Kinh Chuyển Pháp Luân
Bài giảng đầu tiên của Đức Phật, nói với nhóm năm vị Tỷ-kheo ở Vườn Nai. Đức Phật dạy tránh hai cực đoan — chạy theo vui thú giác quan và ép xác khổ hạnh — và chỉ con đường ở giữa là Bát Chánh Đạo. Rồi Ngài nói bốn sự thật cao quý: khổ là gì, khổ từ đâu sinh (khát ái), khổ có thể chấm dứt, và con đường đưa đến sự chấm dứt ấy. Nghe xong, Tôn giả Kiều-trần-như mở được con mắt Pháp: mọi thứ có sinh ra đều phải chấm dứt.
Điểm thực hànhKhi gặp một cơn khổ, thay vì chỉ than trách, hãy tự hỏi theo bốn bước của bài kinh: khổ này là gì? nó sinh từ đâu? nó có thể dứt không? con đường nào đưa đến chỗ dứt?
Phẩm Chuyển Pháp Luân Kinh Chuyển Pháp Luân Tôi nghe kể lại như vầy: Một lần, Đức Phật ở gần thành Ba-la-nại, tại Isipatana, trong Vườn Nai. Ở đó, Đức Phật gọi nhóm năm vị Tỷ-kheo và nói: — Này các Tỷ-kheo, có hai cực đoan mà người đã xuất gia không nên đi theo. Hai cực đoan nào? Một là chạy theo vui thú của giác quan — thấp hèn, tầm thường, là lối của người đời, không cao quý, chẳng ích lợi gì. Hai là ép xác khổ hạnh — đau đớn, không cao quý, chẳng ích lợi gì. Tránh cả hai cực đoan ấy, chính Ta đã giác ngộ con đường ở giữa — con đường làm sinh khởi cái thấy, cái biết, đưa đến bình an, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ và Niết-bàn. Con đường ở giữa mà Ta đã giác ngộ — con đường làm sinh khởi cái thấy, cái biết, đưa đến bình an, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ và Niết-bàn — đó là con đường nào?
Đó chính là Bát Chánh Đạo, tức là: cái thấy đúng, suy nghĩ đúng, lời nói đúng, việc làm đúng, cách sống đúng, cố gắng đúng, sự nhớ đúng, sự định tâm đúng. Đó là con đường ở giữa mà Ta đã giác ngộ, làm sinh khởi cái thấy, cái biết, đưa đến bình an, hiểu biết trực tiếp, giác ngộ và Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, đây là sự thật cao quý về khổ: Sinh ra là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ; gặp điều không ưa là khổ, xa lìa điều thương mến là khổ, muốn mà không được cũng là khổ. Nói gọn lại: năm uẩn bị bám chấp là khổ. Đây là sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ: Đó là khát ái — thứ đưa đến những đời sống tiếp theo, đi cùng với thích thú và tham lam, chỗ này chỗ kia tìm vui. Tức là:
khát ái về vui thú giác quan, khát ái về sự tồn tại, khát ái về sự không tồn tại. Đây là sự thật cao quý về sự chấm dứt của khổ: Đó là sự phai tàn và chấm dứt hoàn toàn, không còn sót lại, của chính khát ái ấy: buông bỏ nó, rời xa nó, thoát khỏi nó, không còn bám vào nó. Đây là sự thật cao quý về con đường đưa đến sự chấm dứt của khổ: Đó chính là Bát Chánh Đạo, tức là: cái thấy đúng, suy nghĩ đúng, lời nói đúng, việc làm đúng, cách sống đúng, cố gắng đúng, sự nhớ đúng, sự định tâm đúng. 'Đây là sự thật cao quý về khổ' — về những điều trước nay Ta chưa từng nghe ai dạy, nơi Ta đã sinh khởi cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự hiểu biết thật và ánh sáng.
'Sự thật cao quý về khổ này cần được hiểu cho trọn vẹn' — về những điều trước nay Ta chưa từng nghe ai dạy, nơi Ta đã sinh khởi cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự hiểu biết thật và ánh sáng. 'Sự thật cao quý về khổ này đã được hiểu trọn vẹn' — về những điều trước nay Ta chưa từng nghe ai dạy, nơi Ta đã sinh khởi cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự hiểu biết thật và ánh sáng. 'Đây là sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ' — về những điều trước nay Ta chưa từng nghe ai dạy, nơi Ta đã sinh khởi cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự hiểu biết thật và ánh sáng. 'Sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ này cần được buông bỏ' — về những điều trước nay Ta chưa từng nghe ai dạy, nơi Ta đã sinh khởi cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự hiểu biết thật và ánh sáng.
'Sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ này đã được buông bỏ' — về những điều trước nay Ta chưa từng nghe ai dạy, nơi Ta đã sinh khởi cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự hiểu biết thật và ánh sáng. 'Đây là sự thật cao quý về sự chấm dứt của khổ' — về những điều trước nay Ta chưa từng nghe ai dạy, nơi Ta đã sinh khởi cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự hiểu biết thật và ánh sáng. 'Sự thật cao quý về sự chấm dứt của khổ này cần được tự mình chứng nghiệm' — về những điều trước nay Ta chưa từng nghe ai dạy, nơi Ta đã sinh khởi cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự hiểu biết thật và ánh sáng. 'Sự thật cao quý về sự chấm dứt của khổ này đã được chứng nghiệm' — về những điều trước nay Ta chưa từng nghe ai dạy, nơi Ta đã sinh khởi cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự hiểu biết thật và ánh sáng.
'Đây là sự thật cao quý về con đường đưa đến sự chấm dứt của khổ' — về những điều trước nay Ta chưa từng nghe ai dạy, nơi Ta đã sinh khởi cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự hiểu biết thật và ánh sáng. 'Sự thật cao quý về con đường đưa đến sự chấm dứt của khổ này cần được tu tập' — về những điều trước nay Ta chưa từng nghe ai dạy, nơi Ta đã sinh khởi cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự hiểu biết thật và ánh sáng. 'Sự thật cao quý về con đường đưa đến sự chấm dứt của khổ này đã được tu tập' — về những điều trước nay Ta chưa từng nghe ai dạy, nơi Ta đã sinh khởi cái thấy, cái biết, trí tuệ, sự hiểu biết thật và ánh sáng. Chừng nào cái thấy biết như thật của Ta về bốn sự thật cao quý này — qua ba vòng và mười hai phương diện — chưa thật trong sạch, chừng đó Ta chưa tuyên bố rằng, trong thế giới này gồm cả chư thiên, Ma vương và Phạm thiên, giữa loài người gồm cả Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người, Ta đã giác ngộ trọn vẹn, không ai hơn.
Nhưng khi cái thấy biết như thật của Ta về bốn sự thật cao quý này — qua ba vòng và mười hai phương diện — đã thật trong sạch, lúc đó Ta mới tuyên bố rằng, trong thế giới này gồm cả chư thiên, Ma vương và Phạm thiên, giữa loài người gồm cả Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người, Ta đã giác ngộ trọn vẹn, không ai hơn. Rồi cái thấy biết này sinh khởi nơi Ta: 'Sự giải thoát của tâm Ta không gì lay chuyển được. Đây là đời sống cuối cùng của Ta. Từ nay không còn tái sinh nữa.' Đức Phật nói như vậy. Nhóm năm vị Tỷ-kheo vui mừng, hoan hỷ với lời Đức Phật dạy. Trong lúc bài giảng này đang được nói, nơi Tôn giả Koṇḍañña (Kiều-trần-như) sinh khởi con mắt Pháp trong sạch, không còn bụi bẩn:
'Tất cả những gì có sinh khởi, tất cả đều phải chấm dứt.' Khi Đức Phật vừa chuyển bánh xe Pháp, chư thiên ở cõi đất reo lên: 'Tại Ba-la-nại, trong Vườn Nai ở Isipatana, Đức Phật đã chuyển bánh xe Pháp cao quý nhất. Bánh xe ấy không một Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ ai trên đời có thể chuyển ngược lại được.' Nghe tiếng reo của chư thiên cõi đất, chư thiên Tứ Đại Thiên Vương cũng reo lên: 'Tại Ba-la-nại, trong Vườn Nai ở Isipatana, Đức Phật đã chuyển bánh xe Pháp cao quý nhất. Bánh xe ấy không một Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ ai trên đời có thể chuyển ngược lại được.' Nghe tiếng của chư thiên Tứ Đại Thiên Vương, chư thiên cõi Ba Mươi Ba cũng reo lên như vậy.
Chư thiên cõi Dạ-ma cũng reo lên như vậy. Chư thiên cõi Đâu-suất cũng reo lên như vậy. Chư thiên cõi Hóa Lạc cũng reo lên như vậy. Chư thiên cõi Tha Hóa Tự Tại cũng reo lên như vậy. Chư thiên ở cõi Phạm thiên cũng reo lên: 'Tại Ba-la-nại, trong Vườn Nai ở Isipatana, Đức Phật đã chuyển bánh xe Pháp cao quý nhất. Bánh xe ấy không một Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ ai trên đời có thể chuyển ngược lại được.' Như vậy, ngay trong giây phút ấy, tiếng reo vang lên đến tận cõi Phạm thiên. Và mười ngàn thế giới rung chuyển, chấn động mạnh. Một ánh sáng lớn lao, không lường được, xuất hiện trên đời, vượt cả uy lực của chư thiên.
Rồi Đức Phật thốt lên lời cảm hứng: 'Koṇḍañña thật sự đã hiểu! Koṇḍañña thật sự đã hiểu!' Từ đó Tôn giả Koṇḍañña được gọi là A-nhã Koṇḍañña — 'Koṇḍañña, người đã hiểu'. Kinh Chuyển Pháp Luân (hết).