Kệ của trưởng lão Sunīta
Trưởng lão Sunīta kể chuyện đời mình: sinh ra trong gia đình thấp kém, nghèo khó, làm nghề đổ rác hoa, bị mọi người nhờm gớm và khinh miệt, chỉ biết hạ thấp tâm mình mà lễ bái người khác. Một hôm thấy Đức Phật dẫn đầu Tăng đoàn vào thành, ông đặt đòn gánh xuống đến đảnh lễ; Đức Phật vì thương ông mà dừng lại, gọi một tiếng "Hãy đến, Tỷ-kheo!" — đó là lễ thọ giới của ông. Ở rừng tu tập không biếng nhác, trong một đêm qua ba canh ông nhớ lại đời sống trước, làm trong sạch thiên nhãn và phá tan khối tăm tối vô minh; trời Inda và đấng Brahmā đến chắp tay kính lễ ông, và Đức Phật mỉm cười tuyên bố: nhờ khổ hạnh, Phạm hạnh, kiềm chế và rèn luyện mà một người trở thành Bà-la-môn tối thượng. Bài kệ kết thúc Phẩm Mười Hai Kệ, kèm bài tóm lược hai vị trưởng lão và hai mươi bốn câu kệ.
Điểm thực hànhGiá trị của một người không nằm ở chỗ sinh ra: sinh ra thấp kém mà biết hạ tâm, lễ kính người và tu tập bền bỉ, thì chư thiên cũng phải cúi chào.
Trưởng Lão Tăng Kệ 12.2 Phẩm Mười Hai Kệ Phẩm thứ nhất Sunīta
tôi là nghèo khó, có ít thức ăn,
nghề nghiệp của tôi đã là hạ tiện,
tôi đã là người đổ rác hoa.
Đối với mọi người, tôi bị nhờm gớm,
bị xem thường, và bị khinh miệt.
Sau khi làm cho tâm hạ thấp xuống,
tôi đã lễ bái nhiều người.
Rồi tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác,
dẫn đầu hội chúng tỳ khưu,
bậc Đại Hùng,
đang đi vào thành phố tối thượng Magadha.
Sau khi đặt đòn gánh xuống,
tôi đã đến gần để lễ bái.
Vì lòng thương tưởng đến chính tôi,
bậc Tối Thượng Nhân đã đứng lại.
Khi ấy, sau khi đảnh lễ hai bàn chân của bậc Đạo Sư,
tôi đã đứng một bên.
Tôi đã cầu xin
bậc Tối Thượng của tất cả chúng sanh về việc xuất gia.
Sau đó, đấng Bi Mẫn, bậc Đạo Sư,
đấng Thương Tưởng tất cả thế gian,
đã nói với tôi rằng: ‘Này tỳ khưu, hãy đến;’
việc ấy đã là sự tu lên bậc trên của tôi.
Tôi đây, một mình, trong khi sống ở trong rừng,
không biếng nhác,
đã thực hành lời dạy của bậc Đạo Sư,
giống như đấng Chiến Thắng đã giáo huấn tôi.
Vào canh thứ nhất của đêm,
tôi đã nhớ lại đời sống trước đây.
Vào canh giữa của đêm,
tôi đã làm trong sạch Thiên nhãn.
Vào canh cuối của đêm,
tôi đã phá tan khối đống tăm tối (vô minh).
Sau đó, vào lúc cuối đêm
cho đến lúc mọc lên của mặt trời,
vị Trời Inda và đấng Brahmā, sau khi đi đến,
đã cúi chào tôi, với tay chắp lại.
‘Thưa bậc siêu nhân, xin kính lễ ngài.
Thưa bậc tối thượng nhân, xin kính lễ ngài.
Các lậu hoặc của ngài đây đã cạn kiệt.
Bạch ngài, ngài là bậc xứng đáng được cúng dường.’
Kế đó, bậc Đạo Sư, sau khi nhìn thấy tôi
được tập thể chư Thiên tôn vinh,
đã để lộ nụ cười,
rồi đã nói ý nghĩa này:
‘Do khổ hạnh, do thực hành Phạm hạnh,
do kiềm chế bản thân, và do rèn luyện,
do điều này mà trở thành Bà-la-môn;
tư cách Bà-la-môn này là tối thượng.’”
Nghĩa là
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp kém, nghèo khó, ít thức ăn. Công việc của tôi thật hạ tiện — tôi là người đổ rác hoa. Bị mọi người nhờm gớm, bị xem thường và khinh miệt. Tôi hạ thấp tâm mình, lễ bái rất nhiều người. Rồi tôi thấy Đức Phật, đi đầu đoàn Tăng chúng Tỷ-kheo. Bậc Đại Hùng ấy đang vào thành đô của xứ Magadha. Tôi đặt đòn gánh xuống, đến gần để đảnh lễ. Vì thương tưởng đến tôi, bậc tối thượng nhân dừng lại. Đảnh lễ dưới chân bậc Đạo Sư xong, khi ấy tôi đứng qua một bên và xin được xuất gia nơi bậc tối thượng của tất cả chúng sinh. Sau đó, bậc Đạo Sư đầy lòng bi mẫn, thương tưởng cả thế gian, nói với tôi: "Hãy đến, Tỷ-kheo!" Đó chính là lễ thọ giới của tôi. Tôi một mình ở trong rừng, sống không biếng nhác, làm theo lời dạy của bậc Đạo Sư, đúng như đấng Chiến Thắng đã dạy tôi. Canh thứ nhất của đêm, tôi nhớ lại các đời sống trước. Canh giữa của đêm, tôi làm trong sạch thiên nhãn. Canh cuối của đêm, tôi phá tan khối tăm tối — vô minh. Khi đêm sắp tàn, mặt trời sắp mọc, trời Inda và đấng Brahmā đến chắp tay kính lễ tôi. "Kính lễ ngài, bậc nhân mã thuần chủng! Kính lễ ngài, bậc tối thượng nhân! Các lậu hoặc của ngài đã cạn kiệt, ngài thật xứng đáng được cúng dường." Sau đó, bậc Đạo Sư thấy tôi được đoàn chư thiên tôn vinh, Ngài mỉm cười và nói lên điều này: "Nhờ khổ hạnh, nhờ sống Phạm hạnh, nhờ kiềm chế và rèn luyện mình: nhờ vậy mà trở thành Bà-la-môn, đó là Bà-la-môn tối thượng."
Trưởng lão Sunīta đã nói bài kệ như thế. Phẩm Mười Hai Kệ được chấm dứt.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
có đại thần lực,
ở nhóm mười hai
có hai mươi bốn câu kệ.”
Nghĩa là
Trưởng lão Sīlava và trưởng lão Sunīta, hai vị có đại thần lực; trong Phẩm Mười Hai này, có hai mươi bốn câu kệ.