Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Tiểu Bộ › Giảng về sự lãnh hội

Giảng về sự lãnh hội

3.3. Abhisamayakathā · PS3.3 · 89 đoạn

Bài này hỏi đáp theo lối biện chứng về “sự lãnh hội” (abhisamaya — sự thấu hiểu thấu suốt chân lý). Phần đầu gạn lọc: lãnh hội không phải bằng tâm thế gian, cũng không phải không có tâm, mà bằng tâm hiện tại cùng với trí ngay trong sát-na Đạo siêu thế; rồi bài triển khai sự lãnh hội ấy qua tám chi phần Đạo, bảy giác chi, năm lực, năm quyền và các nhóm pháp khác, lặp lại cho từng sát-na Đạo và quả. Phần cuối giải quyết nghịch lý tu tập: Đạo không dứt bỏ phiền não quá khứ, vị lai hay hiện tại, mà chặt đứt nhân sinh khởi của chúng — như chặt gốc cây chưa ra trái thì trái chưa sinh sẽ không bao giờ sinh.

Điểm thực hành

Khi một phiền não quen thuộc chưa kịp khởi mà bạn đã thấy “nhân” của nó đang có mặt — một cảnh, một lời nói, một thói quen — hãy chuyển tâm về hướng không nuôi dưỡng nhân ấy, thay vì đợi phiền não khởi lên rồi mới chống lại nó.

Phân Tích Đạo Quyển 3 — Phẩm Tuệ 3.3. Giảng về sự lãnh hội “Sự lãnh hội” (abhisamaya) — Lãnh hội nhờ vào đâu? Lãnh hội nhờ vào tâm. Nếu lãnh hội nhờ vào tâm, vậy người không có trí cũng lãnh hội được chăng? Người không có trí không lãnh hội được. Lãnh hội là nhờ vào trí. Nếu lãnh hội nhờ vào trí, vậy người không có tâm cũng lãnh hội được chăng? Người không có tâm không lãnh hội được. Lãnh hội là nhờ vào cả tâm và trí. Nếu lãnh hội nhờ vào cả tâm và trí, vậy đó là tâm thuộc dục giới cùng với trí chăng? Không phải lãnh hội nhờ vào tâm thuộc dục giới cùng với trí. Vậy đó là tâm thuộc sắc giới cùng với trí chăng? Không phải lãnh hội nhờ vào tâm thuộc sắc giới cùng với trí.

Vậy đó là tâm thuộc vô sắc giới cùng với trí chăng? Không phải lãnh hội nhờ vào tâm thuộc vô sắc giới cùng với trí. Vậy đó là tâm biết nghiệp là của mình (tâm vận hành theo nghiệp) cùng với trí chăng? Không phải lãnh hội nhờ vào tâm biết nghiệp là của mình cùng với trí. Vậy đó là tâm thuận theo chân lý cùng với trí chăng? Không phải lãnh hội nhờ vào tâm thuận theo chân lý cùng với trí. Vậy đó là tâm quá khứ cùng với trí chăng? Không phải lãnh hội nhờ vào tâm quá khứ cùng với trí. Vậy đó là tâm vị lai cùng với trí chăng? Không phải lãnh hội nhờ vào tâm vị lai cùng với trí. Vậy đó là tâm thế gian hiện tại cùng với trí chăng? Không phải lãnh hội nhờ vào tâm thế gian hiện tại cùng với trí.

Chính trong sát-na Đạo siêu thế, người ta lãnh hội nhờ vào tâm hiện tại và nhờ vào trí. Trong sát-na Đạo siêu thế, lãnh hội nhờ vào tâm hiện tại và nhờ vào trí là như thế nào? Trong sát-na Đạo siêu thế: tâm, với tính chủ đạo ở mặt khởi sinh, là nhân và là duyên cho trí tương ưng với nó; trí, có đối tượng là sự diệt, với tính chủ đạo ở mặt thấy rõ, là nhân và là duyên cho tâm tương ưng với nó; và trí ấy có đối tượng là sự diệt. Như vậy, trong sát-na Đạo siêu thế, người ta lãnh hội nhờ vào tâm hiện tại và nhờ vào trí. Sự lãnh hội chỉ có bấy nhiêu thôi sao? Không phải. Trong sát-na Đạo siêu thế: sự lãnh hội về mặt thấy rõ là chánh kiến; sự lãnh hội về mặt gắn tâm vào đối tượng là chánh tư duy; sự lãnh hội về mặt gìn giữ là chánh ngữ; sự lãnh hội về mặt khởi sinh là chánh nghiệp; sự lãnh hội về mặt trong sạch là chánh mạng; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là chánh tinh tấn; sự lãnh hội về mặt thiết lập là chánh niệm; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là chánh định.

sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm giác chi; sự lãnh hội về mặt suy xét là trạch pháp giác chi; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn giác chi; sự lãnh hội về mặt lan tỏa khắp là hỷ giác chi; sự lãnh hội về mặt an tịnh là khinh an giác chi; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định giác chi; sự lãnh hội về mặt quán xét rõ ràng là xả giác chi. sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự thiếu lòng tin là tín lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự biếng nhác là tinh tấn lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự buông lung là niệm lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự phóng dật là định lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước vô minh là tuệ lực.

sự lãnh hội về mặt quyết định chắc chắn là tín quyền; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn quyền; sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm quyền; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định quyền; sự lãnh hội về mặt thấy rõ là tuệ quyền. về các quyền theo ý nghĩa làm chủ là sự lãnh hội; về các lực theo ý nghĩa không lay chuyển là sự lãnh hội; về các giác chi theo ý nghĩa dẫn ra khỏi (luân hồi) là sự lãnh hội; về Đạo theo ý nghĩa là nhân là sự lãnh hội; về các Niệm Xứ theo ý nghĩa thiết lập là sự lãnh hội; về các chánh cần theo ý nghĩa nỗ lực là sự lãnh hội; về các như ý túc theo ý nghĩa thành tựu là sự lãnh hội; về các chân lý theo ý nghĩa đúng thật là sự lãnh hội; về chỉ tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về minh sát theo ý nghĩa quán sát là sự lãnh hội; về chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa một vị là sự lãnh hội; về sự kết hợp chung theo ý nghĩa không vượt quá nhau là sự lãnh hội; về giới thanh tịnh theo ý nghĩa gìn giữ là sự lãnh hội; về tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy rõ là sự lãnh hội; về giải thoát theo ý nghĩa được thả ra là sự lãnh hội; về minh theo ý nghĩa thấu suốt là sự lãnh hội; về sự buông xả theo ý nghĩa từ bỏ hẳn là sự lãnh hội; trí biết sự đoạn tận, theo ý nghĩa cắt đứt trọn vẹn, là sự lãnh hội.

Dục (ước muốn làm) là sự lãnh hội theo ý nghĩa gốc rễ; tác ý là sự lãnh hội theo ý nghĩa khởi sinh; xúc là sự lãnh hội theo ý nghĩa kết hợp; thọ là sự lãnh hội theo ý nghĩa hội tụ; định là sự lãnh hội theo ý nghĩa dẫn đầu; niệm là sự lãnh hội theo ý nghĩa làm chủ; tuệ là sự lãnh hội theo ý nghĩa cao hơn cả; giải thoát là sự lãnh hội theo ý nghĩa cốt lõi; Niết-bàn, nơi thấm nhập vào bất tử, là sự lãnh hội theo ý nghĩa kết thúc. Sự lãnh hội chỉ có bấy nhiêu thôi sao? Không phải. Ở sát-na Đạo Dự lưu: sự lãnh hội về mặt thấy rõ là chánh kiến; sự lãnh hội về mặt gắn tâm vào đối tượng là chánh tư duy; sự lãnh hội về mặt gìn giữ là chánh ngữ; sự lãnh hội về mặt khởi sinh là chánh nghiệp; sự lãnh hội về mặt trong sạch là chánh mạng; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là chánh tinh tấn; sự lãnh hội về mặt thiết lập là chánh niệm; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là chánh định; sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm giác chi; sự lãnh hội về mặt suy xét là trạch pháp giác chi; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn giác chi; sự lãnh hội về mặt lan tỏa khắp là hỷ giác chi; sự lãnh hội về mặt an tịnh là khinh an giác chi; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định giác chi; sự lãnh hội về mặt quán xét rõ ràng là xả giác chi; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự thiếu lòng tin là tín lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự biếng nhác là tinh tấn lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự buông lung là niệm lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự phóng dật là định lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước vô minh là tuệ lực; sự lãnh hội về mặt quyết định chắc chắn là tín quyền; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn quyền; sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm quyền; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định quyền; sự lãnh hội về mặt thấy rõ là tuệ quyền; về các quyền theo ý nghĩa làm chủ là sự lãnh hội; về các lực theo ý nghĩa không lay chuyển là sự lãnh hội; về các giác chi theo ý nghĩa dẫn ra khỏi (luân hồi) là sự lãnh hội; về Đạo theo ý nghĩa là nhân là sự lãnh hội; về các Niệm Xứ theo ý nghĩa thiết lập là sự lãnh hội; về các chánh cần theo ý nghĩa nỗ lực là sự lãnh hội; về các như ý túc theo ý nghĩa thành tựu là sự lãnh hội; về các chân lý theo ý nghĩa đúng thật là sự lãnh hội; về chỉ tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về minh sát theo ý nghĩa quán sát là sự lãnh hội; về chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa một vị là sự lãnh hội; về sự kết hợp chung theo ý nghĩa không vượt quá nhau là sự lãnh hội; về giới thanh tịnh theo ý nghĩa gìn giữ là sự lãnh hội; về tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy rõ là sự lãnh hội; về giải thoát theo ý nghĩa được thả ra là sự lãnh hội; về minh theo ý nghĩa thấu suốt là sự lãnh hội; về sự buông xả theo ý nghĩa từ bỏ hẳn là sự lãnh hội; trí biết sự đoạn tận, theo ý nghĩa cắt đứt trọn vẹn, là sự lãnh hội; Dục (ước muốn làm) là sự lãnh hội theo ý nghĩa gốc rễ; tác ý là sự lãnh hội theo ý nghĩa khởi sinh; xúc là sự lãnh hội theo ý nghĩa kết hợp; thọ là sự lãnh hội theo ý nghĩa hội tụ; định là sự lãnh hội theo ý nghĩa dẫn đầu; niệm là sự lãnh hội theo ý nghĩa làm chủ; tuệ là sự lãnh hội theo ý nghĩa cao hơn cả; giải thoát là sự lãnh hội theo ý nghĩa cốt lõi.

Niết-bàn, nơi thấm nhập vào bất tử, là sự lãnh hội theo ý nghĩa kết thúc. Sự lãnh hội chỉ có bấy nhiêu thôi sao? Không phải. Ở sát-na quả Dự lưu: sự lãnh hội về mặt thấy rõ là chánh kiến; sự lãnh hội về mặt gắn tâm vào đối tượng là chánh tư duy; sự lãnh hội về mặt gìn giữ là chánh ngữ; sự lãnh hội về mặt khởi sinh là chánh nghiệp; sự lãnh hội về mặt trong sạch là chánh mạng; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là chánh tinh tấn; sự lãnh hội về mặt thiết lập là chánh niệm; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là chánh định; sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm giác chi; sự lãnh hội về mặt suy xét là trạch pháp giác chi; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn giác chi; sự lãnh hội về mặt lan tỏa khắp là hỷ giác chi; sự lãnh hội về mặt an tịnh là khinh an giác chi; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định giác chi; sự lãnh hội về mặt quán xét rõ ràng là xả giác chi; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự thiếu lòng tin là tín lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự biếng nhác là tinh tấn lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự buông lung là niệm lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự phóng dật là định lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước vô minh là tuệ lực; sự lãnh hội về mặt quyết định chắc chắn là tín quyền; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn quyền; sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm quyền; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định quyền; sự lãnh hội về mặt thấy rõ là tuệ quyền; về các quyền theo ý nghĩa làm chủ là sự lãnh hội; về các lực theo ý nghĩa không lay chuyển là sự lãnh hội; về các giác chi theo ý nghĩa dẫn ra khỏi (luân hồi) là sự lãnh hội; về Đạo theo ý nghĩa là nhân là sự lãnh hội; về các Niệm Xứ theo ý nghĩa thiết lập là sự lãnh hội; về các chánh cần theo ý nghĩa nỗ lực là sự lãnh hội; về các như ý túc theo ý nghĩa thành tựu là sự lãnh hội; về các chân lý theo ý nghĩa đúng thật là sự lãnh hội; về chỉ tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về minh sát theo ý nghĩa quán sát là sự lãnh hội; về chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa một vị là sự lãnh hội; về sự kết hợp chung theo ý nghĩa không vượt quá nhau là sự lãnh hội; về giới thanh tịnh theo ý nghĩa gìn giữ là sự lãnh hội; về tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy rõ là sự lãnh hội; về giải thoát theo ý nghĩa được thả ra là sự lãnh hội; về minh theo ý nghĩa thấu suốt là sự lãnh hội; về sự buông xả theo ý nghĩa từ bỏ hẳn là sự lãnh hội.

Trí biết sự không còn sinh khởi, theo ý nghĩa lắng dịu hẳn, là sự lãnh hội. Dục (ước muốn làm) là sự lãnh hội theo ý nghĩa gốc rễ; tác ý là sự lãnh hội theo ý nghĩa khởi sinh; xúc là sự lãnh hội theo ý nghĩa kết hợp; thọ là sự lãnh hội theo ý nghĩa hội tụ; định là sự lãnh hội theo ý nghĩa dẫn đầu; niệm là sự lãnh hội theo ý nghĩa làm chủ; tuệ là sự lãnh hội theo ý nghĩa cao hơn cả; giải thoát là sự lãnh hội theo ý nghĩa cốt lõi. Niết-bàn, nơi thấm nhập vào bất tử, là sự lãnh hội theo ý nghĩa kết thúc. Sự lãnh hội chỉ có bấy nhiêu thôi sao? Không phải. Ở sát-na Đạo Nhất lai: sự lãnh hội về mặt thấy rõ là chánh kiến; sự lãnh hội về mặt gắn tâm vào đối tượng là chánh tư duy; sự lãnh hội về mặt gìn giữ là chánh ngữ; sự lãnh hội về mặt khởi sinh là chánh nghiệp; sự lãnh hội về mặt trong sạch là chánh mạng; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là chánh tinh tấn; sự lãnh hội về mặt thiết lập là chánh niệm; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là chánh định; sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm giác chi; sự lãnh hội về mặt suy xét là trạch pháp giác chi; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn giác chi; sự lãnh hội về mặt lan tỏa khắp là hỷ giác chi; sự lãnh hội về mặt an tịnh là khinh an giác chi; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định giác chi; sự lãnh hội về mặt quán xét rõ ràng là xả giác chi; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự thiếu lòng tin là tín lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự biếng nhác là tinh tấn lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự buông lung là niệm lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự phóng dật là định lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước vô minh là tuệ lực; sự lãnh hội về mặt quyết định chắc chắn là tín quyền; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn quyền; sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm quyền; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định quyền; sự lãnh hội về mặt thấy rõ là tuệ quyền; về các quyền theo ý nghĩa làm chủ là sự lãnh hội; về các lực theo ý nghĩa không lay chuyển là sự lãnh hội; về các giác chi theo ý nghĩa dẫn ra khỏi (luân hồi) là sự lãnh hội; về Đạo theo ý nghĩa là nhân là sự lãnh hội; về các Niệm Xứ theo ý nghĩa thiết lập là sự lãnh hội; về các chánh cần theo ý nghĩa nỗ lực là sự lãnh hội; về các như ý túc theo ý nghĩa thành tựu là sự lãnh hội; về các chân lý theo ý nghĩa đúng thật là sự lãnh hội; về chỉ tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về minh sát theo ý nghĩa quán sát là sự lãnh hội; về chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa một vị là sự lãnh hội; về sự kết hợp chung theo ý nghĩa không vượt quá nhau là sự lãnh hội; về giới thanh tịnh theo ý nghĩa gìn giữ là sự lãnh hội; về tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy rõ là sự lãnh hội; về giải thoát theo ý nghĩa được thả ra là sự lãnh hội; về minh theo ý nghĩa thấu suốt là sự lãnh hội; về sự buông xả theo ý nghĩa từ bỏ hẳn là sự lãnh hội; trí biết sự đoạn tận, theo ý nghĩa cắt đứt trọn vẹn, là sự lãnh hội; Dục (ước muốn làm) là sự lãnh hội theo ý nghĩa gốc rễ; tác ý là sự lãnh hội theo ý nghĩa khởi sinh; xúc là sự lãnh hội theo ý nghĩa kết hợp; thọ là sự lãnh hội theo ý nghĩa hội tụ; định là sự lãnh hội theo ý nghĩa dẫn đầu; niệm là sự lãnh hội theo ý nghĩa làm chủ; tuệ là sự lãnh hội theo ý nghĩa cao hơn cả; giải thoát là sự lãnh hội theo ý nghĩa cốt lõi.

Ở sát-na quả Nhất lai: sự lãnh hội về mặt thấy rõ là chánh kiến; sự lãnh hội về mặt gắn tâm vào đối tượng là chánh tư duy; sự lãnh hội về mặt gìn giữ là chánh ngữ; sự lãnh hội về mặt khởi sinh là chánh nghiệp; sự lãnh hội về mặt trong sạch là chánh mạng; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là chánh tinh tấn; sự lãnh hội về mặt thiết lập là chánh niệm; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là chánh định; sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm giác chi; sự lãnh hội về mặt suy xét là trạch pháp giác chi; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn giác chi; sự lãnh hội về mặt lan tỏa khắp là hỷ giác chi; sự lãnh hội về mặt an tịnh là khinh an giác chi; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định giác chi; sự lãnh hội về mặt quán xét rõ ràng là xả giác chi; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự thiếu lòng tin là tín lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự biếng nhác là tinh tấn lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự buông lung là niệm lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự phóng dật là định lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước vô minh là tuệ lực; sự lãnh hội về mặt quyết định chắc chắn là tín quyền; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn quyền; sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm quyền; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định quyền; sự lãnh hội về mặt thấy rõ là tuệ quyền; về các quyền theo ý nghĩa làm chủ là sự lãnh hội; về các lực theo ý nghĩa không lay chuyển là sự lãnh hội; về các giác chi theo ý nghĩa dẫn ra khỏi (luân hồi) là sự lãnh hội; về Đạo theo ý nghĩa là nhân là sự lãnh hội; về các Niệm Xứ theo ý nghĩa thiết lập là sự lãnh hội; về các chánh cần theo ý nghĩa nỗ lực là sự lãnh hội; về các như ý túc theo ý nghĩa thành tựu là sự lãnh hội; về các chân lý theo ý nghĩa đúng thật là sự lãnh hội; về chỉ tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về minh sát theo ý nghĩa quán sát là sự lãnh hội; về chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa một vị là sự lãnh hội; về sự kết hợp chung theo ý nghĩa không vượt quá nhau là sự lãnh hội; về giới thanh tịnh theo ý nghĩa gìn giữ là sự lãnh hội; về tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy rõ là sự lãnh hội; về giải thoát theo ý nghĩa được thả ra là sự lãnh hội; về minh theo ý nghĩa thấu suốt là sự lãnh hội; về sự buông xả theo ý nghĩa từ bỏ hẳn là sự lãnh hội; trí biết sự không còn sinh khởi, theo ý nghĩa lắng dịu hẳn, là sự lãnh hội; Dục (ước muốn làm) là sự lãnh hội theo ý nghĩa gốc rễ; tác ý là sự lãnh hội theo ý nghĩa khởi sinh; xúc là sự lãnh hội theo ý nghĩa kết hợp; thọ là sự lãnh hội theo ý nghĩa hội tụ; định là sự lãnh hội theo ý nghĩa dẫn đầu; niệm là sự lãnh hội theo ý nghĩa làm chủ; tuệ là sự lãnh hội theo ý nghĩa cao hơn cả; giải thoát là sự lãnh hội theo ý nghĩa cốt lõi.

Ở sát-na Đạo Bất hoàn: sự lãnh hội về mặt thấy rõ là chánh kiến; sự lãnh hội về mặt gắn tâm vào đối tượng là chánh tư duy; sự lãnh hội về mặt gìn giữ là chánh ngữ; sự lãnh hội về mặt khởi sinh là chánh nghiệp; sự lãnh hội về mặt trong sạch là chánh mạng; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là chánh tinh tấn; sự lãnh hội về mặt thiết lập là chánh niệm; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là chánh định; sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm giác chi; sự lãnh hội về mặt suy xét là trạch pháp giác chi; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn giác chi; sự lãnh hội về mặt lan tỏa khắp là hỷ giác chi; sự lãnh hội về mặt an tịnh là khinh an giác chi; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định giác chi; sự lãnh hội về mặt quán xét rõ ràng là xả giác chi; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự thiếu lòng tin là tín lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự biếng nhác là tinh tấn lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự buông lung là niệm lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự phóng dật là định lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước vô minh là tuệ lực; sự lãnh hội về mặt quyết định chắc chắn là tín quyền; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn quyền; sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm quyền; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định quyền; sự lãnh hội về mặt thấy rõ là tuệ quyền; về các quyền theo ý nghĩa làm chủ là sự lãnh hội; về các lực theo ý nghĩa không lay chuyển là sự lãnh hội; về các giác chi theo ý nghĩa dẫn ra khỏi (luân hồi) là sự lãnh hội; về Đạo theo ý nghĩa là nhân là sự lãnh hội; về các Niệm Xứ theo ý nghĩa thiết lập là sự lãnh hội; về các chánh cần theo ý nghĩa nỗ lực là sự lãnh hội; về các như ý túc theo ý nghĩa thành tựu là sự lãnh hội; về các chân lý theo ý nghĩa đúng thật là sự lãnh hội; về chỉ tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về minh sát theo ý nghĩa quán sát là sự lãnh hội; về chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa một vị là sự lãnh hội; về sự kết hợp chung theo ý nghĩa không vượt quá nhau là sự lãnh hội; về giới thanh tịnh theo ý nghĩa gìn giữ là sự lãnh hội; về tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy rõ là sự lãnh hội; về giải thoát theo ý nghĩa được thả ra là sự lãnh hội; về minh theo ý nghĩa thấu suốt là sự lãnh hội; về sự buông xả theo ý nghĩa từ bỏ hẳn là sự lãnh hội; trí biết sự đoạn tận, theo ý nghĩa cắt đứt trọn vẹn, là sự lãnh hội; Dục (ước muốn làm) là sự lãnh hội theo ý nghĩa gốc rễ; tác ý là sự lãnh hội theo ý nghĩa khởi sinh; xúc là sự lãnh hội theo ý nghĩa kết hợp; thọ là sự lãnh hội theo ý nghĩa hội tụ; định là sự lãnh hội theo ý nghĩa dẫn đầu; niệm là sự lãnh hội theo ý nghĩa làm chủ; tuệ là sự lãnh hội theo ý nghĩa cao hơn cả; giải thoát là sự lãnh hội theo ý nghĩa cốt lõi.

Ở sát-na quả Bất hoàn: sự lãnh hội về mặt thấy rõ là chánh kiến; sự lãnh hội về mặt gắn tâm vào đối tượng là chánh tư duy; sự lãnh hội về mặt gìn giữ là chánh ngữ; sự lãnh hội về mặt khởi sinh là chánh nghiệp; sự lãnh hội về mặt trong sạch là chánh mạng; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là chánh tinh tấn; sự lãnh hội về mặt thiết lập là chánh niệm; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là chánh định; sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm giác chi; sự lãnh hội về mặt suy xét là trạch pháp giác chi; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn giác chi; sự lãnh hội về mặt lan tỏa khắp là hỷ giác chi; sự lãnh hội về mặt an tịnh là khinh an giác chi; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định giác chi; sự lãnh hội về mặt quán xét rõ ràng là xả giác chi; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự thiếu lòng tin là tín lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự biếng nhác là tinh tấn lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự buông lung là niệm lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự phóng dật là định lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước vô minh là tuệ lực; sự lãnh hội về mặt quyết định chắc chắn là tín quyền; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn quyền; sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm quyền; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định quyền; sự lãnh hội về mặt thấy rõ là tuệ quyền; về các quyền theo ý nghĩa làm chủ là sự lãnh hội; về các lực theo ý nghĩa không lay chuyển là sự lãnh hội; về các giác chi theo ý nghĩa dẫn ra khỏi (luân hồi) là sự lãnh hội; về Đạo theo ý nghĩa là nhân là sự lãnh hội; về các Niệm Xứ theo ý nghĩa thiết lập là sự lãnh hội; về các chánh cần theo ý nghĩa nỗ lực là sự lãnh hội; về các như ý túc theo ý nghĩa thành tựu là sự lãnh hội; về các chân lý theo ý nghĩa đúng thật là sự lãnh hội; về chỉ tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về minh sát theo ý nghĩa quán sát là sự lãnh hội; về chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa một vị là sự lãnh hội; về sự kết hợp chung theo ý nghĩa không vượt quá nhau là sự lãnh hội; về giới thanh tịnh theo ý nghĩa gìn giữ là sự lãnh hội; về tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy rõ là sự lãnh hội; về giải thoát theo ý nghĩa được thả ra là sự lãnh hội; về minh theo ý nghĩa thấu suốt là sự lãnh hội; về sự buông xả theo ý nghĩa từ bỏ hẳn là sự lãnh hội; trí biết sự không còn sinh khởi, theo ý nghĩa lắng dịu hẳn, là sự lãnh hội; Dục (ước muốn làm) là sự lãnh hội theo ý nghĩa gốc rễ; tác ý là sự lãnh hội theo ý nghĩa khởi sinh; xúc là sự lãnh hội theo ý nghĩa kết hợp; thọ là sự lãnh hội theo ý nghĩa hội tụ; định là sự lãnh hội theo ý nghĩa dẫn đầu; niệm là sự lãnh hội theo ý nghĩa làm chủ; tuệ là sự lãnh hội theo ý nghĩa cao hơn cả; giải thoát là sự lãnh hội theo ý nghĩa cốt lõi.

Ở sát-na Đạo A-la-hán: sự lãnh hội về mặt thấy rõ là chánh kiến; sự lãnh hội về mặt gắn tâm vào đối tượng là chánh tư duy; sự lãnh hội về mặt gìn giữ là chánh ngữ; sự lãnh hội về mặt khởi sinh là chánh nghiệp; sự lãnh hội về mặt trong sạch là chánh mạng; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là chánh tinh tấn; sự lãnh hội về mặt thiết lập là chánh niệm; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là chánh định; sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm giác chi; sự lãnh hội về mặt suy xét là trạch pháp giác chi; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn giác chi; sự lãnh hội về mặt lan tỏa khắp là hỷ giác chi; sự lãnh hội về mặt an tịnh là khinh an giác chi; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định giác chi; sự lãnh hội về mặt quán xét rõ ràng là xả giác chi; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự thiếu lòng tin là tín lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự biếng nhác là tinh tấn lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự buông lung là niệm lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự phóng dật là định lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước vô minh là tuệ lực; sự lãnh hội về mặt quyết định chắc chắn là tín quyền; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn quyền; sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm quyền; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định quyền; sự lãnh hội về mặt thấy rõ là tuệ quyền; về các quyền theo ý nghĩa làm chủ là sự lãnh hội; về các lực theo ý nghĩa không lay chuyển là sự lãnh hội; về các giác chi theo ý nghĩa dẫn ra khỏi (luân hồi) là sự lãnh hội; về Đạo theo ý nghĩa là nhân là sự lãnh hội; về các Niệm Xứ theo ý nghĩa thiết lập là sự lãnh hội; về các chánh cần theo ý nghĩa nỗ lực là sự lãnh hội; về các như ý túc theo ý nghĩa thành tựu là sự lãnh hội; về các chân lý theo ý nghĩa đúng thật là sự lãnh hội; về chỉ tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về minh sát theo ý nghĩa quán sát là sự lãnh hội; về chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa một vị là sự lãnh hội; về sự kết hợp chung theo ý nghĩa không vượt quá nhau là sự lãnh hội; về giới thanh tịnh theo ý nghĩa gìn giữ là sự lãnh hội; về tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy rõ là sự lãnh hội; về giải thoát theo ý nghĩa được thả ra là sự lãnh hội; về minh theo ý nghĩa thấu suốt là sự lãnh hội; về sự buông xả theo ý nghĩa từ bỏ hẳn là sự lãnh hội; trí biết sự đoạn tận, theo ý nghĩa cắt đứt trọn vẹn, là sự lãnh hội; Dục (ước muốn làm) là sự lãnh hội theo ý nghĩa gốc rễ; tác ý là sự lãnh hội theo ý nghĩa khởi sinh; xúc là sự lãnh hội theo ý nghĩa kết hợp; thọ là sự lãnh hội theo ý nghĩa hội tụ; định là sự lãnh hội theo ý nghĩa dẫn đầu; niệm là sự lãnh hội theo ý nghĩa làm chủ; tuệ là sự lãnh hội theo ý nghĩa cao hơn cả; giải thoát là sự lãnh hội theo ý nghĩa cốt lõi.

Ở sát-na quả A-la-hán: sự lãnh hội về mặt thấy rõ là chánh kiến; sự lãnh hội về mặt gắn tâm vào đối tượng là chánh tư duy; sự lãnh hội về mặt gìn giữ là chánh ngữ; sự lãnh hội về mặt khởi sinh là chánh nghiệp; sự lãnh hội về mặt trong sạch là chánh mạng; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là chánh tinh tấn; sự lãnh hội về mặt thiết lập là chánh niệm; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là chánh định; sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm giác chi; sự lãnh hội về mặt suy xét là trạch pháp giác chi; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn giác chi; sự lãnh hội về mặt lan tỏa khắp là hỷ giác chi; sự lãnh hội về mặt an tịnh là khinh an giác chi; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định giác chi; sự lãnh hội về mặt quán xét rõ ràng là xả giác chi; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự thiếu lòng tin là tín lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự biếng nhác là tinh tấn lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự buông lung là niệm lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước sự phóng dật là định lực; sự lãnh hội về tính không lay chuyển trước vô minh là tuệ lực; sự lãnh hội về mặt quyết định chắc chắn là tín quyền; sự lãnh hội về mặt nỗ lực là tinh tấn quyền; sự lãnh hội về mặt thiết lập là niệm quyền; sự lãnh hội về mặt không tán loạn là định quyền; sự lãnh hội về mặt thấy rõ là tuệ quyền; về các quyền theo ý nghĩa làm chủ là sự lãnh hội; về các lực theo ý nghĩa không lay chuyển là sự lãnh hội; về các giác chi theo ý nghĩa dẫn ra khỏi (luân hồi) là sự lãnh hội; về Đạo theo ý nghĩa là nhân là sự lãnh hội; về các Niệm Xứ theo ý nghĩa thiết lập là sự lãnh hội; về các chánh cần theo ý nghĩa nỗ lực là sự lãnh hội; về các như ý túc theo ý nghĩa thành tựu là sự lãnh hội; về các chân lý theo ý nghĩa đúng thật là sự lãnh hội; về chỉ tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về minh sát theo ý nghĩa quán sát là sự lãnh hội; về chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa một vị là sự lãnh hội; về sự kết hợp chung theo ý nghĩa không vượt quá nhau là sự lãnh hội; về giới thanh tịnh theo ý nghĩa gìn giữ là sự lãnh hội; về tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tán loạn là sự lãnh hội; về kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy rõ là sự lãnh hội; về giải thoát theo ý nghĩa được thả ra là sự lãnh hội; về minh theo ý nghĩa thấu suốt là sự lãnh hội; về sự buông xả theo ý nghĩa từ bỏ hẳn là sự lãnh hội.

Trí biết sự không còn sinh khởi, theo ý nghĩa lắng dịu hẳn, là sự lãnh hội. Dục (ước muốn làm) là sự lãnh hội theo ý nghĩa gốc rễ; tác ý là sự lãnh hội theo ý nghĩa khởi sinh; xúc là sự lãnh hội theo ý nghĩa kết hợp; thọ là sự lãnh hội theo ý nghĩa hội tụ; định là sự lãnh hội theo ý nghĩa dẫn đầu; niệm là sự lãnh hội theo ý nghĩa làm chủ; tuệ là sự lãnh hội theo ý nghĩa cao hơn cả; giải thoát là sự lãnh hội theo ý nghĩa cốt lõi. Niết-bàn, nơi thấm nhập vào bất tử, là sự lãnh hội theo ý nghĩa kết thúc. Vị này dứt bỏ các phiền não — dứt bỏ phiền não thuộc quá khứ, dứt bỏ phiền não thuộc vị lai, dứt bỏ phiền não thuộc hiện tại. (Nhưng nói rằng) vị ấy dứt bỏ phiền não vị lai, dứt bỏ phiền não hiện tại, dứt bỏ phiền não quá khứ — điều ấy xét ra sao?

Nếu vị ấy dứt bỏ phiền não thuộc quá khứ, thì tức là vị ấy làm cạn kiệt cái đã cạn kiệt, làm diệt cái đã diệt, làm lìa xa cái đã lìa xa, làm biến mất cái đã biến mất; vị ấy dứt bỏ cái thuộc quá khứ vốn không còn hiện hữu sao? Không phải vị ấy dứt bỏ phiền não thuộc quá khứ. (Vậy là) vị ấy dứt bỏ phiền não thuộc vị lai. Nếu vị ấy dứt bỏ phiền não thuộc vị lai, thì tức là vị ấy dứt bỏ cái chưa sinh, chưa thành, chưa khởi, chưa hiện; vị ấy dứt bỏ cái thuộc vị lai vốn chưa hiện hữu sao? Không phải vị ấy dứt bỏ phiền não thuộc vị lai. (Vậy là) vị ấy dứt bỏ phiền não thuộc hiện tại. Nếu vị ấy dứt bỏ phiền não thuộc hiện tại, thì người đang bị tham ái nhiễm ô lại dứt bỏ tham, người đang hư hỏng lại dứt bỏ sân, người đang mê muội lại dứt bỏ si, người đang bị trói buộc lại dứt bỏ ngã mạn, người đang bị tiêm nhiễm lại dứt bỏ tà kiến, người đang tán loạn lại dứt bỏ phóng dật, người đang do dự lại dứt bỏ hoài nghi, người đang cố chấp lại dứt bỏ ngủ ngầm — như vậy các pháp đen và trắng đi cặp đôi với nhau, vận hành ngang nhau, và sự tu tập Đạo vẫn còn phiền não sao?

Thật ra, vị ấy không dứt bỏ phiền não thuộc quá khứ, không dứt bỏ phiền não thuộc vị lai, cũng không dứt bỏ phiền não thuộc hiện tại. Nếu vị ấy không dứt bỏ phiền não quá khứ, không dứt bỏ phiền não vị lai, không dứt bỏ phiền não hiện tại, thì chẳng lẽ không có sự tu tập Đạo, không có sự chứng đạt quả, không có sự dứt bỏ phiền não, không có sự lãnh hội các pháp sao? Có sự tu tập Đạo, có sự chứng đạt quả, có sự dứt bỏ phiền não, có sự lãnh hội các pháp. Điều ấy giống như thế nào? Ví như một cây non chưa từng ra trái. Một người chặt đứt gốc của cây ấy. Những trái chưa sinh của cây ấy — chính vì chưa sinh nên không sinh ra, chính vì chưa thành nên không thành hình, chính vì chưa khởi nên không khởi lên, chính vì chưa hiện nên không hiện ra.

Cũng vậy, sự sinh khởi là nhân, sự sinh khởi là duyên cho các phiền não được tạo thành. Khi thấy rõ tai hại trong sự sinh khởi, tâm lao về phía sự không sinh khởi. Nhờ tâm đã lao về phía sự không sinh khởi, những phiền não nào lẽ ra được tạo thành do duyên sinh khởi, thì chính vì chưa sinh nên không sinh ra, chính vì chưa thành nên không thành hình, chính vì chưa khởi nên không khởi lên, chính vì chưa hiện nên không hiện ra. Như vậy, do nhân diệt nên khổ diệt. Sự vận hành là nhân; tướng trạng là nhân; sự tích lũy (nghiệp) là nhân. Sự tích lũy là duyên cho các phiền não được tạo thành. Khi thấy rõ tai hại trong sự tích lũy, tâm lao về phía sự không tích lũy.

Nhờ tâm đã lao về phía sự không tích lũy, những phiền não nào lẽ ra được tạo thành do duyên tích lũy, thì chính vì chưa sinh nên không sinh ra, chính vì chưa thành nên không thành hình, chính vì chưa khởi nên không khởi lên, chính vì chưa hiện nên không hiện ra. Như vậy, do nhân diệt nên khổ diệt. Như vậy là có sự tu tập Đạo, có sự chứng đạt quả, có sự dứt bỏ phiền não, có sự lãnh hội các pháp. Hết phần giảng về sự lãnh hội.