Kinh Asibandhakaputta — Cầu Khẩn Không Đổi Được Nghiệp
Ông thôn trưởng Asibandhakaputta hỏi Đức Phật có thể làm cho cả thế gian đều sinh lên cõi trời như các vị Bà-la-môn phương Tây làm lễ đưa người chết lên trời hay không. Đức Phật dùng hai ví dụ tảng đá chìm và bơ dầu nổi để chỉ rõ: không một lễ cầu khẩn nào đổi được hướng đi của nghiệp — người làm ác chìm xuống cõi dữ, người làm lành nổi lên cõi lành.
Điểm thực hànhMuốn đổi nơi đến sau khi chết, phải đổi cách sống ngay khi còn sống: không lễ cầu siêu, không lời khấn của đám đông nào thay thế được mười nẻo hành động của chính mình.
Phẩm Các Thôn Trưởng Kinh Asibandhakaputta Tôi nghe kể lại như vầy: Một thuở, Đức Phật ở tại thành Nālandā, trong vườn xoài của ông Pāvārika. Khi ấy, ông thôn trưởng Asibandhakaputta đến chỗ Đức Phật. Đến nơi, ông đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, ông Asibandhakaputta thưa với Đức Phật: “Thưa Ngài, có những vị Bà-la-môn ở đất phương Tây: họ mang theo bình nước, đeo vòng hoa sen nước, tắm mình trong nước để được sạch, và thờ lửa. “Khi có người chết, qua đời, họ nhấc người ấy lên, đưa tiễn và đưa người ấy vào cõi trời. “Còn Đức Phật là bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác — Ngài có thể làm cho toàn thể thế gian này, sau khi thân hoại, chết đi, đều sinh lên cõi lành, cõi trời được chăng, thưa Ngài?”
Đức Phật nói: “Vậy thì, này thôn trưởng, Ta sẽ hỏi ngược lại ông về việc này. Ông thấy sao thì cứ trả lời như vậy.” “Ông nghĩ thế nào, này thôn trưởng: “Giả sử ở đây có một người sát sinh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô ác, nói lời vô ích, tham lam, đầy sân hận và mang cái nhìn sai lệch. “Rồi một đám đông lớn tụ họp lại bên người ấy, chắp tay đi vòng quanh, cầu khẩn và ca tụng rằng: “‘Mong người này, sau khi thân hoại, chết đi, được sinh lên cõi lành, cõi trời!’ “Ông nghĩ thế nào, này thôn trưởng: “Người ấy có nhờ đám đông cầu khẩn, ca tụng, chắp tay đi vòng quanh như vậy mà sau khi thân hoại, chết đi, được sinh lên cõi lành, cõi trời không?”
Ông thôn trưởng đáp: “Không thể được, thưa Ngài.” Đức Phật nói: “Này thôn trưởng, ví như có người ném một tảng đá lớn xuống một hồ nước sâu. “Rồi một đám đông lớn tụ họp lại, chắp tay đi vòng quanh tảng đá, cầu khẩn và ca tụng rằng: “‘Hãy trồi lên, tảng đá lớn ơi! Hãy nổi lên, tảng đá lớn ơi! Hãy trôi vào bờ, tảng đá lớn ơi!’ “Ông nghĩ thế nào, này thôn trưởng: “Tảng đá lớn ấy có nhờ đám đông cầu khẩn, ca tụng, chắp tay đi vòng quanh như vậy mà trồi lên, nổi lên hay trôi vào bờ được không?” Ông thôn trưởng đáp: “Không thể được, thưa Ngài.” “Cũng vậy, này thôn trưởng: một người sát sinh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô ác, nói lời vô ích, tham lam, đầy sân hận và mang cái nhìn sai lệch — “dù đám đông lớn có tụ họp lại, chắp tay đi vòng quanh người ấy, cầu khẩn và ca tụng rằng:
“‘Mong người này, sau khi thân hoại, chết đi, được sinh lên cõi lành, cõi trời!’ — thì người ấy, sau khi thân hoại, chết đi, vẫn phải sinh vào cõi dữ, đường dữ, chỗ đọa lạc, địa ngục.” “Ông nghĩ thế nào, này thôn trưởng: “Giả sử ở đây có một người tránh xa sát sinh, tránh xa lấy của không cho, tránh xa tà hạnh trong các dục, tránh xa nói dối, tránh xa lời chia rẽ, tránh xa lời thô ác, tránh xa lời vô ích, không tham lam, tâm không sân hận và có cái nhìn đúng đắn. “Rồi một đám đông lớn tụ họp lại bên người ấy, chắp tay đi vòng quanh, cầu khẩn và ca tụng rằng: “‘Mong người này, sau khi thân hoại, chết đi, bị sinh vào cõi dữ, đường dữ, chỗ đọa lạc, địa ngục!’ “Ông nghĩ thế nào, này thôn trưởng:
“Người ấy có nhờ đám đông cầu khẩn, ca tụng, chắp tay đi vòng quanh như vậy mà sau khi thân hoại, chết đi, bị sinh vào cõi dữ, đường dữ, chỗ đọa lạc, địa ngục không?” Ông thôn trưởng đáp: “Không thể được, thưa Ngài.” Đức Phật nói: “Này thôn trưởng, ví như có người nhận chìm một hũ bơ hay một hũ dầu xuống một hồ nước sâu rồi đập vỡ hũ ấy. Những mảnh sành, mảnh vỡ của hũ thì chìm xuống dưới; còn bơ hay dầu ở trong hũ thì nổi lên trên. “Rồi một đám đông lớn tụ họp lại, chắp tay đi vòng quanh, cầu khẩn và ca tụng rằng: “‘Hãy chìm xuống đi, bơ và dầu! Hãy lặn sâu xuống đi, bơ và dầu! Hãy đi xuống đáy đi, bơ và dầu!’ “Ông nghĩ thế nào, này thôn trưởng:
“Bơ và dầu ấy có nhờ đám đông cầu khẩn, ca tụng, chắp tay đi vòng quanh như vậy mà chìm xuống, lặn sâu xuống hay đi xuống đáy được không?” Ông thôn trưởng đáp: “Không thể được, thưa Ngài.” “Cũng vậy, này thôn trưởng: một người tránh xa sát sinh, tránh xa lấy của không cho, tránh xa tà hạnh trong các dục, tránh xa nói dối, tránh xa lời chia rẽ, tránh xa lời thô ác, tránh xa lời vô ích, không tham lam, tâm không sân hận và có cái nhìn đúng đắn — “dù đám đông lớn có tụ họp lại, chắp tay đi vòng quanh người ấy, cầu khẩn và ca tụng rằng: “‘Mong người này, sau khi thân hoại, chết đi, bị sinh vào cõi dữ, đường dữ, chỗ đọa lạc, địa ngục!’ — thì người ấy, sau khi thân hoại, chết đi, vẫn được sinh lên cõi lành, cõi trời.”
Nghe Đức Phật nói vậy, ông thôn trưởng Asibandhakaputta thưa với Đức Phật: “Thật tuyệt vời, thưa Ngài! Thật tuyệt vời! Như người dựng đứng lại cái đã bị lật úp, mở ra cái đã bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm đèn sáng vào chỗ tối để ai có mắt đều thấy được hình sắc. Cũng vậy, Đức Phật đã dùng nhiều cách để làm rõ Pháp. Con xin quy y Đức Phật, quy y Pháp và quy y Tăng đoàn các Tỷ-kheo.” “Xin Đức Phật nhận con là đệ tử tại gia, người đã quy y, từ nay cho đến cuối đời.” Bài thứ 6.