Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tiểu Bộ › Kệ của trưởng lão Pārāsariya

Kệ của trưởng lão Pārāsariya

Pārāpariyattheragāthā · THAG16.10 · 131 đoạn

Trưởng lão Pārāsariya (vị thứ ba) ngồi thiền trong rừng hoa và than về sự suy đồi của Giáo đoàn: thời đấng Bảo Hộ Thế Gian còn tại thế, các Tỷ-kheo mặc y chỉ để che thân và tránh gió lạnh, ăn vừa đủ để duy trì mạng sống, không ham vật dụng thuốc men bằng ham dứt lậu hoặc, sống ẩn cư ở rừng, gốc cây, khe núi, hang động — khiêm tốn, mềm mỏng, uy nghi như luồng dầu trơn tru. Các trưởng lão ấy nay đã tịch diệt và ít ỏi dần; thiện pháp suy, ác pháp và ô nhiễm đến thời, chúng đùa giỡn với người ngu, xô người ta chạy theo các nền tảng ô nhiễm; kẻ đã bỏ vợ con tài sản xuất gia lại làm việc không đáng làm vì một muỗng đồ ăn, no bụng nằm ngửa, tán gẫu chuyện Đạo Sư chê trách, buôn bán thủ thuật với cư sĩ, như thầy thuốc, như cư sĩ, như gái điếm, như vua chúa; giảng Pháp vì lợi lộc, cãi cọ về lợi lộc của hội chúng, không biết hổ thẹn. Dù vậy, như người đi chân đất trên đường gai phải thiết lập niệm từng bước, người nhớ đến hạnh của các hành giả xưa thì dù ở thời kỳ cuối vẫn chạm đến được vị thế Bất Tử. Bài kệ kết thúc Phẩm Hai Mươi Kệ với bài tóm lược mười vị trưởng lão và hai trăm bốn mươi lăm câu kệ.

Điểm thực hành

Đi trong "làng" hôm nay như đi chân đất trên đường gai: thiết lập chánh niệm trước từng bước. Thời nào cũng có người chạm đến Bất Tử nếu chịu nhớ và noi theo hạnh của người xưa.

Trưởng Lão Tăng Kệ 16.10 Phẩm Hai Mươi Kệ Phẩm thứ nhất Pārāsariya

“Ở Mahāvana (Đại Lâm) được nở rộ hoa, vị Sa-môn đã ngồi xuống,
(có tâm) được tập trung,
được tách ly, chứng thiền,
đã khởi ý nghĩ rằng:
‘Khi đấng Bảo Hộ Thế Gian, bậc Tối Thượng Nhân,
đang còn hiện tiền,
uy nghi của các vị tỳ khưu đã là cách khác,
giờ đây được thấy cách khác.
Việc bảo vệ khỏi gió lạnh,
việc che đậy chỗ kín,
các vị đã thọ dụng theo nhu cầu vừa đủ,
tự hoan hỷ (tri túc) về bất cứ vật nào (đã thọ nhận).
Dầu là hảo hạng hay thô xấu,
dầu là ít hoặc nhiều,
các vị đã thọ dụng vì mục đích duy trì mạng sống,
không bị tham đắm, không bị say đắm.
Các vị đã không năng nổ thái quá về các vật dụng cho đời sống,
về thuốc men khi có bệnh,
giống như các vị ấy (đã năng nổ)
cho việc cạn kiệt các lậu hoặc.
Trong khi đeo đuổi việc ẩn cư,
với sự chuyên chú về việc ấy,
các vị đã sống ở khu rừng, ở các gốc cây,
ở những khe núi, và ở các hang động.
(Các vị) khiêm tốn, tín tâm, dễ nuôi,
mềm mỏng, tâm ý không cương ngạnh,
không lú lẫn, không lắm lời,
thiên về sự suy nghĩ đến điều lợi ích (cho mình và cho người).
Do đó,
cách đi, cách ăn, cách xử sự đã tạo ra niềm tin.
Uy nghi cử chỉ đã là tương tự
như luồng nước dầu trơn tru.
Giờ đây, các vị trưởng lão
có tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt,
có thiền chứng vĩ đại, có lợi ích lớn lao ấy đã tịch diệt,
giờ đây các vị như thế ấy là ít ỏi.
Do sự cạn kiệt hoàn toàn của các thiện pháp
và trí tuệ,
Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, được hội đủ mọi biểu hiện cao quý,
bị hủy hoại.
Đây là giai đoạn của các pháp ác
và các ô nhiễm,
nhưng các vị nào được tự tại trong việc ẩn cư
vẫn thành tựu phần còn lại của Chánh Pháp.
Các ô nhiễm ấy, được tăng trưởng,
xâm nhập ở nhiều người;
tôi nghĩ rằng chúng đùa giỡn với những kẻ ngu si,
tựa như các quỷ sứ đùa giỡn với những kẻ bị điên cuồng.
Bị chế ngự bởi các ô nhiễm,
những kẻ ấy chạy theo đối tượng này đối tượng nọ
ở các nền tảng tạo ra sự ô nhiễm,
tựa như trong cuộc chiến đấu của bản thân (với Ma Vương) đã được công bố.
Sau khi hoàn toàn từ bỏ Chánh Pháp,
bọn họ xung đột lẫn nhau.
Trong khi theo đuổi các tà kiến,
bọn họ nghĩ rằng: ‘Điều này là tốt hơn.’
Sau khi lìa bỏ tài sản, con trai, và vợ,
bọn họ đã ra đi.
Vì nguyên nhân một muỗng đồ ăn,
bọn họ thực hành các việc không đáng làm.
Sau khi thọ thực đầy bụng,
họ ngủ với tư thế nằm ngửa.
Lúc thức dậy, họ khơi lên các cuộc nói chuyện,
là các cuộc nói chuyện đã bị bậc Đạo Sư chê trách.
Họ tôn sùng và học tập tất cả cảc nghề nghiệp thủ công,
không an tịnh nội tâm;
‘mục đích của đời sống Sa-môn’
là không có liên quan.
Họ cho các cư sĩ
đất sét, dầu ăn, bột phấn,
nước uống, chỗ ngồi, và thức ăn,
trong khi mong mỏi (được cho lại) nhiều hơn.
(Họ cho) tăm xỉa răng, trái cây kapittha,
bông hoa, các loại vật thực cứng,
các đồ ăn khất thực đặc biệt,
các trái xoài, và các trái cây āmalaka.
Về các loại thuốc men thì họ giống như những thầy thuốc,
về các việc lớn nhỏ thì giống như các cư sĩ,
về những đồ trang sức thì tựa như các cô gái điếm,
về quyền uy thì giống như các vị Sát-đế-lỵ.
Lường gạt, lừa dối,
làm chứng sai trái, buông lung,
họ thọ hưởng vật chất
bằng nhiều cách thức sắp đặt.

Nghĩa là

Suy nghĩ này đến với vị Sa-môn trong khu rừng lớn đầy hoa, khi ông ngồi một mình, tâm tập trung, tu thiền trong tách ly: Khi đấng Bảo Hộ Thế Gian còn tại thế, bậc tối thượng trong loài người, nếp sống của các Tỷ-kheo là một cách khác; giờ đây thấy ra một cách khác hẳn. Y của các vị chỉ để tránh lạnh và gió, và che đậy chỗ kín của thân; các vị ăn có chừng mực, biết đủ với bất cứ thứ gì được dâng. Dù món ngon hay món thô, dù ít hay nhiều, các vị ăn chỉ để duy trì mạng sống, không tham đắm, không say đắm. Về các vật dụng cho đời sống, thuốc men và các vật cần thiết, các vị không hăng hái cho lắm, như đã hăng hái cho việc dứt sạch lậu hoặc. Ở rừng, ở gốc cây, ở khe núi và hang động, nuôi dưỡng sự tách ly, các vị sống lấy đó làm cứu cánh. Khiêm tốn, dễ nuôi, mềm mỏng, tâm không cứng cỏi, không ô nhiễm, không lắm lời, tâm ý hướng về mục đích. Vì vậy các vị làm người ta sinh niềm tin — trong cách đi, cách ăn, cách xử sự; uy nghi của các vị trơn tru như một dòng dầu chảy. Mọi lậu hoặc đã cạn kiệt hẳn, các vị trưởng lão đại thiền, đại ân ích ấy nay đã tịch diệt; người như thế nay còn ít ỏi. Với sự cạn kiệt của các thiện pháp và của trí tuệ, Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, đầy đủ mọi phẩm chất cao quý, đang tan rã. Đây là thời của các pháp ác và của các ô nhiễm. Những vị sẵn sàng cho sự tách ly là phần còn lại của Chánh Pháp. Các ô nhiễm ấy lớn lên, nhập vào rất nhiều người; chúng đùa giỡn với kẻ ngu, tôi nghĩ vậy, như quỷ dữ đùa giỡn với kẻ điên. Bị ô nhiễm chế ngự, họ chạy chỗ này chỗ nọ giữa các nền tảng của ô nhiễm, như thể đã tuyên chiến với chính mình. Bỏ hẳn Chánh Pháp, họ cãi cọ lẫn nhau. Đi theo các tà kiến, họ nghĩ: "Cái này tốt hơn". Bỏ tài sản, con trai và vợ, họ ra đi xuất gia. Rồi vì một muỗng đồ ăn khất thực, họ làm những việc không nên làm. Ăn đầy bụng, họ nằm ngửa ra ngủ. Thức dậy, họ lại tán gẫu, những chuyện bậc Đạo Sư đã chê trách. Mọi nghề thủ công đều được họ quý trọng, họ rèn luyện lấy các nghề ấy. Nội tâm không an tịnh, họ lại nghĩ: "Đó là mục đích của đời Sa-môn". Đất sét, dầu, bột phấn — nước, chỗ ở và thức ăn — họ cung cấp những thứ ấy cho các cư sĩ, mong được đền đáp nhiều hơn. Tăm xỉa răng, trái kapittha, hoa và các món ăn, đồ ăn khất thực nấu ngon, xoài và trái āmalaka. Về thuốc men, họ như thầy thuốc; về việc đời, họ như cư sĩ; về trang điểm, họ như gái điếm; về quyền uy, họ như vua chúa. Lường gạt, lừa dối, làm chứng gian, mưu mô; bằng nhiều mưu sắp đặt, họ thọ hưởng vật chất.

Chạy theo cớ lệ, mưu mô, sắp đặt, bị các mưu mô ấy lôi kéo chạy, vì sinh kế, dùng mọi thủ đoạn, chúng kéo về cho mình nhiều tài sản.

Họ thiết lập đồ chúng
vì nghề nghiệp không vì Giáo Pháp;
họ thuyết giảng Giáo Pháp cho những người khác vì lợi lộc
không vì mục đích.
Những kẻ bên ngoài hội chúng cãi cọ về lợi lộc của hội chúng;
họ là những kẻ vô liêm sỉ,
trong khi đang sống nhờ vào lợi lộc của người khác,
lại không biết hổ thẹn.
Không được gắn bó (với các pháp Sa-môn) như thế ấy,
một số cạo đầu, trùm y hai lớp;
bị say đắm bởi lợi lộc và sự tôn vinh,
họ mong muốn chỉ mỗi sự cung kính.
Khi đã phát khởi các sự việc đa dạng như vậy,
giờ đây không phải là việc dễ dàng như trước
để chứng đắc pháp chưa được chứng đắc,
hoặc để duy trì pháp đã được chứng đắc.
Giống như người không mang giày
bước đi ở khu vực có gai nhọn,
tương tự như vậy, bậc hiền trí nên thiết lập niệm
rồi mới nên đi lại ở trong làng.
Người nhớ đến các hành giả ở thời quá khứ,
trong khi tưởng nhớ đến phận sự của các vị ấy,
mặc dầu là thời điểm sau cùng,
cũng vẫn có thể chạm đến vị thế Bất Tử.
Sau khi nói điều này ở khu rừng cây sālā,
vị Sa-môn có giác quan đã được tu tập,
vị Bà-la-môn, bậc ẩn sĩ, với việc tái sanh lần nữa đã được cạn kiệt,
đã viên tịch Niết Bàn.”

Nghĩa là

Họ tụ họp đồ chúng vì công việc, không phải vì Giáo Pháp. Họ giảng Pháp cho người khác vì lợi lộc, không phải vì mục đích. Kẻ ngoài hội chúng cãi cọ về lợi lộc của hội chúng; bị gạt ra ngoài hội chúng. Sống nhờ lợi lộc của người khác, không biết hổ thẹn, họ chẳng chút liêm sỉ. Một số người như thế không gắn bó với hạnh Sa-môn: đầu cạo, khoác y hai lớp, chỉ mong được người ta tôn kính, say đắm trong lợi lộc và sự tôn vinh. Khi mọi việc đã đến nước này, ngày nay không dễ chứng đắc điều chưa chứng đắc, hay giữ gìn điều đã chứng đắc. Như người không mang giày đi trên vùng đầy gai, họ bước đi chân đất; thiết lập chánh niệm như thế, bậc hiền trí nên đi lại trong làng. Nhớ đến các hành giả thời xưa, tưởng nhớ nếp sống của các vị ấy, dù ở thời kỳ sau cùng, vẫn có thể chạm đến vị thế Bất Tử. Nói điều này ở rừng cây sālā, vị Sa-môn có các căn đã tu tập — vị Bà-la-môn, bậc ẩn sĩ, đã viên tịch Niết-bàn, dứt hẳn mọi tái sinh sau này.

Trưởng lão Pārāsariya đã nói bài kệ như thế. Phẩm Hai Mươi Kệ được chấm dứt.

TÓM LƯỢC NHÓM NÀY

“Vị Adhimutta, vị Pārāsariya,
vị Telakāni, vị Raṭṭhapāla,
vị Māluṅkya, vị Sela, vị Bhaddiya,
vị Aṅgulimāla, vị có Thiên nhãn (Anuruddha),
vị Pārāsariya, mười vị này
đã thuật lại ở nhóm hai mươi.
Có hai trăm
và thêm vào bốn mươi lăm câu kệ.”

Nghĩa là

Trưởng lão Adhimutta, trưởng lão Pārāsariya, trưởng lão Telakāni, trưởng lão Raṭṭhapāla; trưởng lão Māluṅkya, trưởng lão Sela, trưởng lão Bhaddiya, trưởng lão Aṅgulimāla, vị có thiên nhãn (Anuruddha), và trưởng lão Pārāsariya — mười vị này đã được thuật lại trong Phẩm Hai Mươi. Có hai trăm thêm bốn mươi lăm câu kệ.