Giảng Về Các Quyền (Indriyakathā)
Phần giảng về năm quyền — tín, tấn (tinh tấn), niệm, định, tuệ — theo bốn bài kinh và phần hội tụ kết thúc. Bản văn phân tích các quyền qua sự trong sạch mười lăm cách, sự tu tập, các đạo và quả, rồi qua sáu ý nghĩa của bài kinh thứ tư (làm chủ, làm trong sạch ở bước đầu, trội vượt, đứng vững, làm cạn hết, đặt vững), và kết bằng sự hội tụ của các quyền: ba quyền đặc biệt của bậc thánh theo sáu mươi bốn cách, sự cạn kiệt của các lậu hoặc theo từng đạo, và con mắt thấy khắp của Đức Phật.
Điểm thực hànhTu tập năm quyền như một hệ thống cân bằng: tín phải đi cùng tuệ, tấn phải đi cùng định, niệm giữ cho tất cả đặt vững — quyền nào trội vượt cũng phải kéo các quyền còn lại cùng lớn lên.
Phân Tích Đạo Phẩm 1: Phẩm Lớn (Mahāvagga) 1.4. Giảng Về Các Quyền (Indriyakathā)
1.4.1. Giải Thích Bài Kinh Thứ Nhất
Tôi nghe như vầy — một lần, Đức Thế Tôn ở tại thành Xá-vệ (Sāvatthī), trong rừng cây của thái tử Kỳ-đà (Jeta), khu vườn của ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika). Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo (vị tu sĩ khất thực): “Này các Tỷ-kheo.” “Thưa Ngài,” các Tỷ-kheo ấy đáp lại Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói điều này: “Này các Tỷ-kheo, có năm quyền này. Năm quyền ấy là gì? Tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền — này các Tỷ-kheo, đó là năm quyền.” Năm quyền này được trong sạch theo bao nhiêu cách? Năm quyền này được trong sạch theo mười lăm cách. Bằng cách tránh xa người không có lòng tin, gần gũi và thân cận người có lòng tin, xét lại những bài kinh khơi dậy niềm tin — bằng ba cách này, tín quyền được trong sạch.
Bằng cách tránh xa người lười biếng, gần gũi và thân cận người đã khởi lên sự tinh tấn, xét lại bốn chánh cần — bằng ba cách này, tấn quyền được trong sạch. Bằng cách tránh xa người quên mất niệm, gần gũi và thân cận người có niệm đã đặt vững, xét lại bốn Niệm Xứ — bằng ba cách này, niệm quyền được trong sạch. Bằng cách tránh xa người không định tĩnh, gần gũi và thân cận người định tĩnh, xét lại các tầng thiền và các sự giải thoát — bằng ba cách này, định quyền được trong sạch. Bằng cách tránh xa người kém tuệ, gần gũi và thân cận người có tuệ, xét lại hành trình của trí sâu xa — bằng ba cách này, tuệ quyền được trong sạch. Như vậy, bằng cách tránh năm hạng người, gần gũi và thân cận năm hạng người, xét lại năm phần kinh điển — bằng mười lăm cách này, năm quyền này được trong sạch.
Theo bao nhiêu cách năm quyền được tu tập; theo bao nhiêu cách có sự tu tập của năm quyền? Năm quyền được tu tập theo mười cách; theo mười cách có sự tu tập của năm quyền. Khi dứt bỏ sự thiếu lòng tin là đang tu tập tín quyền; khi tu tập tín quyền là đang dứt bỏ sự thiếu lòng tin; Khi dứt bỏ sự lười biếng là đang tu tập tấn quyền; khi tu tập tấn quyền là đang dứt bỏ sự lười biếng; Khi dứt bỏ sự dễ duôi buông thả là đang tu tập niệm quyền; khi tu tập niệm quyền là đang dứt bỏ sự dễ duôi buông thả; Khi dứt bỏ sự bồn chồn là đang tu tập định quyền; khi tu tập định quyền là đang dứt bỏ sự bồn chồn; Khi dứt bỏ vô minh là đang tu tập tuệ quyền; khi tu tập tuệ quyền là đang dứt bỏ vô minh; Theo mười cách này, năm quyền được tu tập; theo mười cách này có sự tu tập của năm quyền.
Theo bao nhiêu cách năm quyền được coi là đã tu tập, đã tu tập tốt? Theo mười cách, năm quyền đã được tu tập, đã được tu tập tốt. Vì sự thiếu lòng tin đã được dứt bỏ, đã được dứt bỏ trọn vẹn, nên tín quyền đã được tu tập, đã được tu tập tốt; vì tín quyền đã được tu tập, đã được tu tập tốt, nên sự thiếu lòng tin đã được dứt bỏ, đã được dứt bỏ trọn vẹn. Vì sự lười biếng đã được dứt bỏ, đã được dứt bỏ trọn vẹn, nên tấn quyền đã được tu tập, đã được tu tập tốt; vì tấn quyền đã được tu tập, đã được tu tập tốt, nên sự lười biếng đã được dứt bỏ, đã được dứt bỏ trọn vẹn. Vì sự dễ duôi buông thả đã được dứt bỏ, đã được dứt bỏ trọn vẹn, nên niệm quyền đã được tu tập, đã được tu tập tốt; vì niệm quyền đã được tu tập, đã được tu tập tốt, nên sự dễ duôi buông thả đã được dứt bỏ, đã được dứt bỏ trọn vẹn.
Vì sự bồn chồn đã được dứt bỏ, đã được dứt bỏ trọn vẹn, nên định quyền đã được tu tập, đã được tu tập tốt; vì định quyền đã được tu tập, đã được tu tập tốt, nên sự bồn chồn đã được dứt bỏ, đã được dứt bỏ trọn vẹn. Vì vô minh đã được dứt bỏ, nên tuệ quyền đã được tu tập, đã được tu tập tốt; vì tuệ quyền đã được tu tập, đã được tu tập tốt, nên vô minh đã được dứt bỏ, đã được dứt bỏ trọn vẹn. Theo mười cách này, năm quyền đã được tu tập, đã được tu tập tốt. Theo bao nhiêu cách năm quyền được tu tập; theo bao nhiêu cách năm quyền vừa được tu tập, vừa được tu tập tốt, vừa lắng yên, vừa lắng yên trọn vẹn? Theo bốn cách, năm quyền được tu tập; theo bốn cách, năm quyền vừa được tu tập, vừa được tu tập tốt, vừa lắng yên, vừa lắng yên trọn vẹn.
Vào khoảnh khắc Đạo Nhập Lưu, năm quyền đang được tu tập; vào khoảnh khắc Quả Nhập Lưu, năm quyền đã được tu tập, đã được tu tập tốt, đã lắng yên, đã lắng yên trọn vẹn. Vào khoảnh khắc Đạo Nhất Lai, năm quyền đang được tu tập; vào khoảnh khắc Quả Nhất Lai, năm quyền đã được tu tập, đã được tu tập tốt, đã lắng yên, đã lắng yên trọn vẹn. Vào khoảnh khắc Đạo Bất Lai, năm quyền đang được tu tập; vào khoảnh khắc Quả Bất Lai, năm quyền đã được tu tập, đã được tu tập tốt, đã lắng yên, đã lắng yên trọn vẹn. Vào khoảnh khắc Đạo A-la-hán, năm quyền đang được tu tập; vào khoảnh khắc Quả A-la-hán, năm quyền đã được tu tập, đã được tu tập tốt, đã lắng yên, đã lắng yên trọn vẹn.
Như vậy, có bốn sự trong sạch của Đạo, bốn sự trong sạch của Quả, bốn sự trong sạch do cắt đứt hẳn, bốn sự trong sạch do lắng yên. Theo bốn cách này, năm quyền được tu tập; theo bốn cách này, năm quyền đã được tu tập, đã được tu tập tốt, đã lắng yên, đã lắng yên trọn vẹn. Việc tu tập các quyền là dành cho những hạng người nào; có bao nhiêu hạng người đã tu tập các quyền? Việc tu tập các quyền là dành cho tám hạng người; ba hạng người đã tu tập các quyền. Việc tu tập các quyền là dành cho tám hạng người nào? Cho bảy bậc hữu học, và cho người phàm có phẩm chất tốt — việc tu tập các quyền là dành cho tám hạng người này. Ba hạng người nào đã tu tập các quyền?
Vị đệ tử của Như Lai đã dứt hết lậu hoặc — bậc giác ngộ nhờ được nghe Pháp — là người đã tu tập các quyền; Đức Phật Độc Giác, do tự mình thành tựu, là người đã tu tập các quyền; Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, do không thể đo lường, là người đã tu tập các quyền — ba hạng người này đã tu tập các quyền. Như vậy, việc tu tập các quyền là dành cho tám hạng người này; ba hạng người này đã tu tập các quyền. Hết phần giải thích bài kinh thứ 1.
1.4.2. Giải Thích Bài Kinh Thứ Hai
Duyên khởi ở thành Xá-vệ. “Này các Tỷ-kheo, có năm quyền này. Năm quyền ấy là gì? Tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không hiểu rõ như thật về năm quyền này — sự sinh khởi, sự diệt mất, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của chúng, thì theo ta, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được nhìn nhận là Sa-môn trong hàng Sa-môn, không được nhìn nhận là Bà-la-môn trong hàng Bà-la-môn; và các vị ấy cũng không ngay trong đời này tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vào mục đích của đời Sa-môn hay mục đích của đời Bà-la-môn. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào hiểu rõ như thật về năm quyền này — sự sinh khởi, sự diệt mất, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của chúng, thì theo ta, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được nhìn nhận là Sa-môn trong hàng Sa-môn, được nhìn nhận là Bà-la-môn trong hàng Bà-la-môn; và các vị ấy ngay trong đời này tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vào mục đích của đời Sa-môn và mục đích của đời Bà-la-môn.”
Theo bao nhiêu cách có sự sinh khởi của năm quyền; theo bao nhiêu cách biết rõ sự sinh khởi của năm quyền? Theo bao nhiêu cách có sự diệt mất của năm quyền; theo bao nhiêu cách biết rõ sự diệt mất của năm quyền? Theo bao nhiêu cách có vị ngọt của năm quyền; theo bao nhiêu cách biết rõ vị ngọt của năm quyền? Theo bao nhiêu cách có sự nguy hại của năm quyền; theo bao nhiêu cách biết rõ sự nguy hại của năm quyền? Theo bao nhiêu cách có sự xuất ly của năm quyền; theo bao nhiêu cách biết rõ sự xuất ly của năm quyền? Theo bốn mươi cách có sự sinh khởi của năm quyền; theo bốn mươi cách biết rõ sự sinh khởi của năm quyền. Theo bốn mươi cách có sự diệt mất của năm quyền; theo bốn mươi cách biết rõ sự diệt mất của năm quyền.
Theo hai mươi lăm cách có sự vị ngọt của năm quyền; theo hai mươi lăm cách biết rõ sự vị ngọt của năm quyền. Theo hai mươi lăm cách có sự nguy hại của năm quyền; theo hai mươi lăm cách biết rõ sự nguy hại của năm quyền. Theo một trăm tám mươi cách có sự xuất ly của năm quyền; theo một trăm tám mươi cách biết rõ sự xuất ly của năm quyền. Theo những cách nào, theo bốn mươi cách, có sự sinh khởi của năm quyền; theo những cách nào, theo bốn mươi cách, biết rõ sự sinh khởi của năm quyền? Sự sinh khởi của việc hướng tâm vì ý nghĩa xác quyết là sự sinh khởi của tín quyền; sự sinh khởi của ước muốn theo ý nghĩa xác quyết là sự sinh khởi của tín quyền; sự sinh khởi của tác ý theo ý nghĩa xác quyết là sự sinh khởi của tín quyền; sự xuất hiện thành một nhờ tín quyền là sự sinh khởi của tín quyền; Sự sinh khởi của việc hướng tâm vì ý nghĩa ráng sức là sự sinh khởi của tấn quyền; sự sinh khởi của ước muốn theo ý nghĩa ráng sức là sự sinh khởi của tấn quyền; sự sinh khởi của tác ý theo ý nghĩa ráng sức là sự sinh khởi của tấn quyền; sự xuất hiện thành một nhờ tấn quyền là sự sinh khởi của tấn quyền; Sự sinh khởi của việc hướng tâm vì ý nghĩa đặt vững là sự sinh khởi của niệm quyền; sự sinh khởi của ước muốn theo ý nghĩa đặt vững là sự sinh khởi của niệm quyền; sự sinh khởi của tác ý theo ý nghĩa đặt vững là sự sinh khởi của niệm quyền; sự xuất hiện thành một nhờ niệm quyền là sự sinh khởi của niệm quyền; Sự sinh khởi của việc hướng tâm vì ý nghĩa không tán loạn là sự sinh khởi của định quyền; sự sinh khởi của ước muốn theo ý nghĩa không tán loạn là sự sinh khởi của định quyền; sự sinh khởi của tác ý theo ý nghĩa không tán loạn là sự sinh khởi của định quyền; sự xuất hiện thành một nhờ định quyền là sự sinh khởi của định quyền; Sự sinh khởi của việc hướng tâm vì ý nghĩa thấy rõ là sự sinh khởi của tuệ quyền; sự sinh khởi của ước muốn theo ý nghĩa thấy rõ là sự sinh khởi của tuệ quyền; sự sinh khởi của tác ý theo ý nghĩa thấy rõ là sự sinh khởi của tuệ quyền; sự xuất hiện thành một nhờ tuệ quyền là sự sinh khởi của tuệ quyền.
Sự sinh khởi của việc hướng tâm vì ý nghĩa xác quyết là sự sinh khởi của tín quyền; Sự sinh khởi của việc hướng tâm vì ý nghĩa ráng sức là sự sinh khởi của tấn quyền; Sự sinh khởi của việc hướng tâm vì ý nghĩa đặt vững là sự sinh khởi của niệm quyền; Sự sinh khởi của việc hướng tâm vì ý nghĩa không tán loạn là sự sinh khởi của định quyền; Sự sinh khởi của việc hướng tâm vì ý nghĩa thấy rõ là sự sinh khởi của tuệ quyền. sự sinh khởi của ước muốn theo ý nghĩa xác quyết là sự sinh khởi của tín quyền; sự sinh khởi của ước muốn theo ý nghĩa ráng sức là sự sinh khởi của tấn quyền; sự sinh khởi của ước muốn theo ý nghĩa đặt vững là sự sinh khởi của niệm quyền; sự sinh khởi của ước muốn theo ý nghĩa không tán loạn là sự sinh khởi của định quyền; sự sinh khởi của ước muốn theo ý nghĩa thấy rõ là sự sinh khởi của tuệ quyền.
sự sinh khởi của tác ý theo ý nghĩa xác quyết là sự sinh khởi của tín quyền; sự sinh khởi của tác ý theo ý nghĩa ráng sức là sự sinh khởi của tấn quyền; sự sinh khởi của tác ý theo ý nghĩa đặt vững là sự sinh khởi của niệm quyền; sự sinh khởi của tác ý theo ý nghĩa không tán loạn là sự sinh khởi của định quyền; sự sinh khởi của tác ý theo ý nghĩa thấy rõ là sự sinh khởi của tuệ quyền. sự xuất hiện thành một nhờ tín quyền là sự sinh khởi của tín quyền; sự xuất hiện thành một nhờ tấn quyền là sự sinh khởi của tấn quyền; sự xuất hiện thành một nhờ niệm quyền là sự sinh khởi của niệm quyền; sự xuất hiện thành một nhờ định quyền là sự sinh khởi của định quyền; sự xuất hiện thành một nhờ tuệ quyền là sự sinh khởi của tuệ quyền.
Theo bốn mươi cách này có sự sinh khởi của năm quyền; theo bốn mươi cách này biết rõ sự sinh khởi của năm quyền. Theo những cách nào, theo bốn mươi cách, có sự diệt mất của năm quyền; theo những cách nào, theo bốn mươi cách, biết rõ sự diệt mất của năm quyền? Sự diệt mất của việc hướng tâm vì ý nghĩa xác quyết là sự diệt mất của tín quyền; sự diệt mất của ước muốn theo ý nghĩa xác quyết là sự diệt mất của tín quyền; sự diệt mất của tác ý theo ý nghĩa xác quyết là sự diệt mất của tín quyền; sự không xuất hiện thành một nhờ tín quyền là sự diệt mất của tín quyền; Sự diệt mất của việc hướng tâm vì ý nghĩa ráng sức là sự diệt mất của tấn quyền; sự diệt mất của ước muốn theo ý nghĩa ráng sức là sự diệt mất của tấn quyền; sự diệt mất của tác ý theo ý nghĩa ráng sức là sự diệt mất của tấn quyền; sự không xuất hiện thành một nhờ tấn quyền là sự diệt mất của tấn quyền; Sự diệt mất của việc hướng tâm vì ý nghĩa đặt vững là sự diệt mất của niệm quyền; sự diệt mất của ước muốn theo ý nghĩa đặt vững là sự diệt mất của niệm quyền; sự diệt mất của tác ý theo ý nghĩa đặt vững là sự diệt mất của niệm quyền; sự không xuất hiện thành một nhờ niệm quyền là sự diệt mất của niệm quyền; Sự diệt mất của việc hướng tâm vì ý nghĩa không tán loạn là sự diệt mất của định quyền; sự diệt mất của ước muốn theo ý nghĩa không tán loạn là sự diệt mất của định quyền; sự diệt mất của tác ý theo ý nghĩa không tán loạn là sự diệt mất của định quyền; sự không xuất hiện thành một nhờ định quyền là sự diệt mất của định quyền; Sự diệt mất của việc hướng tâm vì ý nghĩa thấy rõ là sự diệt mất của tuệ quyền; sự diệt mất của ước muốn theo ý nghĩa thấy rõ là sự diệt mất của tuệ quyền; sự diệt mất của tác ý theo ý nghĩa thấy rõ là sự diệt mất của tuệ quyền; sự không xuất hiện thành một nhờ tuệ quyền là sự diệt mất của tuệ quyền.
Sự diệt mất của việc hướng tâm vì ý nghĩa xác quyết là sự diệt mất của tín quyền; Sự diệt mất của việc hướng tâm vì ý nghĩa ráng sức là sự diệt mất của tấn quyền; Sự diệt mất của việc hướng tâm vì ý nghĩa đặt vững là sự diệt mất của niệm quyền; Sự diệt mất của việc hướng tâm vì ý nghĩa không tán loạn là sự diệt mất của định quyền; Sự diệt mất của việc hướng tâm vì ý nghĩa thấy rõ là sự diệt mất của tuệ quyền. sự diệt mất của ước muốn theo ý nghĩa xác quyết là sự diệt mất của tín quyền; sự diệt mất của ước muốn theo ý nghĩa ráng sức là sự diệt mất của tấn quyền; sự diệt mất của ước muốn theo ý nghĩa đặt vững là sự diệt mất của niệm quyền; sự diệt mất của ước muốn theo ý nghĩa không tán loạn là sự diệt mất của định quyền; sự diệt mất của ước muốn theo ý nghĩa thấy rõ là sự diệt mất của tuệ quyền.
sự diệt mất của tác ý theo ý nghĩa xác quyết là sự diệt mất của tín quyền; sự diệt mất của tác ý theo ý nghĩa ráng sức là sự diệt mất của tấn quyền; sự diệt mất của tác ý theo ý nghĩa đặt vững là sự diệt mất của niệm quyền; sự diệt mất của tác ý theo ý nghĩa không tán loạn là sự diệt mất của định quyền; sự diệt mất của tác ý theo ý nghĩa thấy rõ là sự diệt mất của tuệ quyền. sự không xuất hiện thành một nhờ tín quyền là sự diệt mất của tín quyền; sự không xuất hiện thành một nhờ tấn quyền là sự diệt mất của tấn quyền; sự không xuất hiện thành một nhờ niệm quyền là sự diệt mất của niệm quyền; sự không xuất hiện thành một nhờ định quyền là sự diệt mất của định quyền; sự không xuất hiện thành một nhờ tuệ quyền là sự diệt mất của tuệ quyền.
Theo bốn mươi cách này có sự diệt mất của năm quyền; theo bốn mươi cách này biết rõ sự diệt mất của năm quyền.
1.4.2.1. Giải Thích Về Vị Ngọt
Theo những cách nào, theo hai mươi lăm cách, có vị ngọt của năm quyền; theo những cách nào, theo hai mươi lăm cách, biết rõ vị ngọt của năm quyền? Sự không xuất hiện của sự thiếu lòng tin là vị ngọt của tín quyền; sự không xuất hiện của cơn nóng bức do sự thiếu lòng tin là vị ngọt của tín quyền; sự tự tin vững vàng trong hành trình xác quyết là vị ngọt của tín quyền; và sự đạt được chỗ an trú an tịnh là vị ngọt của tín quyền; niềm vui và niềm hoan hỷ nào sinh lên nương vào tín quyền — đó là vị ngọt của tín quyền. Sự không xuất hiện của sự lười biếng là vị ngọt của tấn quyền; sự không xuất hiện của cơn nóng bức do sự lười biếng là vị ngọt của tấn quyền; sự tự tin vững vàng trong hành trình ráng sức là vị ngọt của tấn quyền; và sự đạt được chỗ an trú an tịnh là vị ngọt của tấn quyền; niềm vui và niềm hoan hỷ nào sinh lên nương vào tấn quyền — đó là vị ngọt của tấn quyền.
Sự không xuất hiện của sự dễ duôi buông thả là vị ngọt của niệm quyền; sự không xuất hiện của cơn nóng bức do sự dễ duôi buông thả là vị ngọt của niệm quyền; sự tự tin vững vàng trong hành trình đặt vững là vị ngọt của niệm quyền; và sự đạt được chỗ an trú an tịnh là vị ngọt của niệm quyền; niềm vui và niềm hoan hỷ nào sinh lên nương vào niệm quyền — đó là vị ngọt của niệm quyền. Sự không xuất hiện của sự bồn chồn là vị ngọt của định quyền; sự không xuất hiện của cơn nóng bức do sự bồn chồn là vị ngọt của định quyền; sự tự tin vững vàng trong hành trình không tán loạn là vị ngọt của định quyền; và sự đạt được chỗ an trú an tịnh là vị ngọt của định quyền; niềm vui và niềm hoan hỷ nào sinh lên nương vào định quyền — đó là vị ngọt của định quyền.
Sự không xuất hiện của vô minh là vị ngọt của tuệ quyền; sự không xuất hiện của cơn nóng bức do vô minh là vị ngọt của tuệ quyền; sự tự tin vững vàng trong hành trình thấy rõ là vị ngọt của tuệ quyền; và sự đạt được chỗ an trú an tịnh là vị ngọt của tuệ quyền; niềm vui và niềm hoan hỷ nào sinh lên nương vào tuệ quyền — đó là vị ngọt của tuệ quyền. Theo hai mươi lăm cách này có vị ngọt của năm quyền; theo hai mươi lăm cách này biết rõ vị ngọt của năm quyền.
1.4.2.2. Giải Thích Về Sự Nguy Hại
Theo những cách nào, theo hai mươi lăm cách, có sự nguy hại của năm quyền; theo những cách nào, theo hai mươi lăm cách, biết rõ sự nguy hại của năm quyền? Sự xuất hiện của sự thiếu lòng tin là sự nguy hại của tín quyền; sự xuất hiện của cơn nóng bức do sự thiếu lòng tin là sự nguy hại của tín quyền; theo ý nghĩa vô thường, đó là sự nguy hại của tín quyền; theo ý nghĩa khổ, đó là sự nguy hại của tín quyền; theo ý nghĩa vô ngã, đó là sự nguy hại của tín quyền. Sự xuất hiện của sự lười biếng là sự nguy hại của tấn quyền; sự xuất hiện của cơn nóng bức do sự lười biếng là sự nguy hại của tấn quyền; theo ý nghĩa vô thường, đó là sự nguy hại của tấn quyền; theo ý nghĩa khổ, đó là sự nguy hại của tấn quyền; Theo ý nghĩa vô ngã, đó là sự nguy hại của tấn quyền.
Sự xuất hiện của sự dễ duôi buông thả là sự nguy hại của niệm quyền; sự xuất hiện của cơn nóng bức do sự dễ duôi buông thả là sự nguy hại của niệm quyền; theo ý nghĩa vô thường, đó là sự nguy hại của niệm quyền; theo ý nghĩa khổ, đó là sự nguy hại của niệm quyền; Theo ý nghĩa vô ngã, đó là sự nguy hại của niệm quyền. Sự xuất hiện của sự bồn chồn là sự nguy hại của định quyền; sự xuất hiện của cơn nóng bức do sự bồn chồn là sự nguy hại của định quyền; theo ý nghĩa vô thường, đó là sự nguy hại của định quyền; theo ý nghĩa khổ, đó là sự nguy hại của định quyền; Theo ý nghĩa vô ngã, đó là sự nguy hại của định quyền. Sự xuất hiện của vô minh là sự nguy hại của tuệ quyền; sự xuất hiện của cơn nóng bức do vô minh là sự nguy hại của tuệ quyền; theo ý nghĩa vô thường, đó là sự nguy hại của tuệ quyền; theo ý nghĩa khổ, đó là sự nguy hại của tuệ quyền; theo ý nghĩa vô ngã, đó là sự nguy hại của tuệ quyền.
Theo hai mươi lăm cách này có sự nguy hại của năm quyền; theo hai mươi lăm cách này biết rõ sự nguy hại của năm quyền.
1.4.2.3. Giải Thích Về Sự Xuất Ly
Theo những cách nào, theo một trăm tám mươi cách, có sự xuất ly của năm quyền; theo những cách nào, theo một trăm tám mươi cách, biết rõ sự xuất ly của năm quyền? Theo ý nghĩa xác quyết, tín quyền đã thoát ra khỏi sự thiếu lòng tin, đã thoát ra khỏi cơn nóng bức do sự thiếu lòng tin, đã thoát ra khỏi các phiền não và các uẩn đi theo nó, đã thoát ra khỏi mọi tướng ở bên ngoài; và nhờ đạt được tín quyền tinh tế hơn về sau, tín quyền trước đó cũng đã thoát ra. Theo ý nghĩa ráng sức, tấn quyền đã thoát ra khỏi sự lười biếng, đã thoát ra khỏi cơn nóng bức do sự lười biếng, đã thoát ra khỏi các phiền não và các uẩn đi theo nó, đã thoát ra khỏi mọi tướng ở bên ngoài; và nhờ đạt được tấn quyền tinh tế hơn về sau, tấn quyền trước đó cũng đã thoát ra.
Theo ý nghĩa đặt vững, niệm quyền đã thoát ra khỏi sự dễ duôi buông thả, đã thoát ra khỏi cơn nóng bức do sự dễ duôi buông thả, đã thoát ra khỏi các phiền não và các uẩn đi theo nó, đã thoát ra khỏi mọi tướng ở bên ngoài; và nhờ đạt được niệm quyền tinh tế hơn về sau, niệm quyền trước đó cũng đã thoát ra. Theo ý nghĩa không tán loạn, định quyền đã thoát ra khỏi sự bồn chồn, đã thoát ra khỏi cơn nóng bức do sự bồn chồn, đã thoát ra khỏi các phiền não và các uẩn đi theo nó, đã thoát ra khỏi mọi tướng ở bên ngoài; và nhờ đạt được định quyền tinh tế hơn về sau, định quyền trước đó cũng đã thoát ra. Theo ý nghĩa thấy rõ, tuệ quyền đã thoát ra khỏi vô minh, đã thoát ra khỏi cơn nóng bức do vô minh, đã thoát ra khỏi các phiền não và các uẩn đi theo nó, đã thoát ra khỏi mọi tướng ở bên ngoài; và nhờ đạt được tuệ quyền tinh tế hơn về sau, tuệ quyền trước đó cũng đã thoát ra.
từ giai đoạn chuẩn bị, nhờ thiền thứ nhất, năm quyền thoát ra khỏi giai đoạn chuẩn bị; từ thiền thứ nhất, nhờ thiền thứ hai, năm quyền thoát ra khỏi thiền thứ nhất; từ thiền thứ hai, nhờ thiền thứ ba, năm quyền thoát ra khỏi thiền thứ hai; từ thiền thứ ba, nhờ thiền thứ tư, năm quyền thoát ra khỏi thiền thứ ba; từ thiền thứ tư, nhờ chứng đắc Không Vô Biên Xứ, năm quyền thoát ra khỏi thiền thứ tư; từ chứng đắc Không Vô Biên Xứ, nhờ chứng đắc Thức Vô Biên Xứ, năm quyền thoát ra khỏi chứng đắc Không Vô Biên Xứ; từ chứng đắc Thức Vô Biên Xứ, nhờ chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ, năm quyền thoát ra khỏi chứng đắc Thức Vô Biên Xứ; từ chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ, nhờ chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, năm quyền thoát ra khỏi chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ.
từ chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, nhờ quán vô thường, năm quyền thoát ra khỏi chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ; từ quán vô thường, nhờ quán khổ, năm quyền thoát ra khỏi quán vô thường; từ quán khổ, nhờ quán vô ngã, năm quyền thoát ra khỏi quán khổ; từ quán vô ngã, nhờ quán nhàm chán, năm quyền thoát ra khỏi quán vô ngã; từ quán nhàm chán, nhờ quán ly tham, năm quyền thoát ra khỏi quán nhàm chán; từ quán ly tham, nhờ quán sự diệt, năm quyền thoát ra khỏi quán ly tham; từ quán sự diệt, nhờ quán buông bỏ, năm quyền thoát ra khỏi quán sự diệt; từ quán buông bỏ, nhờ quán đoạn tận, năm quyền thoát ra khỏi quán buông bỏ; từ quán đoạn tận, nhờ quán suy giảm, năm quyền thoát ra khỏi quán đoạn tận; từ quán suy giảm, nhờ quán biến hoại, năm quyền thoát ra khỏi quán suy giảm; từ quán biến hoại, nhờ quán vô tướng, năm quyền thoát ra khỏi quán biến hoại; từ quán vô tướng, nhờ quán vô nguyện, năm quyền thoát ra khỏi quán vô tướng; từ quán vô nguyện, nhờ quán tính không, năm quyền thoát ra khỏi quán vô nguyện; từ quán tính không, nhờ quán minh sát các pháp bằng tuệ cao, năm quyền thoát ra khỏi quán tính không.
từ quán minh sát các pháp bằng tuệ cao, nhờ tuệ thấy biết như thật, năm quyền thoát ra khỏi quán minh sát các pháp bằng tuệ cao; từ tuệ thấy biết như thật, nhờ quán thấy sự nguy hại, năm quyền thoát ra khỏi tuệ thấy biết như thật; từ quán thấy sự nguy hại, nhờ quán nhìn xét lại, năm quyền thoát ra khỏi quán thấy sự nguy hại; từ quán nhìn xét lại, nhờ quán quay lưng, năm quyền thoát ra khỏi quán nhìn xét lại. từ quán quay lưng, nhờ Đạo Nhập Lưu, năm quyền thoát ra khỏi quán quay lưng; từ Đạo Nhập Lưu, nhờ chứng đắc Quả Nhập Lưu, năm quyền thoát ra khỏi Đạo Nhập Lưu; từ chứng đắc Quả Nhập Lưu, nhờ Đạo Nhất Lai, năm quyền thoát ra khỏi chứng đắc Quả Nhập Lưu; từ Đạo Nhất Lai, nhờ chứng đắc Quả Nhất Lai, năm quyền thoát ra khỏi Đạo Nhất Lai; từ chứng đắc Quả Nhất Lai, nhờ Đạo Bất Lai, năm quyền thoát ra khỏi chứng đắc Quả Nhất Lai; từ Đạo Bất Lai, nhờ chứng đắc Quả Bất Lai, năm quyền thoát ra khỏi Đạo Bất Lai; từ chứng đắc Quả Bất Lai, nhờ Đạo A-la-hán, năm quyền thoát ra khỏi chứng đắc Quả Bất Lai; từ Đạo A-la-hán, nhờ chứng đắc Quả A-la-hán, năm quyền thoát ra khỏi Đạo A-la-hán.
khi có sự từ bỏ, xuất ly, năm quyền thoát ra khỏi dục tham; khi có vô sân, năm quyền thoát ra khỏi sân hận; khi có tưởng ánh sáng, năm quyền thoát ra khỏi hôn trầm và thụy miên; khi có sự không tán loạn, năm quyền thoát ra khỏi sự bồn chồn; khi có sự phân định rõ các pháp, năm quyền thoát ra khỏi hoài nghi; khi có trí, năm quyền thoát ra khỏi vô minh; khi có niềm hoan hỷ, năm quyền thoát ra khỏi sự không hoan hỷ. ở thiền thứ nhất, năm quyền thoát ra khỏi các triền cái; ở thiền thứ hai, năm quyền thoát ra khỏi tầm và tứ; ở thiền thứ ba, năm quyền thoát ra khỏi hỷ; ở thiền thứ tư, năm quyền thoát ra khỏi lạc và khổ; ở chứng đắc Không Vô Biên Xứ, năm quyền thoát ra khỏi tưởng về sắc, tưởng về sự chạm đối và tưởng về nhiều thứ khác nhau; ở chứng đắc Thức Vô Biên Xứ, năm quyền thoát ra khỏi tưởng Không Vô Biên Xứ; ở chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ, năm quyền thoát ra khỏi tưởng Thức Vô Biên Xứ; ở chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, năm quyền thoát ra khỏi tưởng Vô Sở Hữu Xứ.
khi quán vô thường, năm quyền thoát ra khỏi tưởng là thường còn; khi quán khổ, năm quyền thoát ra khỏi tưởng là lạc; khi quán vô ngã, năm quyền thoát ra khỏi tưởng có ngã; khi quán nhàm chán, năm quyền thoát ra khỏi sự vui thích; khi quán ly tham, năm quyền thoát ra khỏi tham ái; khi quán sự diệt, năm quyền thoát ra khỏi sự sinh khởi; khi quán buông bỏ, năm quyền thoát ra khỏi sự nắm giữ; khi quán đoạn tận, năm quyền thoát ra khỏi tưởng về một khối đặc; khi quán suy giảm, năm quyền thoát ra khỏi sự tích lũy; khi quán biến hoại, năm quyền thoát ra khỏi tưởng là bền vững; khi quán vô tướng, năm quyền thoát ra khỏi các tướng; khi quán vô nguyện, năm quyền thoát ra khỏi sự hướng cầu; khi quán tính không, năm quyền thoát ra khỏi sự bám víu.
khi quán minh sát các pháp bằng tuệ cao, năm quyền thoát ra khỏi sự bám víu cho rằng có cốt lõi để nắm lấy; khi có tuệ thấy biết như thật, năm quyền thoát ra khỏi sự bám víu do mê mờ; khi quán thấy sự nguy hại, năm quyền thoát ra khỏi sự bám víu vào chỗ nương tựa; khi quán nhìn xét lại, năm quyền thoát ra khỏi sự không nhìn xét lại; khi quán quay lưng, năm quyền thoát ra khỏi sự bám víu vào các trói buộc. Ở Đạo Nhập Lưu, năm quyền thoát ra khỏi các phiền não thuộc phần tà kiến; ở Đạo Nhất Lai, thoát ra khỏi các phiền não thô thiển; ở Đạo Bất Lai, thoát ra khỏi các phiền não vi tế đi kèm; ở Đạo A-la-hán, thoát ra khỏi mọi phiền não; và đối với tất cả các bậc đã dứt hết lậu hoặc, ở từng nơi, năm quyền đều đã thoát ra, đã thoát ra trọn vẹn, đã lắng yên, đã lắng yên trọn vẹn.
Theo một trăm tám mươi cách này có sự xuất ly của năm quyền; theo một trăm tám mươi cách này biết rõ sự xuất ly của năm quyền. Hết phần giải thích bài kinh thứ 2. Hết phần tụng đọc thứ nhất.
1.4.3. Giải Thích Bài Kinh Thứ Ba
Duyên khởi ở thành Xá-vệ. “Này các Tỷ-kheo, có năm quyền này. Năm quyền ấy là gì? Tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền. Và này các Tỷ-kheo, tín quyền nên được thấy ở đâu? Trong bốn yếu tố của bậc Nhập Lưu — ở đó tín quyền nên được thấy. Và này các Tỷ-kheo, tấn quyền nên được thấy ở đâu? Trong bốn chánh cần — ở đó tấn quyền nên được thấy. Và này các Tỷ-kheo, niệm quyền nên được thấy ở đâu? Trong bốn Niệm Xứ — ở đó niệm quyền nên được thấy. Và này các Tỷ-kheo, định quyền nên được thấy ở đâu? Trong bốn tầng thiền — ở đó định quyền nên được thấy. Và này các Tỷ-kheo, tuệ quyền nên được thấy ở đâu? Trong bốn sự thật cao quý — ở đó tuệ quyền nên được thấy”.
Trong bốn yếu tố của bậc Nhập Lưu, nương vào tín quyền, năm quyền nên được thấy theo bao nhiêu cách? Trong bốn chánh cần, nương vào tấn quyền, năm quyền nên được thấy theo bao nhiêu cách? Trong bốn Niệm Xứ, nương vào niệm quyền, năm quyền nên được thấy theo bao nhiêu cách? Trong bốn tầng thiền, nương vào định quyền, năm quyền nên được thấy theo bao nhiêu cách? Trong bốn sự thật cao quý, nương vào tuệ quyền, năm quyền nên được thấy theo bao nhiêu cách? Trong bốn yếu tố của bậc Nhập Lưu, nương vào tín quyền, năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách. Trong bốn chánh cần, nương vào tấn quyền, năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách. Trong bốn Niệm Xứ, nương vào niệm quyền, năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách.
Trong bốn tầng thiền, nương vào định quyền, năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách. Trong bốn sự thật cao quý, nương vào tuệ quyền, năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách.
1.4.3.1. Giải Thích Về Số Lượng Phân Loại
Trong bốn yếu tố của bậc Nhập Lưu, nương vào tín quyền, năm quyền nên được thấy theo những cách nào, theo hai mươi cách? Trong yếu tố Nhập Lưu là sự gần gũi bậc chân nhân, tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là xác quyết; nương vào tín quyền, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ. Trong yếu tố Nhập Lưu là sự nghe chánh Pháp, tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là xác quyết; nương vào tín quyền, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ.
Trong yếu tố Nhập Lưu là sự tác ý khéo léo, tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là xác quyết; nương vào tín quyền, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ. Trong yếu tố Nhập Lưu là sự thực hành đúng theo Pháp, tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là xác quyết; nương vào tín quyền, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ. Trong bốn yếu tố của bậc Nhập Lưu, nương vào tín quyền, năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách này. Trong bốn chánh cần, nương vào tấn quyền, năm quyền nên được thấy theo những cách nào, theo hai mươi cách?
Trong chánh cần là việc ngăn không cho các pháp xấu ác, bất thiện chưa sinh được sinh khởi, tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là ráng sức; nương vào tấn quyền, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, tín quyền theo ý nghĩa xác quyết. Trong chánh cần là việc dứt bỏ các pháp xấu ác, bất thiện đã sinh, tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là ráng sức; nương vào tấn quyền, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, tín quyền theo ý nghĩa xác quyết. Trong chánh cần là việc làm sinh khởi các pháp thiện chưa sinh, tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là ráng sức; nương vào tấn quyền, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, tín quyền theo ý nghĩa xác quyết.
Trong chánh cần là việc làm cho các pháp thiện đã sinh được đứng vững, không mờ lẫn, ngày càng thêm, rộng lớn, được tu tập và đầy đủ, tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là ráng sức; nương vào tấn quyền, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, tín quyền theo ý nghĩa xác quyết. Trong bốn chánh cần, nương vào tấn quyền, năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách này. Trong bốn Niệm Xứ, nương vào niệm quyền, năm quyền nên được thấy theo những cách nào, theo hai mươi cách? Trong Niệm Xứ quán thân trên thân, niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là đặt vững; nương vào niệm quyền, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức.
Trong Niệm Xứ quán thọ trên các thọ, niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là đặt vững; nương vào niệm quyền, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức. Trong Niệm Xứ quán tâm trên tâm, niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là đặt vững; nương vào niệm quyền, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức. Trong Niệm Xứ quán pháp trên các pháp, niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là đặt vững; nương vào niệm quyền, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức.
Trong bốn Niệm Xứ, nương vào niệm quyền, năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách này. Trong bốn tầng thiền, nương vào định quyền, năm quyền nên được thấy theo những cách nào, theo hai mươi cách? Trong thiền thứ nhất, định quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là không tán loạn; nương vào định quyền, tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững. Trong thiền thứ hai, định quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là không tán loạn; nương vào định quyền, tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững.
Trong thiền thứ ba, định quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là không tán loạn; nương vào định quyền, tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững. Trong thiền thứ tư, định quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là không tán loạn; nương vào định quyền, tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững. Trong bốn tầng thiền, nương vào định quyền, năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách này. Trong bốn sự thật cao quý, nương vào tuệ quyền, năm quyền nên được thấy theo những cách nào, theo hai mươi cách?
Trong sự thật cao quý về khổ, tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là thấy rõ; nương vào tuệ quyền, tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn. Trong sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ, tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là thấy rõ; nương vào tuệ quyền, tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn. Trong sự thật cao quý về sự diệt khổ, tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là thấy rõ; nương vào tuệ quyền, tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn.
Trong sự thật cao quý về con đường đưa đến sự diệt khổ, tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là thấy rõ; nương vào tuệ quyền, tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn. Trong bốn sự thật cao quý, nương vào tuệ quyền, năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách này.
1.4.3.2. Phần Về Hành Trình
Trong bốn yếu tố của bậc Nhập Lưu, nương vào tín quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo bao nhiêu cách? Trong bốn chánh cần, nương vào tấn quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo bao nhiêu cách? Trong bốn Niệm Xứ, nương vào niệm quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo bao nhiêu cách? Trong bốn tầng thiền, nương vào định quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo bao nhiêu cách? Trong bốn sự thật cao quý, nương vào tuệ quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo bao nhiêu cách? Trong bốn yếu tố của bậc Nhập Lưu, nương vào tín quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách. Trong bốn chánh cần, nương vào tấn quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách.
Trong bốn Niệm Xứ, nương vào niệm quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách. Trong bốn tầng thiền, nương vào định quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách. Trong bốn sự thật cao quý, nương vào tuệ quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách. Trong bốn yếu tố của bậc Nhập Lưu, nương vào tín quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo những cách nào, theo hai mươi cách? Trong yếu tố Nhập Lưu là sự gần gũi bậc chân nhân, hành trình của tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là xác quyết; nương vào tín quyền, hành trình của tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, hành trình của niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, hành trình của định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, hành trình của tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ.
Trong yếu tố Nhập Lưu là sự nghe chánh Pháp, hành trình của tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là xác quyết; nương vào tín quyền, hành trình của tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, hành trình của niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, hành trình của định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, hành trình của tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ. Trong yếu tố Nhập Lưu là sự tác ý khéo léo, hành trình của tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là xác quyết; nương vào tín quyền, hành trình của tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, hành trình của niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, hành trình của định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, hành trình của tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ.
Trong yếu tố Nhập Lưu là sự thực hành đúng theo Pháp, hành trình của tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là xác quyết; nương vào tín quyền, hành trình của tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, hành trình của niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, hành trình của định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, hành trình của tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ. Trong bốn yếu tố của bậc Nhập Lưu, nương vào tín quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách này. Trong bốn chánh cần, nương vào tấn quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo những cách nào, theo hai mươi cách? Trong chánh cần là việc ngăn không cho các pháp xấu ác, bất thiện chưa sinh được sinh khởi, hành trình của tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là ráng sức; nương vào tấn quyền, hành trình của niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, hành trình của định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, hành trình của tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, hành trình của tín quyền theo ý nghĩa xác quyết.
Trong chánh cần là việc dứt bỏ các pháp xấu ác, bất thiện đã sinh, hành trình của tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là ráng sức; nương vào tấn quyền, hành trình của niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, hành trình của định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, hành trình của tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, hành trình của tín quyền theo ý nghĩa xác quyết. Trong chánh cần là việc làm sinh khởi các pháp thiện chưa sinh, hành trình của tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là ráng sức; nương vào tấn quyền, hành trình của niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, hành trình của định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, hành trình của tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, hành trình của tín quyền theo ý nghĩa xác quyết.
Trong chánh cần là việc làm cho các pháp thiện đã sinh được đứng vững, không mờ lẫn, ngày càng thêm, rộng lớn, được tu tập và đầy đủ, hành trình của tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là ráng sức; nương vào tấn quyền, hành trình của niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, hành trình của định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, hành trình của tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, hành trình của tín quyền theo ý nghĩa xác quyết. Trong bốn chánh cần, nương vào tấn quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách này. Trong bốn Niệm Xứ, nương vào niệm quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo những cách nào, theo hai mươi cách?
Trong Niệm Xứ quán thân trên thân, hành trình của niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là đặt vững; nương vào niệm quyền, hành trình của định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, hành trình của tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, hành trình của tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, hành trình của tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức. Trong Niệm Xứ quán thọ trên các thọ, hành trình của niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là đặt vững; nương vào niệm quyền, hành trình của định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, hành trình của tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, hành trình của tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, hành trình của tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức.
Trong Niệm Xứ quán tâm trên tâm, hành trình của niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là đặt vững; nương vào niệm quyền, hành trình của định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, hành trình của tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, hành trình của tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, hành trình của tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức. Trong Niệm Xứ quán pháp trên các pháp, hành trình của niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là đặt vững; nương vào niệm quyền, hành trình của định quyền theo ý nghĩa không tán loạn, hành trình của tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, hành trình của tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, hành trình của tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức.
Trong bốn Niệm Xứ, nương vào niệm quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách này. Trong bốn tầng thiền, nương vào định quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo những cách nào, theo hai mươi cách? Trong thiền thứ nhất, hành trình của định quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là không tán loạn; nương vào định quyền, hành trình của tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, hành trình của tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, hành trình của tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, hành trình của niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững. Trong thiền thứ hai, hành trình của định quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là không tán loạn; nương vào định quyền, hành trình của tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, hành trình của tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, hành trình của tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, hành trình của niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững.
Trong thiền thứ ba, hành trình của định quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là không tán loạn; nương vào định quyền, hành trình của tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, hành trình của tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, hành trình của tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, hành trình của niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững. Trong thiền thứ tư, hành trình của định quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là không tán loạn; nương vào định quyền, hành trình của tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ, hành trình của tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, hành trình của tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, hành trình của niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững. Trong bốn tầng thiền, nương vào định quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách này.
Trong bốn sự thật cao quý, nương vào tuệ quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo những cách nào, theo hai mươi cách? Trong sự thật cao quý về khổ, hành trình của tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là thấy rõ; nương vào tuệ quyền, hành trình của tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, hành trình của tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, hành trình của niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, hành trình của định quyền theo ý nghĩa không tán loạn. Trong sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ, hành trình của tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là thấy rõ; nương vào tuệ quyền, hành trình của tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, hành trình của tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, hành trình của niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, hành trình của định quyền theo ý nghĩa không tán loạn.
Trong sự thật cao quý về sự diệt khổ, hành trình của tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là thấy rõ; nương vào tuệ quyền, hành trình của tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, hành trình của tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, hành trình của niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, hành trình của định quyền theo ý nghĩa không tán loạn. Trong sự thật cao quý về con đường đưa đến sự diệt khổ, hành trình của tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ là thấy rõ; nương vào tuệ quyền, hành trình của tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, hành trình của tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, hành trình của niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, hành trình của định quyền theo ý nghĩa không tán loạn.
Trong bốn sự thật cao quý, nương vào tuệ quyền, hành trình của năm quyền nên được thấy theo hai mươi cách này.
1.4.3.3. Giải Thích Về Sự Đi Và Sự Ở
“Sự đi” và “sự ở” được hiểu theo và được thấu triệt: một người đi như thế nào, ở như thế nào, thì các bạn đồng phạm hạnh có trí sẽ tin tưởng người ấy trong những chỗ sâu xa — “chắc chắn, vị này đã đạt đến, hoặc sẽ đạt đến.” “Hành trình” là tám loại hành trình — hành trình oai nghi, hành trình các xứ, hành trình niệm, hành trình định, hành trình trí, hành trình đạo, hành trình chứng đạt, hành trình lợi ích cho đời. “Hành trình oai nghi” là ở trong bốn oai nghi. “Hành trình các xứ” là ở trong sáu xứ bên trong và sáu xứ bên ngoài. “Hành trình niệm” là ở trong bốn Niệm Xứ. “Hành trình định” là ở trong bốn tầng thiền. “Hành trình trí” là ở trong bốn sự thật cao quý.
“Hành trình đạo” là ở trong bốn Đạo thánh. “Hành trình chứng đạt” là ở trong bốn quả Sa-môn. “Hành trình lợi ích cho đời” là ở nơi các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; một phần ở nơi các Đức Phật Độc Giác; một phần ở nơi các đệ tử. Hành trình oai nghi là của những người đầy đủ về sự hướng nguyện; hành trình các xứ là của những người canh giữ các cửa căn; hành trình niệm là của những người sống không dễ duôi; hành trình định là của những người chuyên tâm vào tâm cao hơn; hành trình trí là của những người đầy đủ trí; hành trình đạo là của những người thực hành đúng đắn; hành trình chứng đạt là của những người đã đạt quả; hành trình lợi ích cho đời là của các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, một phần của các Đức Phật Độc Giác, một phần của các đệ tử.
Đó là tám loại hành trình. Lại có tám loại hành trình khác. Khi đang xác quyết thì đi bằng tín; khi đang ráng sức thì đi bằng tấn; khi đang đặt vững thì đi bằng niệm; khi đang làm cho không tán loạn thì đi bằng định; khi đang hiểu rõ thì đi bằng tuệ; khi đang nhận biết thì đi bằng hành trình của thức; người thực hành như vậy thì các pháp thiện tăng trưởng — người ấy đi bằng hành trình các xứ; người thực hành như vậy thì đạt được điều hơn hẳn — người ấy đi bằng hành trình đặc biệt — đó là tám loại hành trình. Lại có tám loại hành trình khác. Hành trình thấy rõ là của chánh kiến; hành trình hướng tâm đặt vào đối tượng là của chánh tư duy; hành trình gìn giữ là của chánh ngữ; hành trình làm phát sinh là của chánh nghiệp; hành trình làm trong sạch là của chánh mạng; hành trình ráng sức là của chánh tinh tấn; hành trình đặt vững là của chánh niệm; hành trình không tán loạn là của chánh định — đó là tám loại hành trình.
“Sự ở” là: khi đang xác quyết thì ở bằng tín; khi đang ráng sức thì ở bằng tấn; khi đang đặt vững thì ở bằng niệm; khi đang làm cho không tán loạn thì ở bằng định; khi đang hiểu rõ thì ở bằng tuệ. “Được hiểu theo” là: ý nghĩa xác quyết của tín quyền được hiểu theo; ý nghĩa ráng sức của tấn quyền được hiểu theo; ý nghĩa đặt vững của niệm quyền được hiểu theo; ý nghĩa không tán loạn của định quyền được hiểu theo; ý nghĩa thấy rõ của tuệ quyền được hiểu theo. “Được thấu triệt” là: ý nghĩa xác quyết của tín quyền được thấu triệt; ý nghĩa ráng sức của tấn quyền được thấu triệt; ý nghĩa đặt vững của niệm quyền được thấu triệt; ý nghĩa không tán loạn của định quyền được thấu triệt; ý nghĩa thấy rõ của tuệ quyền được thấu triệt.
“Đi như thế nào” là: đi bằng tín như vậy; đi bằng tấn như vậy; đi bằng niệm như vậy; đi bằng định như vậy; đi bằng tuệ như vậy. “Ở như thế nào” là: ở bằng tín như vậy; ở bằng tấn như vậy; ở bằng niệm như vậy; ở bằng định như vậy; ở bằng tuệ như vậy. “Người có trí” là: người hiểu biết, người phân biệt rõ, người sáng suốt, bậc hiền trí, người đầy đủ trí tuệ. “Bạn đồng phạm hạnh” là: cùng một công việc, cùng một lời tuyên đọc, cùng một nếp học tập trong giới luật. “Những chỗ sâu xa” là: những chỗ sâu xa được gọi là các tầng thiền, các giải thoát, các định, các chứng đắc, các Đạo, các Quả, các thắng trí và các phân tích. “Sẽ tin tưởng” là: sẽ có lòng tin, sẽ xác quyết.
“Chắc chắn” là: lời nói dứt khoát, lời nói không nghi ngờ, lời nói không do dự, lời nói không hai nghĩa, lời nói không ngập ngừng, lời nói dứt điểm, lời nói không thể sai lạc, lời nói không lay chuyển — đó là “chắc chắn”. “Vị” (āyasmā) là: cách gọi thân thương, cách gọi kính trọng, cách gọi có sự tôn kính và vâng theo — đó là “vị”. “Đã đạt đến” là: đã chứng đạt. “Sẽ đạt đến” là: sẽ chứng đạt. Hết phần giải thích bài kinh thứ 3.
1.4.4. Giải Thích Bài Kinh Thứ Tư
Duyên khởi ở thành Xá-vệ. “Này các Tỷ-kheo, có năm quyền này. Năm quyền ấy là gì? Tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền — này các Tỷ-kheo, đó là năm quyền.” Năm quyền này nên được thấy theo bao nhiêu cách, theo ý nghĩa gì? Năm quyền này nên được thấy theo sáu cách, theo ý nghĩa này — theo ý nghĩa làm chủ, theo ý nghĩa làm trong sạch ở bước đầu, theo ý nghĩa trội vượt, theo ý nghĩa đứng vững, theo ý nghĩa làm cạn hết, theo ý nghĩa đặt vững.”
1.4.4.1. Giảng Về Ý Nghĩa Làm Chủ
Các quyền nên được thấy như thế nào theo ý nghĩa làm chủ? Khi dứt bỏ sự thiếu lòng tin: tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự xác quyết; nương theo tín quyền, tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức; niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững; định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn; tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ. Khi dứt bỏ sự lười biếng: tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự ráng sức; nương theo tấn quyền, niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững; định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn; tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ; tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết.
Khi dứt bỏ sự dễ duôi buông thả: niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự đặt vững; nương theo niệm quyền, định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn; tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ; tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết; tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức. Khi dứt bỏ sự bồn chồn: định quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự không tán loạn; nương theo định quyền, tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ; tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết; tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức; niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững. Khi dứt bỏ vô minh: tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự thấy rõ; nương theo tuệ quyền, tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết; tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức; niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững; định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn.
Khi dứt bỏ tham dục, nương theo sự xuất ly: tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự xác quyết; nương theo tín quyền, tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức; niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững; định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn; tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ. Khi dứt bỏ tham dục, nương theo sự xuất ly: tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự ráng sức; nương theo tấn quyền, niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững; định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn; tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ; tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết. Khi dứt bỏ tham dục, nương theo sự xuất ly: niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự đặt vững; nương theo niệm quyền, định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn; tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ; tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết; tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức.
Khi dứt bỏ tham dục, nương theo sự xuất ly: định quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự không tán loạn; nương theo định quyền, tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ; tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết; tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức; niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững. Khi dứt bỏ tham dục, nương theo sự xuất ly: tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự thấy rõ; nương theo tuệ quyền, tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết; tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức; niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững; định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn. Khi dứt bỏ sân hận, nương theo vô sân: tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự xác quyết; nương theo tín quyền, tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức; niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững; định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn; tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ. Khi dứt bỏ sân hận, nương theo vô sân: tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự ráng sức; nương theo tấn quyền, niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững; định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn; tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ; tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết. Khi dứt bỏ sân hận, nương theo vô sân: niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự đặt vững; nương theo niệm quyền, định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn; tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ; tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết; tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức. Khi dứt bỏ sân hận, nương theo vô sân: định quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự không tán loạn; nương theo định quyền, tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ; tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết; tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức; niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững. Khi dứt bỏ sân hận, nương theo vô sân: tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự thấy rõ; nương theo tuệ quyền, tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết; tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức; niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững; định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn.
Khi dứt bỏ hôn trầm thụy miên, nương theo tưởng ánh sáng: tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự xác quyết; nương theo tín quyền, tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức; niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững; định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn; tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ. Khi dứt bỏ hôn trầm thụy miên, nương theo tưởng ánh sáng: tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự ráng sức; nương theo tấn quyền, niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững; định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn; tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ; tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết. Khi dứt bỏ hôn trầm thụy miên, nương theo tưởng ánh sáng: niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự đặt vững; nương theo niệm quyền, định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn; tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ; tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết; tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức. Khi dứt bỏ hôn trầm thụy miên, nương theo tưởng ánh sáng: định quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự không tán loạn; nương theo định quyền, tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ; tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết; tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức; niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững. Khi dứt bỏ hôn trầm thụy miên, nương theo tưởng ánh sáng: tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự thấy rõ; nương theo tuệ quyền, tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết; tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức; niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững; định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn.
Khi dứt bỏ mọi phiền não, nương theo Đạo A-la-hán: tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự xác quyết; nương theo tín quyền, tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức; niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững; định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn; tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ. Khi dứt bỏ mọi phiền não, nương theo Đạo A-la-hán: tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự ráng sức; nương theo tấn quyền, niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững; định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn; tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ; tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết. Khi dứt bỏ mọi phiền não, nương theo Đạo A-la-hán: niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự đặt vững; nương theo niệm quyền, định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn; tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ; tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết; tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức. Khi dứt bỏ mọi phiền não, nương theo Đạo A-la-hán: định quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự không tán loạn; nương theo định quyền, tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa thấy rõ; tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết; tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức; niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững.
Khi dứt bỏ mọi phiền não, nương theo Đạo A-la-hán: tuệ quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ bằng sự thấy rõ; nương theo tuệ quyền, tín quyền nên được thấy theo ý nghĩa xác quyết; tấn quyền nên được thấy theo ý nghĩa ráng sức; niệm quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững; định quyền nên được thấy theo ý nghĩa không tán loạn. Như vậy, các quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm chủ.
1.4.4.2. Giảng Về Ý Nghĩa Làm Trong Sạch Ở Bước Đầu
Các quyền nên được thấy như thế nào theo ý nghĩa làm trong sạch ở bước đầu? Tín quyền theo ý nghĩa xác quyết; sự trong sạch của giới theo ý nghĩa chế ngự sự thiếu lòng tin — là sự làm trong sạch ở bước đầu của tín quyền. Tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức; sự trong sạch của giới theo ý nghĩa chế ngự sự lười biếng — là sự làm trong sạch ở bước đầu của tấn quyền. Niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững; sự trong sạch của giới theo ý nghĩa chế ngự sự dễ duôi buông thả — là sự làm trong sạch ở bước đầu của niệm quyền. Định quyền theo ý nghĩa không tán loạn; sự trong sạch của giới theo ý nghĩa chế ngự sự bồn chồn — là sự làm trong sạch ở bước đầu của định quyền.
Tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ; sự trong sạch của giới theo ý nghĩa chế ngự vô minh — là sự làm trong sạch ở bước đầu của tuệ quyền. Trong sự xuất ly có năm quyền; sự trong sạch của giới theo ý nghĩa chế ngự tham dục — là sự làm trong sạch ở bước đầu của năm quyền. Trong vô sân có năm quyền; sự trong sạch của giới theo ý nghĩa chế ngự sân hận — Trong tưởng ánh sáng có năm quyền; sự trong sạch của giới theo ý nghĩa chế ngự hôn trầm thụy miên — là sự làm trong sạch ở bước đầu của năm quyền. Trong sự không tán loạn có năm quyền; sự trong sạch của giới theo ý nghĩa chế ngự sự bồn chồn — là sự làm trong sạch ở bước đầu của năm quyền. Trong sự phân định các pháp có năm quyền; sự trong sạch của giới theo ý nghĩa chế ngự sự nghi ngờ — là sự làm trong sạch ở bước đầu của năm quyền. Trong trí có năm quyền; sự trong sạch của giới theo ý nghĩa chế ngự vô minh — là sự làm trong sạch ở bước đầu của năm quyền. Trong niềm hoan hỷ có năm quyền; sự trong sạch của giới theo ý nghĩa chế ngự sự không hoan hỷ — là sự làm trong sạch ở bước đầu của năm quyền.
Trong Đạo A-la-hán có năm quyền; sự trong sạch của giới theo ý nghĩa chế ngự mọi phiền não — là sự làm trong sạch ở bước đầu của năm quyền. Như vậy, các quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm trong sạch ở bước đầu.
1.4.4.3. Giảng Về Ý Nghĩa Trội Vượt
Các quyền nên được thấy như thế nào theo ý nghĩa trội vượt? Để tu tập tín quyền, ước muốn sinh lên — Nương theo ước muốn, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Nương theo ước muốn, niềm hoan hỷ sinh lên — Nương theo hoan hỷ, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Nương theo hoan hỷ, hỷ sinh lên — Nương theo hỷ, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Nương theo hỷ, khinh an sinh lên — Nương theo khinh an, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Nương theo khinh an, lạc sinh lên — Nương theo lạc, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Nương theo lạc, ánh sáng sinh lên — Nương theo ánh sáng, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt.
Nương theo ánh sáng, sự chấn động sinh lên — Nương theo chấn động, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Sau khi chấn động, (người tu) làm cho tâm an định — Nương theo định, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Tâm đã an định như vậy thì khéo ráng sức — Nương theo ráng sức, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Tâm đã ráng sức như vậy thì khéo nhìn bằng tâm xả — Nương theo xả, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Nương theo xả, tâm giải thoát khỏi các phiền não khác nhau — Nương theo giải thoát, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Vì đã giải thoát, các pháp ấy trở thành một vị — Theo ý nghĩa một vị, nương theo sự tu tập, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt.
Vì đã được tu tập, từ đó (các pháp) quay sang những gì tinh tế hơn — Nương theo sự quay lưng, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Vì đã quay lưng, từ đó buông xuống — Nương theo sự buông xuống, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Vì đã buông xuống, từ đó chúng diệt mất — Nương theo sự diệt, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Nương theo sự diệt, có hai sự buông xuống — buông xuống bằng cách từ bỏ hẳn, và buông xuống bằng cách nhảy vào. Vị ấy từ bỏ hẳn các phiền não và các uẩn — đó là buông xuống bằng cách từ bỏ hẳn. Tâm nhảy vào cảnh giới Niết-bàn là sự diệt — đó là buông xuống bằng cách nhảy vào. Nương theo sự diệt, có hai sự buông xuống này.
Để dứt bỏ sự thiếu lòng tin, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ cơn nóng bức do sự thiếu lòng tin, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ các phiền não thuộc phần tà kiến, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ các phiền não thô, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ các phiền não vi tế đi kèm, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ mọi phiền não, ước muốn sinh lên. Nương theo ước muốn, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Nương theo ước muốn, niềm hoan hỷ sinh lên — Nương theo hoan hỷ, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Nương theo hoan hỷ, hỷ sinh lên — Nương theo hỷ, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Nương theo hỷ, khinh an sinh lên — Nương theo khinh an, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Nương theo khinh an, lạc sinh lên — Nương theo lạc, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Nương theo lạc, ánh sáng sinh lên — Nương theo ánh sáng, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Nương theo ánh sáng, sự chấn động sinh lên — Nương theo chấn động, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Sau khi chấn động, (người tu) làm cho tâm an định — Nương theo định, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Tâm đã an định như vậy thì khéo ráng sức — Nương theo ráng sức, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Tâm đã ráng sức như vậy thì khéo nhìn bằng tâm xả — Nương theo xả, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Nương theo xả, tâm giải thoát khỏi các phiền não khác nhau — Nương theo giải thoát, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Vì đã giải thoát, các pháp ấy trở thành một vị — Theo ý nghĩa một vị, nương theo sự tu tập, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Vì đã được tu tập, từ đó (các pháp) quay sang những gì tinh tế hơn — Nương theo sự quay lưng, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Vì đã quay lưng, từ đó buông xuống — Nương theo sự buông xuống, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt. Vì đã buông xuống, từ đó chúng diệt mất — Nương theo sự diệt, nương theo tín, tín quyền trở nên trội vượt.
Để tu tập tấn quyền, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ sự lười biếng, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ cơn nóng bức do sự lười biếng, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ các phiền não thuộc phần tà kiến, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ các phiền não thô, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ các phiền não vi tế đi kèm, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ mọi phiền não, ước muốn sinh lên. Nương theo ước muốn, nương theo tấn, tấn quyền trở nên trội vượt. Nương theo ước muốn, niềm hoan hỷ sinh lên — Nương theo hoan hỷ, nương theo tấn, tấn quyền trở nên trội vượt. Nương theo hoan hỷ, hỷ sinh lên — Nương theo hỷ, nương theo tấn, tấn quyền trở nên trội vượt. Nương theo hỷ, khinh an sinh lên — Nương theo khinh an, nương theo tấn, tấn quyền trở nên trội vượt. Nương theo khinh an, lạc sinh lên — Nương theo lạc, nương theo tấn, tấn quyền trở nên trội vượt. Nương theo lạc, ánh sáng sinh lên — Nương theo ánh sáng, nương theo tấn, tấn quyền trở nên trội vượt. Nương theo ánh sáng, sự chấn động sinh lên — Nương theo chấn động, nương theo tấn, tấn quyền trở nên trội vượt. Sau khi chấn động, (người tu) làm cho tâm an định — Nương theo định, nương theo tấn, tấn quyền trở nên trội vượt. Tâm đã an định như vậy thì khéo ráng sức — Nương theo ráng sức, nương theo tấn, tấn quyền trở nên trội vượt. Tâm đã ráng sức như vậy thì khéo nhìn bằng tâm xả — Nương theo xả, nương theo tấn, tấn quyền trở nên trội vượt. Nương theo xả, tâm giải thoát khỏi các phiền não khác nhau — Nương theo giải thoát, nương theo tấn, tấn quyền trở nên trội vượt. Vì đã giải thoát, các pháp ấy trở thành một vị — Theo ý nghĩa một vị, nương theo sự tu tập, nương theo tấn, tấn quyền trở nên trội vượt. Vì đã được tu tập, từ đó (các pháp) quay sang những gì tinh tế hơn — Nương theo sự quay lưng, nương theo tấn, tấn quyền trở nên trội vượt. Vì đã quay lưng, từ đó buông xuống — Nương theo sự buông xuống, nương theo tấn, tấn quyền trở nên trội vượt. Vì đã buông xuống, từ đó chúng diệt mất — Nương theo sự diệt, nương theo tấn, tấn quyền trở nên trội vượt.
Để tu tập niệm quyền, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ sự dễ duôi buông thả, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ cơn nóng bức do sự dễ duôi buông thả, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ các phiền não thuộc phần tà kiến, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ các phiền não thô, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ các phiền não vi tế đi kèm, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ mọi phiền não, ước muốn sinh lên. Nương theo ước muốn, nương theo niệm, niệm quyền trở nên trội vượt. Nương theo ước muốn, niềm hoan hỷ sinh lên — Nương theo hoan hỷ, nương theo niệm, niệm quyền trở nên trội vượt. Nương theo hoan hỷ, hỷ sinh lên — Nương theo hỷ, nương theo niệm, niệm quyền trở nên trội vượt. Nương theo hỷ, khinh an sinh lên — Nương theo khinh an, nương theo niệm, niệm quyền trở nên trội vượt. Nương theo khinh an, lạc sinh lên — Nương theo lạc, nương theo niệm, niệm quyền trở nên trội vượt. Nương theo lạc, ánh sáng sinh lên — Nương theo ánh sáng, nương theo niệm, niệm quyền trở nên trội vượt. Nương theo ánh sáng, sự chấn động sinh lên — Nương theo chấn động, nương theo niệm, niệm quyền trở nên trội vượt. Sau khi chấn động, (người tu) làm cho tâm an định — Nương theo định, nương theo niệm, niệm quyền trở nên trội vượt. Tâm đã an định như vậy thì khéo ráng sức — Nương theo ráng sức, nương theo niệm, niệm quyền trở nên trội vượt. Tâm đã ráng sức như vậy thì khéo nhìn bằng tâm xả — Nương theo xả, nương theo niệm, niệm quyền trở nên trội vượt. Nương theo xả, tâm giải thoát khỏi các phiền não khác nhau — Nương theo giải thoát, nương theo niệm, niệm quyền trở nên trội vượt. Vì đã giải thoát, các pháp ấy trở thành một vị — Theo ý nghĩa một vị, nương theo sự tu tập, nương theo niệm, niệm quyền trở nên trội vượt. Vì đã được tu tập, từ đó (các pháp) quay sang những gì tinh tế hơn — Nương theo sự quay lưng, nương theo niệm, niệm quyền trở nên trội vượt. Vì đã quay lưng, từ đó buông xuống — Nương theo sự buông xuống, nương theo niệm, niệm quyền trở nên trội vượt. Vì đã buông xuống, từ đó chúng diệt mất — Nương theo sự diệt, nương theo niệm, niệm quyền trở nên trội vượt.
Để tu tập định quyền, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ sự bồn chồn, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ cơn nóng bức do sự bồn chồn, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ các phiền não thuộc phần tà kiến, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ các phiền não thô, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ các phiền não vi tế đi kèm, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ mọi phiền não, ước muốn sinh lên. Nương theo ước muốn, nương theo định, định quyền trở nên trội vượt. Nương theo ước muốn, niềm hoan hỷ sinh lên — Nương theo hoan hỷ, nương theo định, định quyền trở nên trội vượt. Nương theo hoan hỷ, hỷ sinh lên — Nương theo hỷ, nương theo định, định quyền trở nên trội vượt. Nương theo hỷ, khinh an sinh lên — Nương theo khinh an, nương theo định, định quyền trở nên trội vượt. Nương theo khinh an, lạc sinh lên — Nương theo lạc, nương theo định, định quyền trở nên trội vượt. Nương theo lạc, ánh sáng sinh lên — Nương theo ánh sáng, nương theo định, định quyền trở nên trội vượt. Nương theo ánh sáng, sự chấn động sinh lên — Nương theo chấn động, nương theo định, định quyền trở nên trội vượt. Sau khi chấn động, (người tu) làm cho tâm an định — Nương theo định, nương theo định, định quyền trở nên trội vượt. Tâm đã an định như vậy thì khéo ráng sức — Nương theo ráng sức, nương theo định, định quyền trở nên trội vượt. Tâm đã ráng sức như vậy thì khéo nhìn bằng tâm xả — Nương theo xả, nương theo định, định quyền trở nên trội vượt. Nương theo xả, tâm giải thoát khỏi các phiền não khác nhau — Nương theo giải thoát, nương theo định, định quyền trở nên trội vượt. Vì đã giải thoát, các pháp ấy trở thành một vị — Theo ý nghĩa một vị, nương theo sự tu tập, nương theo định, định quyền trở nên trội vượt. Vì đã được tu tập, từ đó (các pháp) quay sang những gì tinh tế hơn — Nương theo sự quay lưng, nương theo định, định quyền trở nên trội vượt. Vì đã quay lưng, từ đó buông xuống — Nương theo sự buông xuống, nương theo định, định quyền trở nên trội vượt. Vì đã buông xuống, từ đó chúng diệt mất — Nương theo sự diệt, nương theo định, định quyền trở nên trội vượt.
Để tu tập tuệ quyền, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ vô minh, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ cơn nóng bức do vô minh, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ các phiền não thuộc phần tà kiến, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ các phiền não thô, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ các phiền não vi tế đi kèm, ước muốn sinh lên. Để dứt bỏ mọi phiền não, ước muốn sinh lên. Nương theo ước muốn, nương theo tuệ, tuệ quyền trở nên trội vượt. Nương theo ước muốn, niềm hoan hỷ sinh lên — Nương theo hoan hỷ, nương theo tuệ, tuệ quyền trở nên trội vượt. Nương theo hoan hỷ, hỷ sinh lên — Nương theo hỷ, nương theo tuệ, tuệ quyền trở nên trội vượt. Nương theo hỷ, khinh an sinh lên — Nương theo khinh an, nương theo tuệ, tuệ quyền trở nên trội vượt.
Nương theo khinh an, lạc sinh lên — Nương theo lạc, nương theo tuệ, tuệ quyền trở nên trội vượt. Nương theo lạc, ánh sáng sinh lên — Nương theo ánh sáng, nương theo tuệ, tuệ quyền trở nên trội vượt. Nương theo ánh sáng, sự chấn động sinh lên — Nương theo chấn động, nương theo tuệ, tuệ quyền trở nên trội vượt. Sau khi chấn động, (người tu) làm cho tâm an định — Nương theo định, nương theo tuệ, tuệ quyền trở nên trội vượt. Tâm đã an định như vậy thì khéo ráng sức — Nương theo ráng sức, nương theo tuệ, tuệ quyền trở nên trội vượt. Tâm đã ráng sức như vậy thì khéo nhìn bằng tâm xả — Nương theo xả, nương theo tuệ, tuệ quyền trở nên trội vượt. Nương theo xả, tâm giải thoát khỏi các phiền não khác nhau — Nương theo giải thoát, nương theo tuệ, tuệ quyền trở nên trội vượt.
Vì đã giải thoát, các pháp ấy trở thành một vị — Theo ý nghĩa một vị, nương theo sự tu tập, nương theo tuệ, tuệ quyền trở nên trội vượt. Vì đã được tu tập, từ đó (các pháp) quay sang những gì tinh tế hơn — Nương theo sự quay lưng, nương theo tuệ, tuệ quyền trở nên trội vượt. Vì đã quay lưng, từ đó buông xuống — Nương theo sự buông xuống, nương theo tuệ, tuệ quyền trở nên trội vượt. Vì đã buông xuống, từ đó chúng diệt mất — Nương theo sự diệt, nương theo tuệ, tuệ quyền trở nên trội vượt. Nương theo sự diệt, có hai sự buông xuống — buông xuống bằng cách từ bỏ hẳn, và buông xuống bằng cách nhảy vào. Vị ấy từ bỏ hẳn các phiền não và các uẩn — đó là buông xuống bằng cách từ bỏ hẳn.
Tâm nhảy vào cảnh giới Niết-bàn là sự diệt — đó là buông xuống bằng cách nhảy vào. Nương theo sự diệt, có hai sự buông xuống này. Như vậy, các quyền nên được thấy theo ý nghĩa trội vượt. Hết phần tụng đọc thứ hai.
1.4.4.4. Giảng Về Ý Nghĩa Đứng Vững
Các quyền nên được thấy như thế nào theo ý nghĩa đứng vững? Để tu tập tín quyền, ước muốn sinh lên — Nương theo ước muốn, nương theo tín, tín quyền đứng vững. Nương theo ước muốn, niềm hoan hỷ sinh lên — Nương theo hoan hỷ, nương theo tín, tín quyền đứng vững. Nương theo hoan hỷ, hỷ sinh lên — Nương theo hỷ, nương theo tín, tín quyền đứng vững. Nương theo hỷ, khinh an sinh lên — Nương theo khinh an, nương theo tín, tín quyền đứng vững. Nương theo khinh an, lạc sinh lên — Nương theo lạc, nương theo tín, tín quyền đứng vững. Nương theo lạc, ánh sáng sinh lên — Nương theo ánh sáng, nương theo tín, tín quyền đứng vững. Nương theo ánh sáng, sự chấn động sinh lên — Nương theo chấn động, nương theo tín, tín quyền đứng vững. Sau khi chấn động, (người tu) làm cho tâm an định — Nương theo định, nương theo tín, tín quyền đứng vững. Tâm đã an định như vậy thì khéo ráng sức — Nương theo ráng sức, nương theo tín, tín quyền đứng vững. Tâm đã ráng sức như vậy thì khéo nhìn bằng tâm xả — Nương theo xả, nương theo tín, tín quyền đứng vững. Nương theo xả, tâm giải thoát khỏi các phiền não khác nhau — Nương theo giải thoát, nương theo tín, tín quyền đứng vững. Vì đã giải thoát, các pháp ấy trở thành một vị — Theo ý nghĩa một vị, nương theo sự tu tập, nương theo tín, tín quyền đứng vững. Vì đã được tu tập, từ đó (các pháp) quay sang những gì tinh tế hơn — Nương theo sự quay lưng, nương theo tín, tín quyền đứng vững. Vì đã quay lưng, từ đó buông xuống — Nương theo sự buông xuống, nương theo tín, tín quyền đứng vững. Vì đã buông xuống, từ đó chúng diệt mất — Nương theo sự diệt, nương theo tín, tín quyền đứng vững.
Như vậy, các quyền nên được thấy theo ý nghĩa đứng vững.
1.4.4.5. Giảng Về Ý Nghĩa Làm Cạn Hết
Các quyền nên được thấy như thế nào theo ý nghĩa làm cạn hết? Theo ý nghĩa xác quyết, tín quyền làm cạn hết sự thiếu lòng tin và cơn nóng bức do sự thiếu lòng tin. Theo ý nghĩa ráng sức, tấn quyền làm cạn hết sự lười biếng và cơn nóng bức do sự lười biếng. Theo ý nghĩa đặt vững, niệm quyền làm cạn hết sự dễ duôi buông thả và cơn nóng bức do sự dễ duôi buông thả. Theo ý nghĩa không tán loạn, định quyền làm cạn hết sự bồn chồn và cơn nóng bức do sự bồn chồn. Theo ý nghĩa thấy rõ, tuệ quyền làm cạn hết vô minh và cơn nóng bức do vô minh. Trong sự xuất ly, năm quyền làm cạn hết tham dục. Trong vô sân, năm quyền làm cạn hết sân hận. Trong tưởng ánh sáng, năm quyền làm cạn hết hôn trầm thụy miên.
Trong sự không tán loạn, năm quyền làm cạn hết sự bồn chồn. Trong sự phân định các pháp, năm quyền làm cạn hết sự nghi ngờ. Trong trí, năm quyền làm cạn hết vô minh. Trong niềm hoan hỷ, năm quyền làm cạn hết sự không hoan hỷ. Trong Đạo A-la-hán, năm quyền làm cạn hết mọi phiền não. Như vậy, các quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm cạn hết.
1.4.4.6. Giảng Về Ý Nghĩa Đặt Vững
Các quyền nên được thấy như thế nào theo ý nghĩa đặt vững? Người có tín đặt vững tín quyền vào sự xác quyết; tín quyền của người có tín đặt vững vào sự xác quyết. Người có tinh tấn đặt vững tấn quyền vào sự ráng sức; tấn quyền của người có tinh tấn đặt vững vào sự ráng sức. Người có niệm đặt vững niệm quyền vào sự đặt vững; niệm quyền của người có niệm đặt vững vào sự đặt vững. Người định tĩnh đặt vững định quyền vào sự không tán loạn; định quyền của người định tĩnh đặt vững vào sự không tán loạn. Người có tuệ đặt vững tuệ quyền vào sự thấy rõ; tuệ quyền của người có tuệ đặt vững vào sự thấy rõ. Vị hành giả đặt vững năm quyền vào sự xuất ly; năm quyền của vị hành giả đặt vững vào sự xuất ly.
Vị hành giả đặt vững năm quyền vào vô sân; năm quyền của vị hành giả đặt vững vào vô sân. Vị hành giả đặt vững năm quyền vào tưởng ánh sáng; năm quyền của vị hành giả đặt vững vào tưởng ánh sáng. Vị hành giả đặt vững năm quyền vào sự không tán loạn; năm quyền của vị hành giả đặt vững vào sự không tán loạn. Vị hành giả đặt vững năm quyền vào sự phân định các pháp; năm quyền của vị hành giả đặt vững vào sự phân định các pháp. Vị hành giả đặt vững năm quyền vào trí; năm quyền của vị hành giả đặt vững vào trí. Vị hành giả đặt vững năm quyền vào niềm hoan hỷ; năm quyền của vị hành giả đặt vững vào niềm hoan hỷ. Vị hành giả đặt vững năm quyền vào Đạo A-la-hán; năm quyền của vị hành giả đặt vững vào Đạo A-la-hán.
Như vậy, các quyền nên được thấy theo ý nghĩa đặt vững. Hết phần giảng theo kinh thứ tư.
1.4.5. Sự Hội Tụ Của Các Quyền
Người phàm tu tập định thì khéo léo về sự xuất hiện theo bao nhiêu cách? Bậc hữu học tu tập định thì khéo léo về sự xuất hiện theo bao nhiêu cách? Người đã hết tham tu tập định thì khéo léo về sự xuất hiện theo bao nhiêu cách? Người phàm tu tập định thì khéo léo về sự xuất hiện theo bảy cách. Bậc hữu học tu tập định thì khéo léo về sự xuất hiện theo tám cách. Người đã hết tham tu tập định thì khéo léo về sự xuất hiện theo mười cách. Người phàm tu tập định thì khéo léo về sự xuất hiện theo bảy cách nào? Vì đã hướng tâm đến, vị ấy khéo léo về sự xuất hiện của đối tượng, khéo léo về sự xuất hiện của tướng chỉ tịnh, khéo léo về sự xuất hiện của tướng ráng sức, khéo léo về sự xuất hiện của sự không tán loạn, khéo léo về sự xuất hiện của ánh sáng, khéo léo về sự xuất hiện của sự làm cho hoan hỷ, khéo léo về sự xuất hiện của xả — Người phàm tu tập định thì khéo léo về sự xuất hiện theo bảy cách này.
Bậc hữu học tu tập định thì khéo léo về sự xuất hiện theo tám cách nào? Vì đã hướng tâm đến, vị ấy khéo léo về sự xuất hiện của đối tượng, khéo léo về sự xuất hiện của tướng chỉ tịnh, khéo léo về sự xuất hiện của tướng ráng sức, khéo léo về sự xuất hiện của sự không tán loạn, khéo léo về sự xuất hiện của ánh sáng, khéo léo về sự xuất hiện của sự làm cho hoan hỷ, khéo léo về sự xuất hiện của xả, khéo léo về sự xuất hiện của sự hợp nhất — Bậc hữu học tu tập định thì khéo léo về sự xuất hiện theo tám cách này. Người đã hết tham tu tập định thì khéo léo về sự xuất hiện theo mười cách nào? Vì đã hướng tâm đến, vị ấy khéo léo về sự xuất hiện của đối tượng, khéo léo về sự xuất hiện của tướng chỉ tịnh, khéo léo về sự xuất hiện của tướng ráng sức, khéo léo về sự xuất hiện của sự không tán loạn, khéo léo về sự xuất hiện của ánh sáng, khéo léo về sự xuất hiện của sự làm cho hoan hỷ, khéo léo về sự xuất hiện của xả, khéo léo về sự xuất hiện của sự hợp nhất, khéo léo về sự xuất hiện của trí, khéo léo về sự xuất hiện của sự giải thoát — Người đã hết tham tu tập định thì khéo léo về sự xuất hiện theo mười cách này.
Người phàm tu tập minh sát thì khéo léo về sự xuất hiện theo bao nhiêu cách, khéo léo về sự không xuất hiện theo bao nhiêu cách? Bậc hữu học tu tập minh sát thì khéo léo về sự xuất hiện theo bao nhiêu cách, khéo léo về sự không xuất hiện theo bao nhiêu cách? Người đã hết tham tu tập minh sát thì khéo léo về sự xuất hiện theo bao nhiêu cách, khéo léo về sự không xuất hiện theo bao nhiêu cách? Người phàm tu tập minh sát thì khéo léo về sự xuất hiện theo chín cách, khéo léo về sự không xuất hiện theo chín cách. Bậc hữu học tu tập minh sát thì khéo léo về sự xuất hiện theo mười cách, khéo léo về sự không xuất hiện theo mười cách. Người đã hết tham tu tập minh sát thì khéo léo về sự xuất hiện theo mười hai cách, khéo léo về sự không xuất hiện theo mười hai cách.
Người phàm tu tập minh sát thì khéo léo về sự xuất hiện theo chín cách nào, khéo léo về sự không xuất hiện theo chín cách nào? Khéo léo về sự xuất hiện theo vô thường; khéo léo về sự không xuất hiện theo thường còn. Khéo léo về sự xuất hiện theo khổ; khéo léo về sự không xuất hiện theo lạc. Khéo léo về sự xuất hiện theo vô ngã; khéo léo về sự không xuất hiện theo ngã. Khéo léo về sự xuất hiện theo sự đoạn tận; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự đông đặc. Khéo léo về sự xuất hiện theo sự suy giảm; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự tích lũy thêm. Khéo léo về sự xuất hiện theo sự biến hoại; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự bền vững.
Khéo léo về sự xuất hiện theo vô tướng; khéo léo về sự không xuất hiện theo tướng. Khéo léo về sự xuất hiện theo vô nguyện; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự nguyện ước. Khéo léo về sự xuất hiện theo tính không; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự bám chặt. — Người phàm tu tập minh sát thì khéo léo về sự xuất hiện theo chín cách này, khéo léo về sự không xuất hiện theo chín cách này. Bậc hữu học tu tập minh sát thì khéo léo về sự xuất hiện theo mười cách nào, khéo léo về sự không xuất hiện theo mười cách nào? Khéo léo về sự xuất hiện theo vô thường; khéo léo về sự không xuất hiện theo thường còn. Khéo léo về sự xuất hiện theo khổ; khéo léo về sự không xuất hiện theo lạc. Khéo léo về sự xuất hiện theo vô ngã; khéo léo về sự không xuất hiện theo ngã. Khéo léo về sự xuất hiện theo sự đoạn tận; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự đông đặc. Khéo léo về sự xuất hiện theo sự suy giảm; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự tích lũy thêm. Khéo léo về sự xuất hiện theo sự biến hoại; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự bền vững. Khéo léo về sự xuất hiện theo vô tướng; khéo léo về sự không xuất hiện theo tướng. Khéo léo về sự xuất hiện theo vô nguyện; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự nguyện ước. Khéo léo về sự xuất hiện theo tính không; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự bám chặt.
Khéo léo về sự xuất hiện theo trí; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự không biết. — Bậc hữu học tu tập minh sát thì khéo léo về sự xuất hiện theo mười cách này, khéo léo về sự không xuất hiện theo mười cách này. Người đã hết tham tu tập minh sát thì khéo léo về sự xuất hiện theo mười hai cách nào, khéo léo về sự không xuất hiện theo mười hai cách nào? Khéo léo về sự xuất hiện theo vô thường; khéo léo về sự không xuất hiện theo thường còn. Khéo léo về sự xuất hiện theo khổ; khéo léo về sự không xuất hiện theo lạc. Khéo léo về sự xuất hiện theo vô ngã; khéo léo về sự không xuất hiện theo ngã. Khéo léo về sự xuất hiện theo sự đoạn tận; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự đông đặc. Khéo léo về sự xuất hiện theo sự suy giảm; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự tích lũy thêm. Khéo léo về sự xuất hiện theo sự biến hoại; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự bền vững. Khéo léo về sự xuất hiện theo vô tướng; khéo léo về sự không xuất hiện theo tướng. Khéo léo về sự xuất hiện theo vô nguyện; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự nguyện ước. Khéo léo về sự xuất hiện theo tính không; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự bám chặt. Khéo léo về sự xuất hiện theo trí; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự không biết.
Khéo léo về sự xuất hiện theo sự lìa khỏi trói buộc; khéo léo về sự không xuất hiện theo sự trói buộc. Khéo léo về sự xuất hiện theo sự diệt; khéo léo về sự không xuất hiện theo các hành. — Người đã hết tham tu tập minh sát thì khéo léo về sự xuất hiện theo mười hai cách này, khéo léo về sự không xuất hiện theo mười hai cách này. Vì đã hướng tâm đến, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của đối tượng, vị ấy làm cho các quyền hội tụ, biết rõ hành xứ và thấu triệt khả năng — bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của tướng chỉ tịnh, vị ấy làm cho các quyền hội tụ, biết rõ hành xứ và thấu triệt khả năng bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của tướng ráng sức, vị ấy làm cho các quyền hội tụ, biết rõ hành xứ và thấu triệt khả năng bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của sự không tán loạn, vị ấy làm cho các quyền hội tụ, biết rõ hành xứ và thấu triệt khả năng bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của ánh sáng, vị ấy làm cho các quyền hội tụ, biết rõ hành xứ và thấu triệt khả năng bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của sự làm cho hoan hỷ, vị ấy làm cho các quyền hội tụ, biết rõ hành xứ và thấu triệt khả năng bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của xả, vị ấy làm cho các quyền hội tụ, biết rõ hành xứ và thấu triệt khả năng bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của sự hợp nhất, vị ấy làm cho các quyền hội tụ, biết rõ hành xứ và thấu triệt khả năng bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của trí, vị ấy làm cho các quyền hội tụ, biết rõ hành xứ và thấu triệt khả năng bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của sự giải thoát, vị ấy làm cho các quyền hội tụ, biết rõ hành xứ và thấu triệt khả năng.
(Vị ấy) làm cho các pháp hội tụ, biết rõ hành xứ và thấu triệt khả năng. “Làm cho các quyền hội tụ” — làm cho các quyền hội tụ là như thế nào? Theo ý nghĩa xác quyết, vị ấy làm cho tín quyền hội tụ; theo ý nghĩa ráng sức, vị ấy làm cho tấn quyền hội tụ; theo ý nghĩa đặt vững, vị ấy làm cho niệm quyền hội tụ; theo ý nghĩa không tán loạn, vị ấy làm cho định quyền hội tụ; theo ý nghĩa thấy rõ, vị ấy làm cho tuệ quyền hội tụ — bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của đối tượng, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của tướng chỉ tịnh, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của tướng ráng sức, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của sự không tán loạn, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của ánh sáng, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của sự làm cho hoan hỷ, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của xả, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của sự hợp nhất, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của trí, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện của sự giải thoát.
bằng sự khéo léo về sự xuất hiện theo vô thường, bằng sự khéo léo về sự không xuất hiện theo thường còn, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện theo khổ, bằng sự khéo léo về sự không xuất hiện theo lạc, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện theo vô ngã, bằng sự khéo léo về sự không xuất hiện theo ngã, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện theo sự đoạn tận, bằng sự khéo léo về sự không xuất hiện theo sự đông đặc, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện theo sự suy giảm, bằng sự khéo léo về sự không xuất hiện theo sự tích lũy thêm, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện theo sự biến hoại, bằng sự khéo léo về sự không xuất hiện theo sự bền vững, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện theo vô tướng, bằng sự khéo léo về sự không xuất hiện theo tướng, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện theo vô nguyện, bằng sự khéo léo về sự không xuất hiện theo sự nguyện ước, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện theo tính không, bằng sự khéo léo về sự không xuất hiện theo sự bám chặt, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện theo trí, bằng sự khéo léo về sự không xuất hiện theo sự không biết, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện theo sự lìa khỏi trói buộc, bằng sự khéo léo về sự không xuất hiện theo sự trói buộc, bằng sự khéo léo về sự xuất hiện theo sự diệt, bằng sự khéo léo về sự không xuất hiện theo các hành — vị ấy làm cho các quyền hội tụ, biết rõ hành xứ và thấu triệt khả năng.
Tuệ — sự làm chủ thuần thục đối với ba quyền theo sáu mươi bốn cách — là trí biết sự đoạn tận của các lậu hoặc. Của ba quyền nào? Của quyền ‘sẽ biết điều chưa từng biết’, của quyền đã biết, và của quyền của bậc đã biết trọn. Quyền ‘sẽ biết điều chưa từng biết’ đi đến bao nhiêu vị thế? Quyền đã biết đi đến bao nhiêu vị thế? Quyền của bậc đã biết trọn đi đến bao nhiêu vị thế? Quyền ‘sẽ biết điều chưa từng biết’ đi đến một vị thế — Đạo Nhập Lưu. Quyền đã biết đi đến sáu vị thế — Quả Nhập Lưu, Đạo Nhất Lai, Quả Nhất Lai, Đạo Bất Lai, Quả Bất Lai, Đạo A-la-hán. Quyền của bậc đã biết trọn đi đến một vị thế — Quả A-la-hán. Vào khoảnh khắc Đạo Nhập Lưu, đối với quyền ‘sẽ biết điều chưa từng biết’: tín quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa đặt vững, định quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa thấy rõ, ý quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa nhận biết, hỷ quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa làm thấm khắp, mạng quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa làm chủ dòng vận hành liên tục.
Vào khoảnh khắc Đạo Nhập Lưu, các pháp sinh lên — ngoại trừ sắc do tâm sinh — thảy đều là thiện, thảy đều không có lậu hoặc, thảy đều dẫn ra khỏi luân hồi, thảy đều đi đến sự giảm trừ, thảy đều thuộc về siêu thế, thảy đều lấy Niết-bàn làm đối tượng. Vào khoảnh khắc Đạo Nhập Lưu, đối với quyền ‘sẽ biết điều chưa từng biết’, tám quyền này là đoàn tùy tùng cùng sinh, làm tùy tùng hỗ tương, làm tùy tùng nương tựa, làm tùy tùng tương ưng; chúng cùng đi theo, cùng sinh, hòa hợp với nhau, tương ưng với nhau. Chính những điều ấy vừa là các cách, vừa là đoàn tùy tùng của nó. Vào khoảnh khắc Quả Nhập Lưu, đối với quyền đã biết: tín quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa đặt vững, định quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa thấy rõ, ý quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa nhận biết, hỷ quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa làm thấm khắp, mạng quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa làm chủ dòng vận hành liên tục; các pháp sinh lên — ngoại trừ sắc do tâm sinh — thảy đều là thiện, thảy đều không có lậu hoặc, thảy đều dẫn ra khỏi luân hồi, thảy đều đi đến sự giảm trừ, thảy đều thuộc về siêu thế, thảy đều lấy Niết-bàn làm đối tượng; đối với quyền đã biết, tám quyền này là đoàn tùy tùng cùng sinh, làm tùy tùng hỗ tương, làm tùy tùng nương tựa, làm tùy tùng tương ưng; chúng cùng đi theo, cùng sinh, hòa hợp với nhau, tương ưng với nhau; chính những điều ấy vừa là các cách, vừa là đoàn tùy tùng. Cũng như vậy vào các khoảnh khắc Đạo Nhất Lai, Quả Nhất Lai, Đạo Bất Lai, Quả Bất Lai và Đạo A-la-hán.
Vào khoảnh khắc Quả A-la-hán, đối với quyền của bậc đã biết trọn: tín quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa đặt vững, định quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa thấy rõ, ý quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa nhận biết, hỷ quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa làm thấm khắp — mạng quyền là đoàn tùy tùng theo ý nghĩa làm chủ dòng vận hành liên tục. Vào khoảnh khắc Quả A-la-hán, các pháp sinh lên — ngoại trừ sắc do tâm sinh — thảy đều là vô ký, thảy đều không có lậu hoặc, thảy đều thuộc về siêu thế, thảy đều lấy Niết-bàn làm đối tượng.
Vào khoảnh khắc Quả A-la-hán, tám quyền này là đoàn tùy tùng cùng sinh của quyền của bậc đã biết trọn. Chính những điều ấy vừa là các cách, vừa là đoàn tùy tùng của nó. Như vậy, tám nhóm tám thành sáu mươi bốn. “Các lậu hoặc” — các lậu hoặc ấy là gì? Lậu hoặc về dục, lậu hoặc về hữu, lậu hoặc về tà kiến, lậu hoặc về vô minh. Các lậu hoặc ấy cạn kiệt ở đâu? Nhờ Đạo Nhập Lưu, lậu hoặc về tà kiến cạn kiệt không còn sót lại. Lậu hoặc về dục đưa đến cõi khổ cạn kiệt; lậu hoặc về hữu đưa đến cõi khổ cạn kiệt; lậu hoặc về vô minh đưa đến cõi khổ cạn kiệt. Các lậu hoặc cạn kiệt ở mức ấy. Nhờ Đạo Nhất Lai, lậu hoặc về dục ở mức thô cạn kiệt; phần lậu hoặc về hữu thuộc cùng nhóm ấy cạn kiệt; phần lậu hoặc về vô minh thuộc cùng nhóm ấy cạn kiệt.
Các lậu hoặc cạn kiệt ở mức ấy. Nhờ Đạo Bất Lai, lậu hoặc về dục cạn kiệt không còn sót lại; phần lậu hoặc về hữu thuộc cùng nhóm ấy cạn kiệt; phần lậu hoặc về vô minh thuộc cùng nhóm ấy cạn kiệt. Các lậu hoặc cạn kiệt ở mức ấy. Nhờ Đạo A-la-hán, lậu hoặc về hữu cạn kiệt không còn sót lại; lậu hoặc về vô minh cạn kiệt không còn sót lại. Các lậu hoặc cạn kiệt ở mức ấy.
hoặc không nhận thức được, hoặc không thể biết đến,
Ngài biết rõ tất cả mọi điều có thể biết,
vì thế đức Như Lai là vị có Toàn Nhãn.
Nghĩa là
Không có điều gì ở đời này mà Đức Phật chưa từng thấy. Cũng không có điều gì Ngài chưa nhận biết, hay không thể biết đến. Ngài đã hiểu thấu tất cả những gì có thể biết được. Vì vậy, Như Lai được gọi là bậc có con mắt thấy khắp mọi phương.
“Con mắt thấy khắp” — theo ý nghĩa gì mà gọi là con mắt thấy khắp? Mười bốn trí của Phật — trí về khổ là trí của Phật, trí về nhân sinh của khổ là trí của Phật, trí về sự diệt của khổ là trí của Phật, trí về con đường đưa đến sự diệt của khổ là trí của Phật, trí về vô ngại giải về ý nghĩa là trí của Phật, trí về vô ngại giải về pháp là trí của Phật, trí về vô ngại giải về ngôn ngữ là trí của Phật, trí về vô ngại giải về biện tài là trí của Phật, trí về sự biết quyền cao thấp của chúng sinh là trí của Phật, trí về trí biết khuynh hướng và tùy miên của chúng sinh là trí của Phật, trí về thần thông song hành là trí của Phật, trí về sự nhập định đại bi là trí của Phật — trí toàn giác là trí của Phật, trí không bị ngăn che là trí của Phật.
Đó là mười bốn trí của Phật. Trong mười bốn trí của Phật này, tám trí là chung với các đệ tử; sáu trí không chung với các đệ tử. Cho đến mức ý nghĩa khổ của khổ đã được biết rõ, và không có ý nghĩa khổ nào chưa được biết — (đó là) con mắt thấy khắp. Cái gì là con mắt thấy khắp thì đó là tuệ quyền. Nương theo tuệ quyền: tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn. Cho đến mức ý nghĩa khổ của khổ đã được thấy, đã được biết, đã được chứng ngộ, đã được tuệ chạm đến; không có ý nghĩa khổ nào chưa được tuệ chạm đến — (đó là) con mắt thấy khắp. Cái gì là con mắt thấy khắp thì đó là tuệ quyền.
Nương theo tuệ quyền: tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn. Cho đến mức ý nghĩa sinh khởi của sự sinh khởi đã được thấy, đã được biết, đã được chứng ngộ, đã được tuệ chạm đến; không có mặt nào của nó chưa được tuệ chạm đến — (đó là) con mắt thấy khắp. Cái gì là con mắt thấy khắp thì đó là tuệ quyền. Nương theo tuệ quyền: tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn. Cho đến mức ý nghĩa diệt của sự diệt đã được thấy, đã được biết, đã được chứng ngộ, đã được tuệ chạm đến; không có mặt nào của nó chưa được tuệ chạm đến — (đó là) con mắt thấy khắp. Cái gì là con mắt thấy khắp thì đó là tuệ quyền. Nương theo tuệ quyền: tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn.
Cho đến mức ý nghĩa đạo của con đường đã được thấy, đã được biết, đã được chứng ngộ, đã được tuệ chạm đến; không có mặt nào của nó chưa được tuệ chạm đến — (đó là) con mắt thấy khắp. Cái gì là con mắt thấy khắp thì đó là tuệ quyền. Nương theo tuệ quyền: tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn. Cho đến mức ý nghĩa của vô ngại giải về ý nghĩa đã được thấy, đã được biết, đã được chứng ngộ, đã được tuệ chạm đến; không có mặt nào của nó chưa được tuệ chạm đến — (đó là) con mắt thấy khắp. Cái gì là con mắt thấy khắp thì đó là tuệ quyền. Nương theo tuệ quyền: tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn.
Cho đến mức ý nghĩa của vô ngại giải về pháp đã được thấy, đã được biết, đã được chứng ngộ, đã được tuệ chạm đến; không có mặt nào của nó chưa được tuệ chạm đến — (đó là) con mắt thấy khắp. Cái gì là con mắt thấy khắp thì đó là tuệ quyền. Nương theo tuệ quyền: tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn. Cho đến mức ý nghĩa của vô ngại giải về ngôn ngữ đã được thấy, đã được biết, đã được chứng ngộ, đã được tuệ chạm đến; không có mặt nào của nó chưa được tuệ chạm đến — (đó là) con mắt thấy khắp. Cái gì là con mắt thấy khắp thì đó là tuệ quyền. Nương theo tuệ quyền: tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn.
Cho đến mức ý nghĩa của vô ngại giải về biện tài đã được thấy, đã được biết, đã được chứng ngộ, đã được tuệ chạm đến; không có mặt nào của nó chưa được tuệ chạm đến — (đó là) con mắt thấy khắp. Cái gì là con mắt thấy khắp thì đó là tuệ quyền. Nương theo tuệ quyền: tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn. Cho đến mức trí biết quyền cao thấp của chúng sinh đã được thấy, đã được biết, đã được chứng ngộ, đã được tuệ chạm đến; không có mặt nào của nó chưa được tuệ chạm đến — (đó là) con mắt thấy khắp. Cái gì là con mắt thấy khắp thì đó là tuệ quyền. Nương theo tuệ quyền: tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn.
Cho đến mức trí biết khuynh hướng và tùy miên của chúng sinh đã được thấy, đã được biết, đã được chứng ngộ, đã được tuệ chạm đến; không có mặt nào của nó chưa được tuệ chạm đến — (đó là) con mắt thấy khắp. Cái gì là con mắt thấy khắp thì đó là tuệ quyền. Nương theo tuệ quyền: tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn. Cho đến mức trí về thần thông song hành đã được thấy, đã được biết, đã được chứng ngộ, đã được tuệ chạm đến; không có mặt nào của nó chưa được tuệ chạm đến — (đó là) con mắt thấy khắp. Cái gì là con mắt thấy khắp thì đó là tuệ quyền. Nương theo tuệ quyền: tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn.
Cho đến mức trí về sự nhập định đại bi đã được thấy, đã được biết, đã được chứng ngộ, đã được tuệ chạm đến; không có mặt nào của nó chưa được tuệ chạm đến — (đó là) con mắt thấy khắp. Cái gì là con mắt thấy khắp thì đó là tuệ quyền. Nương theo tuệ quyền: tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn. Cho đến mức: những gì trong thế giới này — cùng với chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn và Bà-la-môn, cùng với chư thiên và loài người — đã được thấy, đã được nghe, đã được cảm nhận, đã được nhận biết, đã đạt đến, đã tìm cầu, đã được tâm suy xét đến — tất cả đã được biết, đã được thấy, đã được hiểu rõ, đã được chứng ngộ, đã được tuệ chạm đến.
Không có gì chưa được tuệ chạm đến — (đó là) con mắt thấy khắp. Cái gì là con mắt thấy khắp thì đó là tuệ quyền. Nương theo tuệ quyền: tín quyền theo ý nghĩa xác quyết, tấn quyền theo ý nghĩa ráng sức, niệm quyền theo ý nghĩa đặt vững, định quyền theo ý nghĩa không tán loạn. Khi tin thì ráng sức; khi ráng sức thì tin. Khi tin thì đặt vững; khi đặt vững thì tin. Khi tin thì làm cho tâm an định; khi làm cho tâm an định thì tin. Khi tin thì hiểu rõ; khi hiểu rõ thì tin. Khi ráng sức thì đặt vững; khi đặt vững thì ráng sức. Khi ráng sức thì làm cho tâm an định; khi làm cho tâm an định thì ráng sức. Khi ráng sức thì hiểu rõ; khi hiểu rõ thì ráng sức.
Khi ráng sức thì tin; khi tin thì ráng sức. Khi đặt vững thì làm cho tâm an định; khi làm cho tâm an định thì đặt vững. Khi đặt vững thì hiểu rõ; khi hiểu rõ thì đặt vững. Khi đặt vững thì tin; khi tin thì đặt vững. Khi đặt vững thì ráng sức; khi ráng sức thì đặt vững. Khi làm cho tâm an định thì hiểu rõ; khi hiểu rõ thì làm cho tâm an định. Khi làm cho tâm an định thì tin; khi tin thì làm cho tâm an định. Khi làm cho tâm an định thì ráng sức; khi ráng sức thì làm cho tâm an định. Khi làm cho tâm an định thì đặt vững; khi đặt vững thì làm cho tâm an định. Khi hiểu rõ thì tin; khi tin thì hiểu rõ. Khi hiểu rõ thì ráng sức; khi ráng sức thì hiểu rõ.
Khi hiểu rõ thì đặt vững; khi đặt vững thì hiểu rõ. Khi hiểu rõ thì làm cho tâm an định; khi làm cho tâm an định thì hiểu rõ. Vì đã tin nên đã ráng sức; vì đã ráng sức nên đã tin. Vì đã tin nên đã đặt vững; vì đã đặt vững nên đã tin. Vì đã tin nên đã làm cho tâm an định; vì đã làm cho tâm an định nên đã tin. Vì đã tin nên đã hiểu rõ; vì đã hiểu rõ nên đã tin. Vì đã ráng sức nên đã đặt vững; vì đã đặt vững nên đã ráng sức. Vì đã ráng sức nên đã làm cho tâm an định; vì đã làm cho tâm an định nên đã ráng sức. Vì đã ráng sức nên đã hiểu rõ; vì đã hiểu rõ nên đã ráng sức. Vì đã ráng sức nên đã tin; vì đã tin nên đã ráng sức. Vì đã đặt vững nên đã làm cho tâm an định; vì đã làm cho tâm an định nên đã đặt vững.
Vì đã đặt vững nên đã hiểu rõ; vì đã hiểu rõ nên đã đặt vững. Vì đã đặt vững nên đã tin; vì đã tin nên đã đặt vững. Vì đã đặt vững nên đã ráng sức; vì đã ráng sức nên đã đặt vững. Vì đã làm cho tâm an định nên đã hiểu rõ; vì đã hiểu rõ nên đã làm cho tâm an định. Vì đã làm cho tâm an định nên đã tin; vì đã tin nên đã làm cho tâm an định. Vì đã làm cho tâm an định nên đã ráng sức; vì đã ráng sức nên đã làm cho tâm an định. Vì đã làm cho tâm an định nên đã đặt vững; vì đã đặt vững nên đã làm cho tâm an định. Vì đã hiểu rõ nên đã tin; vì đã tin nên đã hiểu rõ. Vì đã hiểu rõ nên đã ráng sức; vì đã ráng sức nên đã hiểu rõ. Vì đã hiểu rõ nên đã đặt vững; vì đã đặt vững nên đã hiểu rõ.
Vì đã hiểu rõ nên đã làm cho tâm an định; vì đã làm cho tâm an định nên đã hiểu rõ. Cái gì là mắt Phật thì đó là trí của Phật; cái gì là trí của Phật thì đó là mắt Phật. Với con mắt ấy, Như Lai nhìn thấy chúng sinh: người ít bụi trong mắt, người nhiều bụi trong mắt; người có căn cơ sắc bén, người có căn cơ chậm lụt; người có dáng vẻ tốt, người có dáng vẻ xấu; người dễ được dạy cho hiểu, người khó được dạy cho hiểu; một số người thấy được lỗi lầm và sự sợ hãi ở đời sau, một số người không thấy được lỗi lầm và sự sợ hãi ở đời sau. Người có tín là người ít bụi trong mắt; người không có tín là người nhiều bụi trong mắt. Người đã khởi sự tinh tấn là người ít bụi trong mắt; người lười biếng là người nhiều bụi trong mắt.
Người có niệm đã đặt vững là người ít bụi trong mắt; người quên mất niệm là người nhiều bụi trong mắt. Người định tĩnh là người ít bụi trong mắt; người không định tĩnh là người nhiều bụi trong mắt. Người có tuệ là người ít bụi trong mắt; người kém tuệ là người nhiều bụi trong mắt. Người có tín là người căn cơ sắc bén; người không có tín là người căn cơ chậm lụt. Người đã khởi sự tinh tấn là người căn cơ sắc bén; người lười biếng là người căn cơ chậm lụt. Người có niệm đã đặt vững là người căn cơ sắc bén; người quên mất niệm là người căn cơ chậm lụt. Người định tĩnh là người căn cơ sắc bén; người không định tĩnh là người căn cơ chậm lụt. Người có tuệ là người căn cơ sắc bén; người kém tuệ là người căn cơ chậm lụt.
Người có tín là người dáng vẻ tốt; người không có tín là người dáng vẻ xấu. Người đã khởi sự tinh tấn là người dáng vẻ tốt; người lười biếng là người dáng vẻ xấu. Người có niệm đã đặt vững là người dáng vẻ tốt; người quên mất niệm là người dáng vẻ xấu. Người định tĩnh là người dáng vẻ tốt; người không định tĩnh là người dáng vẻ xấu. Người có tuệ là người dáng vẻ tốt; người kém tuệ là người dáng vẻ xấu. Người có tín là người dễ được dạy cho hiểu; người không có tín là người khó được dạy cho hiểu. Người đã khởi sự tinh tấn là người dễ được dạy cho hiểu; người lười biếng là người khó được dạy cho hiểu. Người có niệm đã đặt vững là người dễ được dạy cho hiểu; người quên mất niệm là người khó được dạy cho hiểu. Người định tĩnh là người dễ được dạy cho hiểu; người không định tĩnh là người khó được dạy cho hiểu.
Người có tuệ là người dễ được dạy cho hiểu; người kém tuệ là người khó được dạy cho hiểu. Người có tín là người thấy được lỗi lầm và sự sợ hãi ở đời sau; người không có tín là người không thấy được lỗi lầm và sự sợ hãi ở đời sau. Người đã khởi sự tinh tấn là người thấy được lỗi lầm và sự sợ hãi ở đời sau; người lười biếng là người không thấy được lỗi lầm và sự sợ hãi ở đời sau. Người có niệm đã đặt vững là người thấy được lỗi lầm và sự sợ hãi ở đời sau; người quên mất niệm là người không thấy được lỗi lầm và sự sợ hãi ở đời sau. Người định tĩnh là người thấy được lỗi lầm và sự sợ hãi ở đời sau; người không định tĩnh là người không thấy được lỗi lầm và sự sợ hãi ở đời sau.
Người có tuệ là người thấy được lỗi lầm và sự sợ hãi ở đời sau; người kém tuệ là người không thấy được lỗi lầm và sự sợ hãi ở đời sau. “Thế giới” là: thế giới uẩn, thế giới yếu tố, thế giới xứ, thế giới hiện hữu bất hạnh, thế giới sinh khởi bất hạnh, thế giới hiện hữu tốt đẹp, thế giới sinh khởi tốt đẹp. Một thế giới — mọi chúng sinh đều tồn tại nhờ vật thực. Hai thế giới — danh và sắc. Ba thế giới — ba cảm thọ. Bốn thế giới — bốn loại vật thực. Năm thế giới — năm thủ uẩn. Sáu thế giới — sáu nội xứ. Bảy thế giới — bảy trụ xứ của thức. Tám thế giới — tám pháp thế gian. Chín thế giới — chín chỗ ở của chúng sinh. Mười thế giới — mười xứ. Mười hai thế giới — mười hai xứ.
Mười tám thế giới — mười tám yếu tố. “Lỗi lầm” là: mọi phiền não là lỗi lầm, mọi ác hạnh là lỗi lầm, mọi hành tạo tác là lỗi lầm, mọi nghiệp đưa đến tái sinh là lỗi lầm. Như vậy, tưởng kinh hãi sâu sắc về thế giới này và về lỗi lầm này được đặt vững nơi vị ấy — như đối diện kẻ sát nhân đã giơ cao thanh kiếm. Bằng năm mươi cách này, (vị ấy) biết, thấy, hiểu rõ và thấu triệt năm quyền này. Hết phần tụng đọc thứ ba. Hết phần giảng về các quyền.