời nói bất tử,
điều ấy là quy luật muôn đời.
Những người tốt đã được đứng vững ở sự thật, ở mục đích, và ở Giáo Pháp
đã nói (như thế).
Lời đức Phật nói là an toàn,
đưa đến sự đạt được Niết Bàn,
đưa đến sự thực hiện việc chấm dứt khổ đau;
đúng vậy lời nói ấy là tối thượng.
Có tuệ thâm sâu, thông minh,
rành rẽ về đạo lộ và không phải đạo lộ,
vị Sāriputta, có trí tuệ vĩ đại,
thuyết giảng Giáo Pháp cho các vị tỳ khưu.
Vị ấy cũng thuyết giảng tóm tắt,
cũng thuyết giảng chi tiết.
Với âm thanh như là của chim sáo,
vị ấy đã nói lên tài biện luận.
Trong khi vị ấy đang thuyết giảng điều ấy,
mọi người lắng nghe lời nói ngọt ngào,
với âm điệu đáng yêu,
đáng được nghe, có sự thu hút.
Các vị tỳ khưu có tâm hướng thượng, hoan hỷ,
lắng tai nghe.
Hôm nay, ngày rằm,
năm trăm vị tỳ khưu,
là các vị ẩn sĩ có sự cắt đứt những sự trói buộc và những điều ràng buộc,
không bị khổ sở, có việc tái sanh lần nữa đã được cạn kiệt, đã tụ hội vì sự thanh tịnh (của hội chúng).
Giống như đức Chuyển Luân Vương,
được tháp tùng bởi các quan đại thần,
đi vòng quanh khắp nơi
ở trái đất có biển cả bao bọc này.
vị Chiến Thắng trận đấu,
người Hướng Dẫn đoàn xe, bậc Vô Thượng.
các vị Thinh Văn có ba Minh, có sự chiến thắng Thần Chết, hầu cận
có ba Minh, có sự chiến thắng Thần Chết,
Tất cả những người con trai của đức Thế Tôn,
ở đây không có kẻ vô vị.
Tôi đảnh lễ đấng tiêu diệt mũi tên tham ái,
vị thân quyến của mặt trời.
Hơn một ngàn vị tỳ khưu
hầu cận đấng Thiện Thệ
trong khi Ngài đang thuyết giảng Giáo Pháp xa lìa luyến ái,
Niết Bàn, chốn không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu.
Các vị lắng nghe Giáo Pháp không ô nhiễm,
được thuyết giảng bởi đấng Chánh Đẳng Giác.
Thật vậy, đấng Toàn Giác chiếu sáng,
được hội chúng tỳ khưu tôn vinh.
Bạch đức Thế Tôn, Ngài có tên là Long Tượng,
vị ẩn sĩ tối thượng trong số các ẩn sĩ,
sau khi trở thành như là đám mây lớn,
Ngài đổ mưa xuống các đệ tử.
Sau khi rời khỏi chỗ nghỉ ban ngày
vì ước muốn diện kiến bậc Đạo Sư,
bạch đấng Đại Hùng, đệ tử Vangīsa
đảnh lễ các bàn chân của Ngài.
Sau khi khắc phục đạo lộ và đường lối sai trái của Ma Vương,
Ngài bước đi sau khi đã phá tan các chướng ngại.
Các vị hãy nhìn xem đức Phật, với việc thực hiện sự giải thoát khỏi các sự trói buộc,
hoàn toàn không bị lệ thuộc, sau khi đã phân tích (Giáo Pháp) thành từng phần riêng biệt.
Bởi vì Ngài đã nói lên Đạo Lộ có nhiều cách thức
với mục đích vượt qua dòng nước lũ,
và khi Bất Tử ấy đã được nói lên,
các vị đã thấy Pháp được đứng vững, không bị tiêu hoại.
Bậc tạo ra ánh sáng, sau khi thấu triệt Giáo Pháp,
đã nhìn thấy (Niết Bàn) sự vượt lên trên tất cả các sự tồn tại (của nhận thức).
Sau khi biết được và chứng ngộ (Giáo Pháp) cao quý,
Ngài đã thuyết giảng cho năm vị.
Khi Giáo Pháp đã khéo được thuyết giảng như vậy,
có sự xao lãng gì đối với các vị đang nhận thức Giáo Pháp?
Chính vì thế, vị không xao lãng, trong lúc đang lễ bái,
nên luôn luôn học tập theo lời giáo huấn của đức Thế Tôn ấy.
Vị trưởng lão đã được giác ngộ kế tiếp đức Phật
là vị có sự nỗ lực sắc bén Koṇḍañña,
thường xuyên có sự đạt được các lạc trú
và các sự ẩn cư.
Pháp nào có thể đạt được bởi vị đệ tử
có sự thực hành theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư,
pháp ấy, tất cả cảc vị không bị xao lãng, đã được học tập,
đều đạt được.
Có đại oai lực, có ba Minh,
thiện xảo về tâm của người khác,
vị Koṇḍañña, người thừa tự của đức Phật,
đảnh lễ các bàn chân của bậc Đạo Sư.
đang ngồi ở sườn của ngọn núi.
bậc Hiền Trí, vị đã đi đến bờ kia của khổ đau,
Các vị Thinh Văn, có ba Minh, có sự chiến thắng Thần Chết, hầu cận
có ba Minh, có sự chiến thắng Thần Chết,
quán sát bằng tâm,
Vị Moggallāna, có đại thần lực,
trong khi tìm kiếm tâm
đã được giải thoát, không còn mầm mống tái sanh của các vị ấy.
bậc đã được thành tựu tất cả các yếu tố như vậy,
đã đi đến bờ kia của khổ đau,
đã được thành tựu nhiều biểu hiện.
Các vị hầu cận đấng Hiền Trí Gotama,
Bạch Ngài Aṅgīrasa, bậc Đại Hiền Trí, giống như mặt trăng ở bầu trời không có mây đen,
tựa như mặt trời không có vết nhơ chiếu sáng,
cũng tương tự như vậy, Ngài
rực rỡ hơn tất cả thế gian về danh vọng.
Trước đây, say mê thơ văn, chúng tôi đã lang thang
từ làng này đến làng khác, từ phố này đến phố khác,
và chúng tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác,
bậc đã đi đến bờ kia của tất cả các pháp.
đã thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi.
Bậc Hiền Trí ấy, vị đã đi đến bờ kia của khổ đau,
Sau khi lắng nghe Giáo Pháp,
niềm tin đã sanh khởi đến chúng tôi.
Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy,
sau khi hiểu rõ về (năm) uẩn, (mười hai) xứ,
và (mười tám) giới,
tôi đã xuất gia, sống đời không nhà.
vì lợi ích của số đông,
các đức Như Lai hiện khởi
của những người nữ và những người nam nào
là những người thực hành theo Giáo Pháp.
vì lợi ích của những người ấy,
bậc Hiền Trí đã đạt đến sự Giác Ngộ
của các vị tỳ khưu và tỳ khưu ni nào
đã đạt đến và đã nhìn thấy quy luật.
đã khéo được thuyết giảng bởi đấng Hữu Nhãn,
đức Phật, vị thân quyến của mặt trời:
bốn Chân Lý Cao Thượng
Vì lòng thương xót chúng sanh,
Khổ,
sự sanh lên của Khổ,
sự vượt qua khỏi Khổ,
và Thánh Đạo tám chi phần đưa đến sự yên lặng của Khổ.
Những điều này đã được nói lên như vậy,
những điều ấy đã được tôi nhìn thấy đúng theo như thế.
Mục đích của bản thân đã được tôi thành tựu,
lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Quả thật, việc đi đến tốt đẹp đã có cho tôi
về việc ở gần với đức Phật của tôi.
Trong số các pháp đã được phân loại,
tôi đã tiến gần đến pháp tối thượng.
Tôi đã đạt được sự toàn hảo về Thắng Trí,
nhĩ giới đã được trong sạch,
có ba Minh, tôi đã đạt được thần thông,
thiện xảo về tâm của người khác.
Tôi hỏi đấng Đạo Sư, bậc có trí tuệ tột đỉnh,
là vị đã cắt đứt các sự hoài nghi ở thế giới hiện hữu,
về vị tỳ khưu đã từ trần ở Aggāḷava,
được biết tiếng, có danh vọng, có bản thể đã được tịch tịnh.
Bạch đức Thế Tôn, Ngài đã đặt tên ‘Nigrodhakappa’
cho vị Bà-la-môn ấy.
Vị ấy, mong mỏi sự giải thoát, trong lúc lễ bái Ngài, đã sống,
có sự nỗ lực tinh tấn, có sự nhận thức vững chắc về Giáo Pháp.
Bạch vị Sakya, tất cả chúng con
cũng muốn được biết về vị Thinh Văn ấy.
Bạch đấng Toàn Nhãn, những lỗ tai của chúng con là sẵn sàng cho việc nghe.
Ngài là bậc Đạo Sư của chúng con. Ngài là bậc Vô Thượng.
Xin Ngài hãy cắt đứt sự hoài nghi của chúng con, xin hãy nói cho con điều này.
Bạch đấng có trí tuệ quảng đại, xin Ngài hãy cho biết về việc (vị ấy) đã được viên tịch Niết Bàn.
Bạch đấng Toàn Nhãn, xin Ngài hãy nói ở ngay giữa chúng con,
tựa như vị Trời Sakka có ngàn mắt ở giữa chư Thiên.
Ở đây, bất cứ những mối buộc thắt nào, những con đường của si mê,
những phe nhóm của vô trí, những chỗ đứng của hoài nghi,
sau khi đạt đến đức Như Lai, chúng đều không tồn tại,
bởi vì con mắt ấy là vô thượng giữa những con người.
Bởi vì nếu chắc chắn không có người tiêu diệt các phiền não,
giống như làn gió làm tiêu tan đám mây,
thì toàn bộ thế gian sẽ bị bao trùm bởi bóng tối,
ngay cả những vị có hào quang (trí tuệ) cũng không thể phát sáng.
Và các bậc thông minh là những người tạo ra ánh sáng,
vì thế, bạch đấng Anh Hùng, con nghĩ rằng Ngài là y như thế ấy.
Chúng con đã đi đến với bậc có sự minh sát và sự hiểu biết,
xin Ngài hãy giải thích về vị Kappa cho chúng con ở các hội chúng.
Hỡi bậc có sự thu hút, xin Ngài hãy mau mau thốt lên giọng nói có sự thu hút,
tựa như chim thiên nga rướn cổ, xin Ngài hãy dịu dàng thốt lên
với âm thanh trọn vẹn khéo được điều khiển;
toàn bộ tất cả chúng con đều tập trung lắng nghe.
Sau khi thúc giục bậc có sự sanh tử đã được dứt bỏ không còn dư sót,
tôi thông báo đến bậc đã giũ bỏ (phiền não);
bởi vì người có thể làm được điều mong muốn không có trong số các phàm nhân,
và người hành động đúng theo dự tính chỉ có trong số các đức Như Lai.
Lời giải thích đầy đủ này của Ngài,
bậc có trí tuệ ngay thẳng, đã được chấp nhận.
Sự chắp tay sau cùng này đã được cúi chào tốt đẹp.
Hỡi bậc có trí tuệ tột đỉnh, trong khi Ngài biết, xin Ngài chớ làm mê mờ.
Hỡi đấng Anh Hùng tột bực, Ngài đã hiểu biết về Giáo Pháp cao thượng từ thấp đến cao,
trong khi Ngài biết, xin Ngài chớ làm mê mờ.
Con mong mỏi lời nói (của Ngài) giống như người có bản thân bị nóng bức trong lúc nóng nực mong mỏi nước;
xin Ngài hãy đổ cơn mưa âm thanh.
Phải chăng vị Kappāyana đã sống Phạm hạnh với mục đích tốt đẹp, không phải rỗng không?
Có phải vị ấy đã Niết Bàn (không còn dư sót),
hay là vẫn còn dư sót?
Vị ấy đã được giải thoát như thế nào, hãy cho chúng con được nghe điều ấy.
‘Vị ấy đã cắt đứt tham ái ở danh và sắc này,
Nghĩa là
Thật vậy, khi tôi đã xuất gia, rời nhà sống đời không nhà, những ý nghĩ cứ đuổi theo tôi, là những ý nghĩ táo bạo của Kẻ Tăm Tối. Dù là con của các chiến binh, các cung thủ vĩ đại, đã được huấn luyện, có cây cung chắc chắn, vây quanh tôi khắp mọi phía với một ngàn người, tôi cũng không bỏ chạy. Dù phụ nữ đến, dù nhiều hơn thế nữa, họ cũng không làm tôi nao núng, vì tôi đã đứng vững trong Chánh Pháp. Vì tôi đã đích thân nghe điều này từ Đức Phật, thân quyến của mặt trời: con đường đi đến Niết-bàn; tâm tôi vui thích ở nơi ấy. Này kẻ ác, nếu ngươi đến gần tôi khi tôi đang sống như thế này, này Thần Chết, tôi sẽ khiến ngươi không còn thấy được cả đường tôi đi. Sau khi từ bỏ sự ghét bỏ và sự ưa thích, và mọi ý nghĩ liên hệ đến đời sống gia đình, không để tham ái vướng vào bất cứ đâu; không vướng tham ái, thoát khỏi tham ái: vị ấy là Tỷ-kheo. Bất cứ vật gì ở nơi này, ở trái đất và ở không trung, thuộc về sắc pháp, chìm trong thế gian, tất cả đều hao mòn, đều vô thường; những vị tự quán xét sống sau khi đã hiểu rõ như thế. Chúng sanh bị cột trói vào các mầm tái sanh, vào cái được thấy, được nghe, được xúc chạm và được nghĩ đến. Ở đây hãy xua tan lòng ham muốn, không bị lay động; ai ở đây không bị ái dục làm lem luốc, người ta gọi vị ấy là bậc hiền trí. Người đời kẹt trong sáu mươi tà kiến đầy suy tầm, bám chặt vào các nguyên tắc sai lầm của phàm phu. Nhưng vị Tỷ-kheo không theo phe nhóm nào ở bất cứ đâu, lại càng không thốt lời thô tục: vị ấy là Tỷ-kheo. Có khả năng, được định tĩnh lâu dài, không giả dối, khôn ngoan, không ganh tị, bậc hiền trí đã đạt đến trạng thái an tịnh; đã tịch diệt, vị ấy chờ đợi thời điểm của mình. Này Gotama, hãy dứt bỏ ngã mạn! Và hãy từ bỏ hẳn mọi đường lối của ngã mạn! Bị mê đắm trong các đường lối của ngã mạn, ngươi đã ân hận trong thời gian dài. Bị lem luốc bởi vết nhơ và bị ngã mạn giết chết, chúng sanh rơi vào địa ngục. Khi những người bị ngã mạn giết chết sanh vào địa ngục, họ sầu muộn trong thời gian dài. Vì vị Tỷ-kheo không bao giờ sầu muộn, là người chiến thắng con đường, đã thực hành đúng đắn, vị ấy hưởng danh tiếng và an lạc, người ta gọi vị ấy là "Bậc đã thấy Pháp" — gọi đúng như thật. Vì thế, không cứng cỏi mà tinh tấn, sau khi từ bỏ các triền cái, được thanh tịnh; và sau khi từ bỏ hẳn ngã mạn, người chấm dứt sanh tử nhờ trí tuệ sẽ được an tịnh. Tôi bị lửa dục thiêu đốt, tâm tôi bị cháy rực. Lành thay, xin ngài chỉ cách dập tắt, vì lòng thương xót, bạch Gotama. Vì tưởng bị đảo lộn, tâm ngươi bị cháy rực. Hãy tránh xa tướng mạo xinh đẹp, thứ khơi dậy lòng tham ái. Hãy tu tập tâm về đề mục bất tịnh, tâm chuyên nhất, khéo định tĩnh. Hãy đặt niệm ở nơi thân, hãy đầy sự nhàm chán đối với thân. Hãy tu tập về vô tướng, hãy dứt bỏ khuynh hướng ngã mạn tiềm ẩn; rồi khi đã hiểu thấu ngã mạn, ngươi sẽ sống an tịnh. Chỉ nên nói lời nói ấy, lời không làm cho chính mình nóng giận, và không làm hại người khác; đúng vậy, lời nói ấy là lời khéo nói. Chỉ nên nói lời êm ái, lời được người nghe hoan hỷ đón nhận. Lời êm ái là lời không mang điều xấu ác đến cho người khác. Chân thật là lời nói bất tử: đó là quy luật từ ngàn xưa. Các bậc thiện nhân đứng vững ở sự thật, ở nghĩa lý và ở Giáo Pháp, đã nói như thế. Lời Đức Phật nói là lời đưa đến an ổn, đưa đến đạt được Niết-bàn, đưa đến chấm dứt khổ đau: đúng vậy, đó là lời nói cao thượng nhất. Có tuệ thâm sâu, thông minh, rành rẽ về con đường và không phải con đường; tôn giả Sāriputta, bậc đại trí tuệ, thuyết giảng Giáo Pháp cho các Tỷ-kheo. Ngài thuyết giảng cả tóm tắt, cũng thuyết giảng rộng rãi. Tiếng ngài như tiếng chim sáo, tài biện luận tuôn trào. Trong khi ngài đang thuyết giảng, các Tỷ-kheo lắng nghe lời nói ngọt ngào của ngài, với giọng điệu đáng yêu, đáng nghe, thanh nhã. Các Tỷ-kheo với tâm hứng khởi, hoan hỷ, lắng tai nghe. Hôm nay, ngày rằm, để thanh tịnh giới, năm trăm vị Tỷ-kheo đã tụ hội; các bậc ẩn sĩ đã cắt đứt các kiết sử và ràng buộc, không còn khổ não, việc tái sanh đã cạn kiệt. Như đức Chuyển Luân Vương, được các quan đại thần tháp tùng, đi vòng khắp nơi trên trái đất có biển cả bao bọc này. Cũng vậy, Đấng Chiến Thắng trận chiến, bậc dẫn đường vô thượng, được các đệ tử hầu cận, những vị có ba Minh, đã bỏ lại Thần Chết. Tất cả đều là con của Đức Thế Tôn — ở đây không có kẻ bỏ đi. Con đảnh lễ Đấng tiêu diệt mũi tên tham ái, vị thân quyến của mặt trời. Hơn một ngàn vị Tỷ-kheo hầu cận Đức Thiện Thệ khi Ngài thuyết giảng Giáo Pháp không ô nhiễm, Niết-bàn, nơi không sợ hãi từ bất cứ đâu. Họ lắng nghe Giáo Pháp không ô nhiễm, được Đấng Chánh Đẳng Giác thuyết giảng; Đức Phật chiếu sáng, đi đầu hội chúng Tỷ-kheo. Bạch Đức Thế Tôn, Ngài có tên là Long Tượng (Nāga), bậc tối thượng trong các ẩn sĩ. Như một đám mây lớn, Ngài đổ mưa xuống các đệ tử. Con đã rời chỗ nghỉ ban ngày, vì mong muốn được thấy bậc Đạo Sư. Bạch đấng Đại Hùng, đệ tử của Ngài là Vaṅgīsa đảnh lễ dưới chân Ngài. Sau khi vượt qua con đường sai trái của Ma Vương, Ngài bước đi, sự cứng cỏi đã tan vỡ. Hãy nhìn xem Ngài, Đấng giải thoát khỏi các ràng buộc, không bị lệ thuộc, đã phân tích Giáo Pháp thành từng phần. Để vượt qua dòng nước lũ, Ngài đã giảng con đường bằng nhiều cách; và khi Bất Tử ấy đã được giảng nói, các bậc đã thấy Pháp đứng vững, không bị lay chuyển. Bậc tạo ra ánh sáng, đã thấu triệt sự thật, đã thấy điều vượt lên trên mọi cảnh giới tồn tại. Sau khi tự mình biết và chứng ngộ, Ngài đã thuyết giảng điều cao quý nhất trước tiên cho nhóm năm vị. Khi Giáo Pháp đã được khéo thuyết giảng như vậy, làm sao những người hiểu Giáo Pháp có thể xao lãng? Vì thế, hãy không xao lãng, luôn lễ bái, mà tu tập theo lời dạy của Đức Thế Tôn ấy. Vị trưởng lão giác ngộ sau Đức Phật là Koṇḍañña, người nỗ lực sắc bén. Ngài thường xuyên đạt được các chỗ trú an lạc của sự ẩn cư vắng lặng. Điều gì đệ tử có thể đạt được khi làm theo lời dạy của bậc Đạo Sư, vị ấy đã đạt được tất cả, nhờ không xao lãng mà tu tập. Có đại oai lực, có ba Minh, thiện xảo về tâm của người khác, Koṇḍañña, người thừa tự của Đức Phật, đảnh lễ dưới chân bậc Đạo Sư. Khi bậc Hiền Trí ngồi ở sườn núi, bậc đã đi đến bờ kia của khổ đau, ngài được các đệ tử hầu cận, những vị có ba Minh, đã chiến thắng Thần Chết. Ngài bao quát bằng tâm mình, Moggallāna, bậc đại thần lực, trong khi xét soi tâm của họ, tâm đã giải thoát, không còn mầm mống tái sanh. Như vậy, bậc đầy đủ mọi phẩm chất, bậc Hiền Trí đã đi đến bờ kia của khổ đau, đầy đủ nhiều phương diện, được hầu cận — đấng Gotama. Như mặt trăng ở bầu trời không có mây, chiếu sáng như mặt trời không vết nhơ, cũng vậy, bạch Ngài Aṅgīrasa, bậc Đại Hiền Trí, danh vọng của Ngài rực rỡ hơn tất cả thế gian. Trước đây, say mê thơ văn, chúng tôi lang thang từ làng này đến làng khác, từ phố này đến phố khác. Rồi chúng tôi đã thấy Đấng Toàn Giác, bậc đã đi đến bờ kia của tất cả các pháp. Ngài đã thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi, bậc Hiền Trí đã đi đến bờ kia của khổ đau ấy. Sau khi nghe Giáo Pháp, chúng tôi hoan hỷ tin tưởng — niềm tin đã sanh khởi trong chúng tôi. Sau khi nghe lời nói của ngài, về các uẩn và các xứ, và các giới, tôi đã hiểu rõ; tôi đã xuất gia, sống đời không nhà. Vì lợi ích của số đông mà các đức Như Lai xuất hiện — cho những người nữ và người nam là những người làm theo lời dạy của các Ngài. Thật vậy, vì lợi ích của những người ấy mà bậc Hiền Trí đã đạt đến Giác Ngộ — cho các Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni là những vị đã thấy được sự chắc chắn. Bốn Thánh Đế đã được khéo thuyết giảng bởi Đấng Hữu Nhãn, Đức Phật, thân quyến của mặt trời, là bốn Chân Lý Cao Thượng, vì lòng thương xót chúng sanh. Khổ, nguồn gốc sanh khởi của Khổ, sự vượt qua Khổ, Thánh Đạo Tám Ngành, đưa đến sự yên lặng của Khổ. Những điều này đã được nói như thế, tôi đã thấy chúng đúng như thế. Mục đích của tôi đã được thành tựu, lời dạy của Đức Phật đã được thực hành xong. Thật tốt đẹp cho tôi khi được ở gần Đức Phật của tôi. Trong số các pháp đã được phân chia khéo léo, tôi đã đạt đến pháp cao thượng nhất. Tôi đã đạt đến mức toàn hảo của Thắng Trí, thiên nhĩ đã được thanh tịnh; tôi có ba Minh, đã đạt được thần thông, thiện xảo về tâm của người khác. Con hỏi bậc Đạo Sư có trí tuệ vô song, người đã cắt đứt mọi hoài nghi ngay trong đời này: về vị Tỷ-kheo đã từ trần ở Āḷavī, vị được biết tiếng, có danh vọng, đã tịch tịnh. Tên của vị ấy là Nigrodhakappa; do Ngài đặt cho vị Bà-la-môn ấy, bạch Đức Thế Tôn. Vị ấy sống lễ bái Ngài, mong mỏi sự giải thoát, tinh tấn nỗ lực, là bậc thấy Pháp vững chắc. Về vị đệ tử ấy, bạch vị Sakya, tất cả chúng con đều muốn được biết, bạch Đấng Toàn Nhãn. Tai chúng con đã sẵn sàng để nghe; Ngài là bậc Đạo Sư của chúng con, Ngài là bậc vô thượng. Xin hãy cắt đứt hoài nghi của chúng con, xin hãy nói điều này cho chúng con; bạch Đấng có trí tuệ rộng lớn, xin cho biết về sự tịch diệt của vị ấy! Bạch Đấng Toàn Nhãn, xin hãy nói giữa chúng con, như vị Sakka ngàn mắt ở giữa chư Thiên! Bất cứ mối buộc thắt nào ở đây, hay con đường của si mê, hay những gì thuộc phe vô minh, những chỗ đứng của hoài nghi, khi đã đến với Đức Như Lai, chúng đều tan biến, vì con mắt của Ngài là cao nhất giữa loài người. Nếu không có người nào xua tan các phiền não, như gió xua tan đám mây giông, bóng tối sẽ bao trùm toàn bộ thế gian; ngay cả những người sáng chói cũng không thể phát sáng. Các bậc sáng suốt là những người tạo ra ánh sáng; bạch đấng Anh Hùng, con nghĩ về Ngài đúng như thế. Chúng con đã đến vì sự minh sát và hiểu biết của Ngài: xin hãy tuyên bố về Kappāyana cho chúng con giữa hội chúng này. Xin mau thốt lên giọng nói ngọt ngào, ngọt ngào, như chim thiên nga rướn cổ khẽ kêu, với giọng trong trẻo, khéo điều khiển: tất cả chúng con đều chăm chú lắng nghe Ngài. Ngài đã dứt bỏ hẳn sanh và chết; đã tự chế ngự và thanh tịnh, con thỉnh Ngài: xin hãy nói Pháp! Vì phàm phu không có ai ban cho điều ước nguyện, còn các Đức Như Lai thì có sự ban cho khả năng hiểu thấu. Lời giải đáp của Ngài là đầy đủ, chúng con xin tiếp nhận, vì Ngài có sự hiểu biết hoàn toàn. Đôi tay chắp này được đưa lên lần cuối, kính cẩn; bạch bậc trí tuệ vô song, khi Ngài biết, xin đừng làm chúng con mê mờ. Ngài đã hiểu biết Giáo Pháp của bậc Thánh từ thấp đến cao; bạch bậc dũng lực vô song, khi Ngài biết, xin đừng làm chúng con mê mờ. Như người bị thiêu đốt giữa nắng hè khao khát nước, con khao khát lời nói của Ngài; xin hãy cho âm thanh tuôn xuống như mưa. Kappāyana đã sống đời Phạm hạnh có mục đích; há chẳng phải việc ấy không vô ích sao? Vị ấy đã chứng được sự tịch diệt, hay vẫn còn dư sót? Vị ấy đã được giải thoát như thế nào, xin cho chúng con được nghe! "Ngài đã cắt đứt tham ái ở danh và sắc này,"
(Đức Thế Tôn nói)
Vị ấy đã vượt qua sự sanh và sự chết.’
Đức Thế Tôn, bậc đứng đầu về năm pháp, đã nói như thế.
Bạch bậc Ẩn Sĩ tối thượng, sau khi nghe điều ấy,
con tin tưởng vào lời nói của Ngài.
Thật vậy, điều đã được con hỏi là không vô ích,
vị Bà-la-môn đã không dối gạt con.
Vị có lời nói như thế nào thì có hành động như thế ấy
đã là đệ tử của đức Phật.
Vị ấy đã cắt đứt tấm lưới
chắc chắn của Thần Chết xảo quyệt đã được giăng ra.
Nghĩa là
"dòng sông của Kẻ Tăm Tối đã tiềm ẩn lâu ngày trong ngài. Ngài đã vượt qua hẳn sanh và chết." Đức Thế Tôn, bậc đứng đầu của năm vị, đã nói như thế. Nghe lời Ngài, con tin tưởng, vào lời của Ngài, bậc tối thượng trong các ẩn sĩ. Câu hỏi của con quả thật không vô ích, vị Bà-la-môn đã không lừa dối con. Ngài nói sao làm vậy — ngài là đệ tử của Đức Phật. Ngài đã cắt đứt tấm lưới của Thần Chết, tấm lưới giăng rộng và chắc chắn của kẻ xảo quyệt.
Bạch Đức Thế Tôn, Kappāyana đã thấy nguồn gốc của sự chấp thủ. Kappāyana quả thật đã vượt qua lãnh địa của Thần Chết, nơi rất khó vượt qua.
và người con trai của Ngài,
đấng hậu duệ, vị đại anh hùng,
bậc long tượng, dòng dõi chính thống của loài long tượng.”
Nghĩa là
Con đảnh lễ Ngài, vị Trời của chư Thiên, bậc tối thượng của loài người, và đảnh lễ con trai của Ngài, vị nối tiếp gương Ngài, bậc đại anh hùng; bậc long tượng, người con chính thống của long tượng."
Trưởng lão Vaṅgīsa đã nói bài kệ như thế. Phẩm Lớn được chấm dứt.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
là vị trưởng lão độc nhất,
không có vị nào khác,
các câu kệ là bảy mươi mốt.”
Nghĩa là
Trong nhóm bảy mươi, Vaṅgīsa có tài biện luận là vị trưởng lão duy nhất, không có vị nào khác; các bài kệ là bảy mươi mốt."
Trưởng Lão Tăng Kệ được chấm dứt.
TÓM LƯỢC TÁC PHẨM NÀY
hai trăm chín mươi mốt câu
và các trưởng lão là hai trăm sáu mươi
bốn vị đã được biết tiếng.
Những người con trai của đức Phật,
không còn lậu hoặc,
sau khi rống lên tiếng rống của loài sư tử, sau khi đạt được sự an toàn ấy,
đã Niết Bàn, tựa như đống lửa đã được diệt tắt.”
Nghĩa là
Các bài kệ gồm một ngàn câu, và thêm hai trăm chín mươi mốt câu nữa (theo cách tính của bản dịch này; Pāli ghi một ngàn cộng ba trăm sáu mươi). và các trưởng lão là hai trăm sáu mươi vị, cộng thêm bốn vị nữa, đã được công bố. Sau khi rống lên tiếng rống của sư tử, các người con của Đức Phật, không còn lậu hoặc, sau khi đạt đến bờ an ổn, đã tịch diệt như một khối lửa đã tắt.
Trưởng Lão Tăng Kệ Pāli được chấm dứt.