Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tương Ưng Bộ › Kinh Pháp Thối Đọa

Kinh Pháp Thối Đọa

Parihānadhammasutta · SN35.96 · 38 đoạn

Đức Phật chỉ ba mức tu tập qua sáu căn: khi các pháp ác, bất thiện khởi lên mà dung dưỡng, không từ bỏ, là thối đọa; khi khởi lên mà từ bỏ, xua tan, chấm dứt, là không thối đọa; khi chúng không còn khởi lên nữa, mỗi căn trở thành một thắng xứ — một lãnh vực đã được chinh phục.

Điểm thực hành

Mỗi tối hãy tự hỏi: hôm nay có ý nghĩ xấu nào khởi lên mà mình đã dung dưỡng thay vì buông bỏ không? Chỉ một câu hỏi ấy đủ để biết mình đang thối đọa hay không.

10. Phẩm Sáu Kinh Pháp Thối Đọa “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về người có pháp thối đọa (người dễ sa sút), người có pháp không thối đọa, và sáu thắng xứ (sáu xứ đã được chinh phục). Hãy lắng nghe. Thế nào là người có pháp thối đọa? Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, các pháp ác, bất thiện khởi lên — những hồi ức và suy nghĩ gắn liền với kiết sử (những trói buộc của tâm). Nếu vị Tỷ-kheo ấy dung dưỡng chúng, không từ bỏ, không xua tan, không chấm dứt, không làm cho chúng không còn sinh khởi, thì này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần hiểu rằng: ‘Ta đang làm thối thất các pháp thiện (những điều tốt lành trong tâm). Đức Phật gọi đó là sự thối đọa.’ Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo khi lưỡi nếm vị, các pháp ác, bất thiện khởi lên — những hồi ức và suy nghĩ gắn liền với kiết sử (những trói buộc của tâm).

Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo khi ý nhận biết các pháp, các pháp ác, bất thiện khởi lên — những hồi ức và suy nghĩ gắn liền với kiết sử (những trói buộc của tâm). Nếu vị Tỷ-kheo ấy dung dưỡng chúng, không từ bỏ, không xua tan, không chấm dứt, không làm cho chúng không còn sinh khởi, thì này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần hiểu rằng: ‘Ta đang làm thối thất các pháp thiện. Đức Phật gọi đó là sự thối đọa.’ Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người có pháp thối đọa. Thế nào là người có pháp không thối đọa? Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, các pháp ác, bất thiện khởi lên — những hồi ức và suy nghĩ gắn liền với kiết sử (những trói buộc của tâm).

Nếu vị Tỷ-kheo ấy không dung dưỡng chúng, mà từ bỏ, xua tan, chấm dứt, làm cho chúng không còn sinh khởi, thì này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần hiểu rằng: ‘Ta không làm thối thất các pháp thiện. Đức Phật gọi đó là sự không thối đọa.’ Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo khi lưỡi nếm vị, các pháp ác, bất thiện khởi lên — những hồi ức và suy nghĩ gắn liền với kiết sử (những trói buộc của tâm). Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo khi ý nhận biết các pháp, các pháp ác, bất thiện khởi lên — những hồi ức và suy nghĩ gắn liền với kiết sử (những trói buộc của tâm). Nếu vị Tỷ-kheo ấy không dung dưỡng chúng, mà từ bỏ, xua tan, chấm dứt, làm cho chúng không còn sinh khởi, thì này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần hiểu rằng:

‘Ta không làm thối thất các pháp thiện. Đức Phật gọi đó là sự không thối đọa.’ Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người có pháp không thối đọa. Và sáu thắng xứ là gì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, các pháp ác, bất thiện không khởi lên — những hồi ức và suy nghĩ gắn liền với kiết sử. Vị Tỷ-kheo ấy cần hiểu rằng: ‘Xứ này đã được chinh phục. Đức Phật gọi đó là thắng xứ.’ Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo khi ý nhận biết các pháp, các pháp ác, bất thiện không khởi lên — những hồi ức và suy nghĩ gắn liền với kiết sử. Vị Tỷ-kheo ấy cần hiểu rằng: ‘Xứ này đã được chinh phục. Đức Phật gọi đó là thắng xứ.’ Này các Tỷ-kheo, đó gọi là sáu thắng xứ.”

Bài thứ 3.