Kinh Phạm Thiên
Tôn giả Brahmadeva, con một bà Bà-la-môn, xuất gia theo Đức Phật và không bao lâu chứng A-la-hán. Một buổi sáng, ngài khất thực đến nhà mẹ mình; lúc ấy bà đang bày lễ vật cúng dường Phạm thiên như thường lệ. Phạm thiên Sahampati nghĩ: ta hãy đến làm cho bà chấn động. Vị ấy hiện ra đứng giữa hư không trong nhà bà và nói kệ: cõi Phạm thiên ở rất xa, Phạm thiên không ăn thứ lễ vật như vậy — bà tụng niệm làm gì khi chưa biết đường lên Phạm thiên? Chính Brahmadeva này, con trai bà, đã dứt mọi níu giữ, vượt trên chư thiên, không sở hữu gì, vừa vào nhà bà để khất thực mới thật xứng đáng nhận lễ cúng dường. Nghe xong, bà dâng lễ vật lên ngài với lòng tin không lay động và làm phước đức cho an lạc đời sau.
Điểm thực hànhLễ vật quý nhất không phải dâng lên một cõi xa xôi mơ hồ, mà là dâng cho người xứng đáng đang đứng ngay trước mặt mình.
Phẩm thứ nhất Kinh Phạm Thiên Tôi nghe kể lại như vầy: Một lần, Đức Phật ở tại Xá-vệ, trong vườn Kỳ Viên, khu vườn của ông Cấp Cô Độc. Lúc bấy giờ, một bà Bà-la-môn có người con trai tên Brahmadeva, đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống đời không nhà, với Đức Phật. Bấy giờ Tôn giả Brahmadeva sống một mình, tách riêng, không buông lung, nhiệt tâm, kiên quyết; không bao lâu sau, ngài tự mình chứng ngộ ngay trong đời này, đạt đến và an trú trong mục đích cao tột của đời sống phạm hạnh — mục đích mà vì nó các thiện nam tử chân chính xuất gia từ bỏ gia đình, sống đời không nhà. Ngài hiểu rõ: “Sự sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm xong, không còn gì nữa ở nơi này.”
Và Tôn giả Brahmadeva trở thành một trong các bậc A-la-hán. Bấy giờ Tôn giả Brahmadeva vào buổi sáng đắp y, cầm bình bát và y, đi vào Xá-vệ để khất thực. Đi khất thực lần lượt từng nhà ở Xá-vệ, Tôn giả Brahmadeva đến nhà của chính mẹ mình. Lúc bấy giờ, bà mẹ của Tôn giả Brahmadeva, vị nữ Bà-la-môn, đang bày lễ vật cúng dường Phạm thiên như lệ thường. Bấy giờ Phạm thiên Sahampati nghĩ rằng: “Bà mẹ của Tôn giả Brahmadeva, vị nữ Bà-la-môn này, vẫn thường xuyên bày lễ vật cúng dường Phạm thiên. Sao ta không đến gặp bà và làm cho bà chấn động?” Rồi Phạm thiên Sahampati — nhanh như một người lực lưỡng duỗi cánh tay đang co hay co cánh tay đang duỗi — biến mất khỏi cõi Phạm thiên và hiện ra trong nhà của mẹ Tôn giả Brahmadeva.
Phạm thiên Sahampati đứng giữa hư không, nói với bà mẹ của Tôn giả Brahmadeva bằng bài kệ:
Chính Bà thường cúng dường, Cho chính Phạm thiên ấy,
Món cúng dường như vậy, Không món ăn Phạm thiên.
Người bập bẹ làm gì, Chưa biết Phạm thiên đạo.
Này nữ Bà-la-môn, Brahmadeva này Là con trai của bà,
Ngài đoạn mọi sanh y, Chứng pháp siêu Thiên giới,
Khất sĩ, không sở hữu, Không nuôi dưỡng một ai.
Vị ấy nay đã đến, Nhà Bà để khất thực,
Xứng đáng được cúng dường, Thâm hiểu các Thánh điển, Các căn khéo tu tập,
Nhơn, Thiên xứng cúng dường.
Vất ngoài mọi tà ác, Thoát ly mọi nhiễm ô.
Ngài đi, tìm độ thực, Lắng dịu mọi ưu phiền,
Về sau ngài không có, Về trước, ngài cũng không.
Vắng lặng, không mù quáng, Não phiền, không đắm say.
Ngài bỏ rơi gậy gộc, Ðối kẻ yếu, người mạnh.
Mong ngài được thọ hưởng, Món thượng vị Bà dâng,
Không bị ác quân phá, Tâm tư thuần lắng dịu.
Như voi thuần, ngài đi, Thoát ly mọi ái dục.
Vị Tỷ-kheo trì giới, Tâm tư khéo giải thoát,
Hãy mời ngài thọ hưởng Thượng vị Bà cúng dường.
Bà hãy dâng cúng dường. Lên ngài, Bà tin tưởng, Với lòng tin bất động,
Xứng đáng Bà cúng dường.
Hãy làm điều phước đức, Dành an lạc đời sau.
Này nữ Bà-la-môn, Nay Bà đã thấy Ngài. Bậc Thánh nhân ẩn sĩ, Bậc vượt khỏi bộc lưu.
Bà hãy dâng cúng dường Lên ngài, Bà tin tưởng, Với lòng tin bất động,
Xứng đáng Bà cúng dường.
Bà đã làm công đức, Dành an lạc đời sau,
Này Nữ Bà-la-môn, Nay bà đã thấy ngài, Bậc Thánh nhân ẩn sĩ, Bậc vượt khỏi bộc lưu.
Nghĩa là
Cõi Phạm thiên ở xa nơi này lắm, thưa bà, cõi mà bà vẫn thường bày lễ vật cúng dường. Nhưng Phạm thiên không ăn thứ thức ăn như vậy đâu. Bà tụng niệm làm gì khi chưa biết con đường lên cõi Phạm thiên? Này thưa bà, chính Brahmadeva này của bà, không còn gì níu giữ, đã vượt trên cả chư thiên; một vị khất sĩ không sở hữu gì, không nuôi dưỡng ai khác, đã vào nhà bà để khất thực. Ngài xứng đáng nhận lễ vật, là bậc thông thạo trí tuệ, tự thân đã tu tập thành tựu; ngài xứng đáng nhận sự cúng dường của người và trời. Đã gạt bỏ mọi điều ác, ngài không còn bị bôi bẩn; tâm đã mát lạnh, ngài đi khắp nơi tìm thức ăn. Ngài không có “trước” và “sau”, yên lặng, không mù quáng, không phiền não, không còn mong cầu; ngài đã đặt xuống cây gậy đối với mọi sinh linh mạnh hay yếu. Hãy để ngài hưởng lễ vật cúng dường cao quý nhất của bà. Với tâm yên tĩnh, ngài đã rời khỏi đám đông; ngài đi như con voi đã thuần, không bị lay động. Ngài là vị Tỷ-kheo giới hạnh tốt đẹp, tâm đã khéo giải thoát. Hãy để ngài hưởng lễ vật cúng dường cao quý nhất của bà. Với lòng tin không lay động đối với ngài, hãy dâng lễ vật lên bậc xứng đáng nhận nó. Hãy làm phước đức vì sự an lạc trong tương lai. Nay bà đã thấy vị ẩn sĩ đã vượt qua dòng lũ, thưa bà! Với lòng tin không lay động đối với ngài, bà đã dâng lễ vật lên bậc xứng đáng nhận nó. Bà đã làm phước đức vì sự an lạc trong tương lai, sau khi thấy vị ẩn sĩ đã vượt qua dòng lũ, thưa bà.