Giảng về sự thiết lập niệm
Bài này triển khai bốn Niệm Xứ — thân, thọ, tâm, pháp — theo một khuôn quán sát thống nhất: mỗi đối tượng được quán theo bảy phương diện (vô thường, khổ, vô ngã, nhàm chán, ly tham, làm diệt, buông xả), và mỗi phương diện dứt bỏ một tưởng sai tương ứng, từ tưởng thường còn đến sự nắm giữ. Bài cũng làm rõ: đối tượng quán là “nền tảng thiết lập” chứ không phải niệm; chính niệm vừa là nền tảng vừa là niệm, và hành giả quán đối tượng bằng niệm ấy cùng với trí.
Điểm thực hànhChọn một đối tượng đang có mặt — ví dụ một cảm thọ khó chịu — và đi đủ bảy bước: thấy nó vô thường, là khổ, không phải của ta, sinh nhàm chán với nó, để tham phai đi, thấy nó diệt, rồi buông. Đi hết bảy bước là một vòng thiết lập niệm trọn vẹn, hơn hẳn chỉ “biết” suông.
Phân Tích Đạo Quyển 3 — Phẩm Tuệ 3.8. Giảng về sự thiết lập niệm Duyên khởi tại Sāvatthī (thành Xá-vệ). “Này các Tỷ-kheo, có bốn sự thiết lập niệm này. Bốn sự ấy là gì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân, nhiệt tâm, rõ biết, có niệm, sau khi đã chế ngự tham và ưu phiền ở đời. Sống quán thọ trong các thọ, nhiệt tâm, rõ biết, có niệm, sau khi đã chế ngự tham và ưu phiền ở đời. Sống quán tâm trong tâm, nhiệt tâm, rõ biết, có niệm, sau khi đã chế ngự tham và ưu phiền ở đời. Sống quán pháp trong các pháp, nhiệt tâm, rõ biết, có niệm, sau khi đã chế ngự tham và ưu phiền ở đời. Này các Tỷ-kheo, đó là bốn sự thiết lập niệm.” Sống quán thân trong thân là thế nào?
Ở đây, có vị quán thân phần đất là vô thường, không phải thường còn; quán là khổ, không phải lạc; quán là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Khi quán là vô thường thì dứt bỏ tưởng thường còn; khi quán là khổ thì dứt bỏ tưởng lạc; khi quán là vô ngã thì dứt bỏ tưởng ngã; khi nhàm chán thì dứt bỏ sự thích thú; khi ly tham thì dứt bỏ tham; khi làm diệt thì dứt bỏ sự sinh khởi; khi buông xả thì dứt bỏ sự nắm giữ. Bằng bảy phương diện này, vị ấy quán thân. Thân là nền tảng thiết lập, không phải là niệm. Niệm vừa là nền tảng thiết lập, vừa là niệm. Bằng niệm ấy, bằng trí ấy, vị ấy quán thân ấy.
Vì vậy nói rằng — “quán thân trong thân là sự thiết lập niệm về thân”. “Tu tập”: có bốn loại tu tập — tu tập theo ý nghĩa các pháp sinh tại đó không vượt quá nhau; tu tập theo ý nghĩa các quyền có cùng một vị; tu tập theo ý nghĩa mang chở tinh tấn thích hợp với điều ấy; tu tập theo ý nghĩa thực hành lặp đi lặp lại. Có vị quán thân phần nước là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán thân phần lửa là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ.
Có vị quán thân phần gió là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán tóc trên đầu là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán lông trên thân là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ.
Có vị quán da ngoài là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán da là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán thịt là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán máu là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ.
Có vị quán gân là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán xương là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán tủy xương là vô thường, không phải thường còn; quán là khổ, không phải lạc; quán là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ.
Khi quán là vô thường thì dứt bỏ tưởng thường còn; khi quán là khổ thì dứt bỏ tưởng lạc; khi quán là vô ngã thì dứt bỏ tưởng ngã; khi nhàm chán thì dứt bỏ sự thích thú; khi ly tham thì dứt bỏ tham; khi làm diệt thì dứt bỏ sự sinh khởi; khi buông xả thì dứt bỏ sự nắm giữ. Bằng bảy phương diện này, vị ấy quán thân. Thân là nền tảng thiết lập, không phải là niệm. Niệm vừa là nền tảng thiết lập, vừa là niệm. Bằng niệm ấy, bằng trí ấy, vị ấy quán thân ấy. Vì vậy nói rằng — “quán thân trong thân là sự thiết lập niệm về thân”. “Tu tập”: có bốn loại tu tập — tu tập theo ý nghĩa các pháp sinh tại đó không vượt quá nhau; tu tập theo ý nghĩa các quyền có cùng một vị; tu tập theo ý nghĩa mang chở tinh tấn thích hợp với điều ấy; tu tập theo ý nghĩa thực hành lặp đi lặp lại.
Như vậy, vị ấy sống quán thân trong thân. Sống quán thọ trong các thọ là thế nào? Có vị quán lạc thọ là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Khi quán là vô thường thì dứt bỏ tưởng thường còn; khi quán là khổ thì dứt bỏ tưởng lạc; khi quán là vô ngã thì dứt bỏ tưởng ngã; khi nhàm chán thì dứt bỏ sự thích thú; khi ly tham thì dứt bỏ tham; khi làm diệt thì dứt bỏ sự sinh khởi; khi buông xả thì dứt bỏ sự nắm giữ. Bằng bảy phương diện này, vị ấy quán thọ. Thọ là nền tảng thiết lập, không phải là niệm.
Niệm vừa là nền tảng thiết lập, vừa là niệm. Bằng niệm ấy, bằng trí ấy, vị ấy quán thọ ấy. Vì vậy nói rằng — “quán thọ trong các thọ là sự thiết lập niệm về thọ”. “Tu tập”: có bốn loại tu tập — tu tập theo ý nghĩa các pháp sinh tại đó không vượt quá nhau; tu tập theo ý nghĩa các quyền có cùng một vị; tu tập theo ý nghĩa mang chở tinh tấn thích hợp với điều ấy; tu tập theo ý nghĩa thực hành lặp đi lặp lại. Tu tập theo ý nghĩa thực hành lặp đi lặp lại. Có vị quán khổ thọ là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ.
Có vị quán thọ không khổ không lạc là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán lạc thọ có chất liệu (thuộc dục) là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán lạc thọ không chất liệu là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ.
Có vị quán khổ thọ có chất liệu là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán khổ thọ không chất liệu là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán thọ không khổ không lạc có chất liệu là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ.
Có vị quán thọ không khổ không lạc không chất liệu là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán thọ sinh từ xúc của mắt là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán thọ sinh từ xúc của tai là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ.
Có vị quán thọ sinh từ xúc của mũi là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán thọ sinh từ xúc của lưỡi là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán thọ sinh từ xúc của thân là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ.
Có vị quán thọ sinh từ xúc của ý là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Khi quán là vô thường thì dứt bỏ tưởng thường còn; khi quán là khổ thì dứt bỏ tưởng lạc; khi quán là vô ngã thì dứt bỏ tưởng ngã; khi nhàm chán thì dứt bỏ sự thích thú; khi ly tham thì dứt bỏ tham; khi làm diệt thì dứt bỏ sự sinh khởi; khi buông xả thì dứt bỏ sự nắm giữ. Bằng bảy phương diện này, vị ấy quán thọ. Thọ là nền tảng thiết lập, không phải là niệm. Niệm vừa là nền tảng thiết lập, vừa là niệm. Bằng niệm ấy, bằng trí ấy, vị ấy quán thọ ấy.
Vì vậy nói rằng — “quán thọ trong các thọ là sự thiết lập niệm về thọ”. “Tu tập”: có bốn loại tu tập — tu tập theo ý nghĩa các pháp sinh tại đó không vượt quá nhau; tu tập theo ý nghĩa các quyền có cùng một vị; tu tập theo ý nghĩa mang chở tinh tấn thích hợp với điều ấy; tu tập theo ý nghĩa thực hành lặp đi lặp lại. Như vậy, vị ấy sống quán thọ trong các thọ. Sống quán tâm trong tâm là thế nào? Có vị quán tâm có tham là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Khi quán là vô thường thì dứt bỏ tưởng thường còn; khi quán là khổ thì dứt bỏ tưởng lạc; khi quán là vô ngã thì dứt bỏ tưởng ngã; khi nhàm chán thì dứt bỏ sự thích thú; khi ly tham thì dứt bỏ tham; khi làm diệt thì dứt bỏ sự sinh khởi; khi buông xả thì dứt bỏ sự nắm giữ.
Bằng bảy phương diện này, vị ấy quán tâm. Tâm là nền tảng thiết lập, không phải là niệm. Niệm vừa là nền tảng thiết lập, vừa là niệm. Bằng niệm ấy, bằng trí ấy, vị ấy quán tâm ấy. Vì vậy nói rằng — “quán tâm trong tâm là sự thiết lập niệm về tâm”. “Tu tập”: có bốn loại tu tập — tu tập theo ý nghĩa các pháp sinh tại đó không vượt quá nhau; tu tập theo ý nghĩa các quyền có cùng một vị; tu tập theo ý nghĩa mang chở tinh tấn thích hợp với điều ấy; tu tập theo ý nghĩa thực hành lặp đi lặp lại. Tu tập theo ý nghĩa thực hành lặp đi lặp lại. Có vị quán tâm không tham là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ.
Có vị quán tâm có sân là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán tâm không sân là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán tâm có si là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ.
Có vị quán tâm không si là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán tâm co rút là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán tâm tán loạn là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ.
Có vị quán tâm quảng đại là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán tâm không quảng đại là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán tâm còn mức cao hơn là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ.
Có vị quán tâm không còn mức cao hơn (vô thượng) là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán tâm định tĩnh là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán tâm không định tĩnh là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ.
Có vị quán tâm được giải thoát là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán tâm chưa giải thoát là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán nhãn thức là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ.
Có vị quán nhĩ thức là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán tỷ thức là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán thiệt thức là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ.
Có vị quán thân thức là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Có vị quán ý thức là vô thường, không phải thường còn; là khổ, không phải lạc; là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ. Khi quán là vô thường thì dứt bỏ tưởng thường còn; khi quán là khổ thì dứt bỏ tưởng lạc; khi quán là vô ngã thì dứt bỏ tưởng ngã; khi nhàm chán thì dứt bỏ sự thích thú; khi ly tham thì dứt bỏ tham; khi làm diệt thì dứt bỏ sự sinh khởi; khi buông xả thì dứt bỏ sự nắm giữ.
Bằng bảy phương diện này, vị ấy quán tâm. Tâm là nền tảng thiết lập, không phải là niệm. Niệm vừa là nền tảng thiết lập, vừa là niệm. Bằng niệm ấy, bằng trí ấy, vị ấy quán tâm ấy. Vì vậy nói rằng — “quán tâm trong tâm là sự thiết lập niệm về tâm”. “Tu tập”: có bốn loại tu tập — tu tập theo ý nghĩa các pháp sinh tại đó không vượt quá nhau; tu tập theo ý nghĩa các quyền có cùng một vị; tu tập theo ý nghĩa mang chở tinh tấn thích hợp với điều ấy; tu tập theo ý nghĩa thực hành lặp đi lặp lại. Tu tập theo ý nghĩa thực hành lặp đi lặp lại. Như vậy, vị ấy sống quán tâm trong tâm. Sống quán pháp trong các pháp là thế nào? Ở đây, có vị — ngoài thân ra, ngoài thọ ra, ngoài tâm ra — quán các pháp còn lại là vô thường, không phải thường còn; quán là khổ, không phải lạc; quán là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không thích thú; ly tham, không tham nhiễm; làm diệt, không làm sinh khởi; buông xả, không nắm giữ.
Khi quán là vô thường thì dứt bỏ tưởng thường còn; khi quán là khổ thì dứt bỏ tưởng lạc; khi quán là vô ngã thì dứt bỏ tưởng ngã; khi nhàm chán thì dứt bỏ sự thích thú; khi ly tham thì dứt bỏ tham; khi làm diệt thì dứt bỏ sự sinh khởi; khi buông xả thì dứt bỏ sự nắm giữ. Bằng bảy phương diện này, vị ấy quán các pháp ấy. Các pháp là nền tảng thiết lập, không phải là niệm. Niệm vừa là nền tảng thiết lập, vừa là niệm. Bằng niệm ấy, bằng trí ấy, vị ấy quán các pháp ấy ấy. Vì vậy nói rằng — “quán pháp trong các pháp là sự thiết lập niệm về pháp”. “Tu tập”: có bốn loại tu tập — tu tập theo ý nghĩa các pháp sinh tại đó không vượt quá nhau; tu tập theo ý nghĩa các quyền có cùng một vị; tu tập theo ý nghĩa mang chở tinh tấn thích hợp với điều ấy; tu tập theo ý nghĩa thực hành lặp đi lặp lại.
Như vậy, vị ấy sống quán pháp trong các pháp. Hết phần giảng về sự thiết lập niệm.