Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tiểu Bộ › Kệ của trưởng lão Telakāni

Kệ của trưởng lão Telakāni

Telakānittheragāthā · THAG16.3 · 93 đoạn

Trưởng lão Telakāni thuật lại cơn khủng hoảng kéo dài nhiều năm: tinh cần suy tư về Giáo Pháp mà tâm không hề bình lặng — như con cá mắc lưỡi câu, như A-tu-la bị trói trong bẫy, bị mũi tên nghi ngờ và tham ái găm sâu trong ngực, chìm trong cái hồ bùn đầy xảo trá, ganh tỵ, hung hăng và dã dượi buồn ngủ, bị các dòng nước cuốn trôi. Ông đi hỏi khắp các Sa-môn, Bà-la-môn: ai đã sang bờ kia, ai là thầy thuốc nhổ được mũi tên mà không cần dao kéo, chỉ cho kẻ chìm sâu thấy bàn tay và bờ bến? Rồi bậc Đạo Sư có vũ khí trí tuệ trở thành chốn nương tựa: Ngài trao chiếc thang trong sạch làm bằng tinh túy của Giáo Pháp và nói "đừng sợ hãi" — leo lên tòa lầu chánh niệm, ông quán xét lại thân kiến xưa, thấy con thuyền của Đạo lộ, bến đỗ tối thượng, và mối thắt tiềm ẩn lâu đời được Đức Phật cởi bỏ.

Điểm thực hành

Khi tâm đầy nghi ngờ và sợ hãi, đừng cố tự nhổ mũi tên bằng cãi lý — hãy đắp bờ đê chánh niệm để ngăn các dòng nước phiền não, rồi từ trên cao quán xét lại mình.

Trưởng Lão Tăng Kệ 16.3 Phẩm Hai Mươi Kệ Phẩm thứ nhất Telakāni

“Quả thật, có sự tinh cần một thời gian dài,
trong khi suy tư về Giáo Pháp,
trong khi học hỏi các vị Sa-môn và Bà-la-môn,
tôi đã không đạt được sự bình lặng của tâm.
Ở thế gian, ai là người đã đi đến bờ kia?
Ai đã đạt được sự thể nhập vào Bất Tử?
Giáo Pháp tuyên bố về mục đích tối hậu của vị nào
mà tôi chấp nhận?
Tôi đã bị vướng lưỡi câu ở bên trong,
tựa như con cá ăn miếng mồi,
giống như A-tu-la Vepacitti
bị vướng bẫy sập của vị thần Inda vĩ đại.
Tôi kéo theo cái ấy,
tôi không được thoát khỏi sự sầu muộn và than vãn này.
Người nào, trong khi cởi ra sự trói buộc cho tôi,
sẽ giúp cho tôi hiểu được sự giác ngộ ở thế gian?
Vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào
đang chỉ ra sự phá vỡ (các phiền não),
Giáo Pháp có sự xua đi già và chết của vị nào
mà tôi chấp nhận?
bị cột trói chung với sự phân vân và nghi hoặc,
bị gắn liền với sức mạnh của sự tự cao,
bị cố chấp khi tâm đạt đến sự phẫn nộ.
Mũi tên tham ái,
Được phát xuất từ cây cung tham ái,
và được kết nối với hai lần mười lăm (ba mươi tà kiến),
ngươi hãy nhìn xem nó đã chẻ ra lồng ngực chắc chắn,
rồi đứng yên.
Việc không từ bỏ các tà kiến phụ thuộc
đã được thúc đẩy bởi sự suy tư và ký ức.
Bị xuyên thủng bởi nó (mũi tên tà kiến), tôi run rẩy,
tựa như chiếc lá bị lay động bởi làn gió.
Sau khi sanh khởi ở nội tâm của tôi,
bản ngã tức thời được nung nấu.
Cái thân thể với sáu xúc xứ
là nơi (bản ngã) phát xuất vào mọi lúc.
Tôi không nhìn thấy người thầy thuốc nào
có thể nhổ lên mũi tên ấy cho tôi
bằng vật dụng các loại, không có dao mổ và dụng cụ khác,
là điều còn hoài nghi.

Nghĩa là

Dốc lòng tinh cần đã lâu, thật buồn, suy ngẫm mãi về Giáo Pháp, mà vẫn không được chút bình yên trong tâm. Tôi đi hỏi các Sa-môn và Bà-la-môn: Ở đời, ai là người đã sang bờ kia? Ai đã đạt đến bờ Bất Tử? Tôi nên nhận Giáo Pháp của ai để hiểu được mục đích tối hậu? Tôi bị móc vào lưỡi câu bên trong, như con cá nuốt phải mồi; bị trói trong bẫy của thần Inda vĩ đại, như A-tu-la Vepacitti. Kéo theo nó, tôi không thoát được khỏi sầu muộn và than vãn này. Ai ở đời sẽ cởi trói cho tôi, để tôi biết được sự giác ngộ? Vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào chỉ ra được những gì rã rời, mong manh? Tôi nên nhận Giáo Pháp của ai để rửa sạch già và chết? Bị trói chặt bởi hoang mang và nghi ngờ, bị sức mạnh của thói tự cao giữ chặt, cứng đờ như cái tâm bị sân hận chiếm, là mũi tên của lòng tham ái. Bắn ra từ cây cung tham ái, gắn vào lồng ngực ba mươi xương sườn — hãy xem nó đứng trong ngực tôi, chẻ vỡ trái tim mạnh mẽ này. Các tà kiến không được từ bỏ, lại được ký ức và ý định mài sắc; bị nó xuyên thủng, tôi run rẩy như chiếc lá trong cơn gió mạnh. Sinh khởi ngay trong nội tâm tôi, cái thuộc về tôi bị nung nóng rất nhanh, nơi thân thể với sáu chỗ tiếp xúc này luôn hướng tới mọi lúc. Tôi không thấy người thầy thuốc nào có thể nhổ mũi tên này cho tôi mà không dùng dao mổ hay vật nhọn nào khác — mũi tên của nghi ngờ.

Không dao, không vết thương — ai sẽ nhổ mũi tên này, mũi tên găm sâu bên trong tôi, mà không làm hại phần nào trên thân tôi?

Chính bậc Pháp Chủ hàng đầu ấy,
người lấy đi sự tác hại của chất độc,
có thể giúp cho tôi nhìn thấy mặt đất (Niết Bàn) và bàn tay (Thánh Đạo)
khi tôi đã bị rơi vào vực sâu.
Tôi bị chìm sâu
trong hồ chứa bụi bặm và bùn lầy ứ đọng,
bị bao trùm bởi sự xảo trá, ganh tỵ, tự cao,
và dã dượi buồn ngủ.
Sấm sét từ đám mây phóng dật,
đám mây của (mười) sự ràng buộc,
các suy tư phụ thuộc vào luyến ái
là các dòng chảy cuốn trôi kẻ có tà kiến xấu xa.
Các dòng nước chảy tràn khắp mọi nơi,
loài dây leo đâm chồi và tồn tại,
ai có thể ngăn chặn các dòng nước ấy,
ai sẽ chặt đứt loài dây leo ấy?
Thưa ngài đại đức,
ngài hãy tạo ra vòng đai ngăn chặn các dòng nước,
chớ để dòng nước do tâm tạo nhấn chìm ngài một cách tàn bạo,
tựa như khúc cây.
Tương tự như vậy, đối với tôi,
kẻ đã khởi sanh nỗi sợ hãi,
từ bờ bên này đang tìm kiếm bờ kia,
thì bậc Đạo Sư, được tập thể các vị ẩn sĩ tháp tùng, có vũ khí trí tuệ, là chốn nương tựa của tôi.
Trong lúc tôi đang bị cuốn trôi,
Ngài đã trao cho tôi chiếc thang đã khéo được thực hiện, trong sạch,
làm bằng chất tinh túy của Giáo Pháp, vững chắc,
và đã nói rằng: ‘Chớ sợ hãi.’
Sau khi leo lên tòa lâu đài của sự thiết lập niệm,
tôi đã quán xét lại về điều mà tôi đã quan niệm trước đây,
là loài người
thích thú với bản thân của mình.
Và từ khi tôi đã nhìn thấy
Đạo Lộ có sự đưa lên con thuyền,
tôi đã không chăm chú về bản thân,
và tôi đã nhìn thấy bến tàu tối thượng.
Mũi tên có nguồn phát xuất ở tự ngã,
đã sản sanh ra lối dẫn đến hiện hữu;
Ngài đã thuyết giảng Đạo Lộ tối thượng
đưa đến sự ngưng vận hành của những việc này.
Đức Phật, với việc lấy đi sự tác hại của chất độc, đã cởi bỏ cho tôi
mối buộc thắt
đã được tiềm ẩn thời gian dài,
đã được tồn tại thời gian lâu.”

Nghĩa là

Vị ấy thật là bậc Pháp Chủ tối cao, bậc giỏi nhất chữa tác hại của chất độc; khi tôi đã rơi xuống vùng nước sâu, vị ấy chỉ cho tôi bàn tay và bờ bến. Tôi đã chìm sâu trong cái hồ đầy bùn đất không rửa sạch được, đầy xảo trá, ganh tỵ, hung hăng, và dã dượi buồn ngủ lan khắp. Đám mây phóng dật ầm ầm sấm sét, đám mây của các điều ràng buộc; gió là những suy tư bám vào tham luyến cuốn trôi người có tà kiến xấu xa. Các dòng nước chảy khắp mọi nơi; dây leo đâm chồi và ở lại. Ai sẽ ngăn các dòng nước ấy? Ai sẽ chặt đứt dây leo ấy? Thưa đại đức, xin hãy đắp bờ đê để ngăn chặn các dòng nước; đừng để dòng nước do tâm tạo bất ngờ đốn ngã ngài như đốn một cái cây. Khi tôi đầy sợ hãi như vậy, từ bờ này tìm kiếm bờ kia, chốn nương tựa của tôi là bậc Đạo Sư có vũ khí trí tuệ, được đoàn ẩn sĩ hộ tống. Chiếc thang khéo làm, trong sạch, bằng tinh túy của Pháp, vững chắc — Ngài trao cho tôi, khi tôi đang bị cuốn trôi, và nói với tôi: "Đừng sợ". Leo lên tòa lầu của sự thiết lập niệm, tôi nhìn lại phía dưới điều mà xưa kia tôi từng mê chấp — những người vui thích với thân kiến. Khi tôi thấy được con đường, như bước lên con thuyền; không còn chăm chú vào bản ngã, tôi thấy bến đỗ tối thượng. Mũi tên sinh khởi từ tự ngã, và sinh ra từ dây dắt đến hiện hữu — để chúng không còn vận hành nữa, Ngài đã giảng con đường tối thượng. Nằm ẩn trong tôi đã lâu, bám chặt trong tôi đã lâu — Đức Phật đã cởi bỏ mối thắt ấy cho tôi, chữa lành tác hại của chất độc.

Trưởng lão Telakāni đã nói bài kệ như thế.