Kệ của trưởng lão Saṅkicca
Trưởng lão Saṅkicca đáp lời người gọi mình rời rừng về thành Verambhā: gió Verambhā cuốn tan cả những tưởng gắn với sự ẩn cư của ông. Ở rừng, nhìn con quạ đen nương náu bãi tha ma, ông khởi niệm nhàm chán xác thân; ông đã sống trong rừng sâu, khe núi, hang động, không hề biết đến một ý nghĩ sân hận; ông đã hầu hạ bậc Đạo Sư, đặt gánh nặng xuống, nhổ sạch dây dắt đến hiện hữu và đạt mục đích của đời xuất gia. Cuối bài, ông nói mình không ham thích cái chết cũng không ham thích sự sống, chỉ bình thản chờ thời điểm, như người làm thuê chờ tiền công. Bài kệ kết thúc Phẩm Mười Một Kệ, kèm bài tóm lược một vị trưởng lão và mười một câu kệ.
Điểm thực hànhKhông ham sống, không ham chết: làm tròn việc của mình rồi bình thản chờ thời — như người làm thuê đã xong công, chỉ chờ lãnh tiền công.
Trưởng Lão Tăng Kệ 11.1 Phẩm Mười Một Kệ Phẩm thứ nhất Saṅkicca
vào mùa mưa, như là Ujjuhāna?
Verambā là đáng yêu đối với con,
bởi vì sự tách ly là dành cho những người chứng thiền.
Giống như ngọn gió Veramba
xua đi những đám mây vào mùa mưa,
các suy nghĩ của tôi được tản mát lan rộng,
được gắn liền với việc ẩn cư.
Loài quạ đen, xuất thân từ quả trứng,
loanh quanh ở chỗ ngụ nơi bãi tha ma,
làm sanh khởi ở tôi niệm
nương vào sự lìa xa luyến ái ở xác thân.
Những người khác không bảo bọc vị xuất gia,
và vị xuất gia không bảo bọc những người khác;
đúng vậy vị tỳ khưu nằm một cách an lạc,
không trông mong về các dục.
Với nước trong trẻo, với những tảng đá lớn,
được lai vãng bởi các con khỉ và nai,
được bao phủ bởi rong rêu ẩm ướt,
những tảng núi đá ấy khiến tôi thích thú.
Tôi đã sống ở những khu rừng,
ở những khe núi, và ở những hang động,
ở các chỗ trú ngụ xa vắng,
được lai vãng bởi các thú dữ.
‘Những sinh mạng này hãy bị giết hại, bị hành hạ,
bị gánh chịu khổ đau,’
tôi không biết đến sự suy tư không thánh thiện,
gắn liền với sân hận.
Bậc Đạo Sư đã được tôi hầu hạ,
lời dạy của đức Phật đã được thực hành,
vật mang nặng đã được đặt xuống,
lối dẫn đến hiện hữu đã được xóa sạch.
Và vì mục đích nào mà tôi đã xuất gia,
rời nhà sống không nhà,
mục đích ấy của tôi,
sự cạn kiệt tất cả các điều ràng buộc, đã được thành tựu.
Tôi không vui thích sự chết,
tôi không vui thích sự sống,
và tôi chờ đợi thời điểm,
giống như người làm thuê chờ đợi tiền công.
Tôi không vui thích sự chết,
tôi không vui thích sự sống,
và tôi chờ đợi thời điểm,
có sự nhận biết rõ, có niệm.”
Nghĩa là
Này con, ở trong rừng có ích gì cho con, như con chim nhỏ giữa mùa mưa? Thành Verambhā vui đẹp hợp với con — sự tách ly là dành cho người tu thiền. Như gió ở Verambhā thổi tan mây mưa đang đổ xuống, các tưởng của tôi cũng bị cuốn tản mát, những tưởng vốn gắn với sự ẩn cư. Đen tuyền, sinh ra từ trứng — con quạ nương náu ở bãi tha ma — nó làm khởi dậy trong tôi chánh niệm, nương vào lòng nhàm chán xác thân. Người không được ai khác che chở, và cũng không che chở ai khác; vị Tỷ-kheo ấy thật nằm ngủ an lạc, không trông mong gì ở các dục. Nước trong, đá tảng phẳng rộng, khỉ và nai lui tới quanh đây; phủ đầy rong rêu ướt sương, những mỏm đá ấy làm tôi vui thích. Tôi đã ở trong rừng sâu, trong khe núi và hang động, ở những trú xứ xa vắng, nơi thú dữ lui tới. "Mong cho những kẻ này bị giết! Mong chúng bị hành hạ, chịu khổ đau!" — những suy nghĩ như vậy, tôi không hề biết đến: suy nghĩ thấp hèn, gắn với sân hận. Tôi đã hầu hạ bậc Đạo Sư, lời dạy của Đức Phật đã làm xong; gánh nặng đã đặt xuống, dây dắt đến sự hiện hữu đã nhổ sạch. Mục đích mà vì nó tôi xuất gia, từ bỏ nhà cửa, sống không nhà — mục đích ấy tôi đã đạt đến: sự cạn kiệt mọi điều ràng buộc. Tôi không ham thích cái chết, cũng không ham thích sự sống; tôi chỉ chờ đợi thời điểm của mình, như người làm thuê chờ tiền công. Tôi không ham thích cái chết, cũng không ham thích sự sống; tôi chỉ chờ đợi thời điểm của mình, tỉnh giác rõ ràng và có chánh niệm.
Trưởng lão Saṅkicca đã nói bài kệ như thế. Phẩm Mười Một Kệ được chấm dứt.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
có phận sự đã được làm xong, không còn lậu hoặc,
và chỉ có mười một câu kệ
ở nhóm mười một.”
Nghĩa là
Trưởng lão Saṅkicca, chỉ một vị, việc đã làm xong, không còn lậu hoặc; trong Phẩm Mười Một này, có đúng mười một câu kệ.