Kinh Vāseṭṭha
Hai thanh niên Bà-la-môn Vāseṭṭha và Bhāradvāja tranh luận: một người nói Bà-la-môn là do sinh ra, người kia nói do hành động; không ai thuyết phục được ai, họ đến hỏi Đức Phật. Đức Phật trả lời bằng kệ: các loài khác có dấu hiệu riêng do đường sinh, còn loài người thì không; người ta là nông phu, thợ, lái buôn hay vua chúa đều do hành động, và Bà-la-môn chân chính cũng vậy — là người đã dứt sạch tham ái, trói buộc và ô nhiễm trong tâm.
Điểm thực hànhĐừng tự đánh giá mình hay người khác qua dòng dõi, danh xưng; hãy nhìn vào hành động thật: hôm nay mình đã bớt được chút tham, sân, chấp giữ nào chưa?
Tôi nghe kể lại như vầy: Một lần, Đức Phật ở tại Icchānaṅgala, trong khu rừng Icchānaṅgala. Lúc bấy giờ, nhiều Bà-la-môn danh tiếng và giàu có đang sống ở Icchānaṅgala, như là: Bà-la-môn Caṅkī, Bà-la-môn Tārukkha, Bà-la-môn Pokkharasāti, Bà-la-môn Jāṇussoṇi, Bà-la-môn Todeyya, cùng nhiều Bà-la-môn danh tiếng và giàu có khác. Một hôm, hai thanh niên Bà-la-môn Vāseṭṭha và Bhāradvāja đang đi dạo với nhau, giữa đường câu chuyện này nảy ra: “Một người trở thành Bà-la-môn bằng cách nào?” Thanh niên Bhāradvāja nói: “Khi một người sinh ra đàng hoàng cả bên mẹ lẫn bên cha, dòng dõi trong sạch, huyết thống không ai chê trách được cho đến bảy đời ông tổ, không bị vết nhơ hay lời dèm pha nào về dòng dõi sinh ra — thì như vậy là một vị Bà-la-môn.”
Thanh niên Vāseṭṭha nói: “Khi một người có giới hạnh và làm trọn các bổn phận của mình — thì như vậy là một vị Bà-la-môn.” Nhưng Bhāradvāja không thuyết phục được Vāseṭṭha, và Vāseṭṭha cũng không thuyết phục được Bhāradvāja. Rồi thanh niên Vāseṭṭha nói với thanh niên Bhāradvāja: “Này Bhāradvāja, Sa-môn Gotama này là con dòng Thích-ca, xuất gia từ gia tộc Thích-ca, đang ở tại Icchānaṅgala, trong khu rừng Icchānaṅgala. Tiếng tốt về Tôn giả Gotama đã lan xa như vầy: “Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán (người đã dứt sạch ô nhiễm trong tâm), Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, Thiện Thệ, người hiểu rõ thế gian, bậc hướng dẫn những người đáng được dạy dỗ mà không ai hơn, thầy của chư Thiên và loài người, Phật, Thế Tôn.”
Này Bhāradvāja, chúng ta hãy đến gặp Sa-môn Gotama; đến nơi, chúng ta sẽ hỏi Ngài về việc này. Ngài trả lời như thế nào, chúng ta sẽ ghi nhớ như vậy.” “Thưa vâng”, thanh niên Bhāradvāja đáp lại Vāseṭṭha. Rồi hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja đến chỗ Đức Phật; đến nơi, họ chào hỏi thân mật với Ngài. Sau những lời chào hỏi thân tình, họ ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên rồi, thanh niên Vāseṭṭha dùng những bài kệ bạch Đức Phật:
Là những bậc thông thái Cả ba tập Vệ-đà.
Con là đệ tử Ngài, Pokkharasati,
Còn vị thanh niên này, Ðệ tử Tarukkha.
Ba Vệ-đà nói gì,
Chúng con đều thông đạt,
Văn cú và văn phạm, Chúng con đều thấu hiểu,
Thuyết giảng và giải thích, Thật giống bậc Ðạo sư.
Giữa hai người chúng con Có sự tranh luận này, Về huyết thống thọ sanh.
Tôn giả Gotama,
“Chính do sự thọ sanh”.
Bhāradvāja nói:
Con nói: “Do hành động, Mới thành Bà-la-môn”.
Mong bậc có Pháp nhãn, Hiểu cho là như vậy.
Cả hai người chúng con,
Không thể thuyết phục nhau.
Chúng con đến hỏi Ngài,
Bậc Chánh Giác tôn xưng.
Như trăng được tròn đầy,
Quần chúng đến chấp tay,
Ðảnh lễ và chiêm ngưỡng.
Cũng vậy, ở trong đời, Quần chúng đến đảnh lễ, Gotama Tôn giả.
Bậc Pháp nhãn thế gian,
Chúng con đến hỏi Ngài,
Bà-la-môn do sanh,
Hay chính do hành động?
Chúng con không được biết,
Hãy nói chúng con biết.
Ta trả lời cho Ông,
Ðức Thế Tôn bèn nói: Này Ông Vasettha,
Thuận thứ và như thật,
Sự phân loại do sanh, Của các loại hữu tình,
Chính do sự sanh đẻ, Do sanh, có dị loại.
Hãy xem cỏ và cây,
Dầu chúng không nhận thức,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.
Hãy xem loại côn trùng,
Bướm đêm, các loại kiến,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.
Hãy xem loại bốn chân,
Loại nhỏ và loại lớn,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.
Hãy xem loài bò sát,
Loại rắn, loại lưng dài,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.
Hãy xem các loại cá,
Loại sinh sống trong nước,
Chúng có tướng thọ sanh,
Da sanh, có dị loại.
Hãy xem các loại chim,
Loại có cánh trên trời,
Chúng có tướng thọ sanh,
Do sanh, có dị loại.
Tùy theo sự thọ sanh,
Chúng có tướng tùy sanh.
Trong thế giới loài Người,
Tướng sanh không có nhiều.
Không ở đầu mái tóc,
Không ở tai, ở mắt,
Không ở miệng, ở mũi,
Không ở môi, ở mày,
Không ở cổ, ở nách,
Không ở bụng, ở lưng,
Không ở ngực, ở vú,
Không âm hộ, hành dâm.
Không ở tay, ở chân,
Không ở ngón, ở móng,
Không ở cổ chân, vế,
Không ở sắc, ở tiếng.
Không tướng, do tùy sanh,
Tùy sanh, loại sai khác.
Trên tự thân con người,
Không có gì đặc biệt.
Chỉ tùy theo danh xưng,
Loài Người được kêu gọi.
Ðối người tự sinh sống.
Chăn bò, lo ruộng đất,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là nông phu, Không phải Bà-la-môn.
Ai sống
theo nghề nghiệp,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là công thợ, Không phải Bà-la-môn.
Ai sống
nghề buôn bán,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là thương nhân, Không phải Bà-la-môn.
Ai sống
hầu hạ người,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là nô bộc, Không phải Bà-la-môn.
Ai sống
lấy của người,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là kẻ trộm, Không phải Bà-la-môn.
Ai sống
nghề cung tên,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là nhà binh, Không phải Bà-la-môn.
Ai sống
nghề tế tự,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là tế quan, Không phải Bà-la-môn.
Ai sống giữa loài Người,
Thọ hưởng làng, quốc độ,
Vasettha hãy biết,
Kẻ ấy là vua chúa, Không phải Bà-la-môn.
Và Ta không có gọi, Kẻ ấy Bà-la-môn.
Chỉ vì do thọ sanh,
Dầu vị ấy cao sang, Dầu vị ấy giàu có,
Nhưng còn ham thế lợi.
Không tham lam thế lợi, Không chấp thủ sở hữu,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Vị đoạn tận kiết sử,
Không ai không sợ hãi,
Siêu việt mọi chấp trước, Thoát ly các hệ phược,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Cắt dây thừng, dây ách,
Dây cương, cùng dây trói,
Quăng đi cây chắn ngang, Kẻ ấy Ta mới gọi, Bậc sáng suốt, giác ngộ,
Chánh danh Bà-la-môn.
Nhiếc mắng cùng đánh trói,
Ai không lỗi, chịu đựng,
Trang bị với nhẫn lực,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Không phẫn nộ, giữ luật,
Có giới hạnh không kiêu,
Nhiếp phục, thân tối hậu,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Như nước trên lá sen,
Hột cải trên đỉnh nhọn,
Không tham luyến dục vọng,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Ai biết ngay đời này
Khổ vì ngã đoạn tận,
Gánh nặng được đặt xuống, Xa lìa các hệ phược,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Tuệ thâm sâu, có trí
Thiện xảo đạo phi đạo,
Ðích tối thượng đạt được,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Ai không còn liên hệ,
Cả tại gia, xuất gia,
Không nhà trú, thiểu dục,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Bỏ gậy đối chúng sanh,
Kẻ yếu cùng kẻ mạnh,
Không giết, không hại ai,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Giữa kẻ thù, không thù,
Giữa hung bạo, an tịnh,
Giữa chấp thủ, không chấp,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Dối, tham, sân, mạn, phú,
Ai bỏ rơi được chúng,
Như hột cải rơi khỏi. Ðầu nhọn của mũi kim,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Ai dạy thật nhỏ nhẹ,
Nói lên lời chơn thực,
Không xúc chạm một ai,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Dài ngắn hay lớn nhỏ, Thanh tịnh hay bất tịnh,
Ở đời vật dài ngắn, Lớn, nhỏ, tịnh, bất tịnh,
Không lấy vật không cho,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Với ai không tham cầu,
Ðời này và đời sau,
Từ bỏ mọi tham cầu, Ðoạn rời mọi hệ phược,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Ai không có chấp tàng,
Với trí đoạn nghi hoặc,
Ðạt nhập đáy bất tử.
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Ở đời ai vượt khỏi,
Mọi buộc ràng thiện ác,
Không sầu, không bụi uế,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Ai không uế, thanh tịnh,
Không gợn, sáng như trăng,
Hỷ, hữu được đoạn trừ,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Ai vượt qua hiểm lộ,
Ác lộ, luân hồi, si,
Vượt khỏi, đến bờ kia, Thiền tư, không dao động,
Ðoạn trừ mọi nghi hoặc,
An tịnh, không chấp trước,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Ở đời, bỏ dục vọng,
Không nhà, sống xuất gia,
Ðoạn trừ dục và hữu,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Ở đời, bỏ tham ác,
Không nhà, sống xuất gia,
Ðoạn trừ ác và hữu,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Ai từ bỏ nhân ách,
Vượt qua cả thiên ách,
Ðoạn trừ mọi ách nạn, Thoát ly mọi hệ phược,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Từ bỏ lạc, bất lạc,
Thanh lương, không y trú,
Chiến thắng mọi thế giới, Bậc anh hùng dũng mãnh,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Ai biết thật hoàn toàn,
Sự sanh diệt chúng sanh,
Không tham trước, Thiện Thệ, Giác ngộ, đạt chánh giác,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Không biết chỗ sở thủ,
Thiên, Nhân, Càn-thát-bà,
Lậu hoặc được đoạn trừ, Bậc Ứng Cúng, La-Hán,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Ai không có chấp trước,
Ðời trước, sau, đời này,
Không chấp, không sở hữu,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Ngưu vương, bậc Tối thắng,
Anh hùng, bậc Ðại sĩ, Bậc Chinh phục, Bất động,
Tắm sạch, bậc Giác Ngộ,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Ai biết được đời trước,
Thấy được thiện, ác thú,
Ðạt được sanh diệt đoạn,
Kẻ ấy Ta mới gọi, Chánh danh Bà-la-môn.
Ðiều thế giới cho gọi,
Là “tên” và “gia tộc”,
Chỉ tục danh, thông danh,
Danh từ khởi nhiều chỗ.
Ðã lâu đời chấp trước,
Tà kiến của kẻ ngu,
Kẻ ngu tự tuyên bố,
Bà-la-môn do sanh.
Không phải do sanh đẻ, Ðược gọi Bà-la-môn,
Không phải do sanh đẻ, Gọi phi Bà-la-môn.
Chính do sự hành động Ðược gọi Bà-la-môn,
Chính do sự hành động Gọi phi Bà-la-môn.
Hành động làm nông phu,
Hành động làm công thợ,
Hành động làm lái buôn,
Hành động làm nô bộc.
Hành động làm ăn trộm,
Hành động làm nhà binh.
Hành động làm tế quan,
Hành động làm vua chúa.
Kẻ trí thấy hành động,
Như thật là như vậy.
Thấy rõ lý duyên khởi,
Biết rõ nghiệp dị thục.
Do nghiệp, đời luân chuyển
Do nghiệp, người luân hồi.
Nghiệp trói buộc chúng sanh,
Như trục xe quay bánh.
Do khổ hạnh, Phạm hạnh,
Tiết chế và chế ngự,
Tác thành Bà-la-môn.
Bà-la-môn như vậy, Mới thật là tối thượng,
Ba Vệ-đà thành tựu,
An tịnh, tái sanh đoạn,
Vesettha nên biết,
Kẻ ấy được Phạm thiên, Ðược Thiên chủ Sakka, Biết đến thật tường tận.
Nghĩa là
Cả hai chúng con đều được thừa nhận và tự nhận là bậc thầy, chúng con thông thạo ba tập Vệ-đà. Con là đệ tử của Ngài Pokkharasāti, còn thanh niên này là đệ tử của Ngài Tārukkha. Những gì ba tập Vệ-đà dạy, chúng con đều nắm trọn, về văn cú và văn phạm, chúng con đều thấu hiểu, việc thuyết giảng và giải thích của chúng con ngang với các bậc đạo sư. Giữa hai chúng con có một cuộc tranh luận về dòng dõi sinh ra. Thưa Tôn giả Gotama, rằng: “Một người là Bà-la-môn do sự sinh ra”. Bhāradvāja nói như vậy; Còn con nói: “Do hành động mà thành Bà-la-môn”. Xin bậc có Pháp nhãn (Đức Phật) hiểu rõ chuyện này là như vậy. Cả hai chúng con đều không thuyết phục được nhau. Chúng con đến hỏi Ngài, bậc Chánh Giác được mọi người tôn xưng. Như vầng trăng tròn đầy, được quần chúng chấp tay hướng về, đảnh lễ và chiêm ngưỡng. Cũng vậy, trong đời này, quần chúng đến đảnh lễ Tôn giả Gotama. Bậc Pháp nhãn (con mắt trí tuệ) đã xuất hiện trong thế gian, chúng con đến hỏi Ngài Gotama: Một người là Bà-la-môn do sinh ra, hay do hành động? Chúng con không biết, xin Ngài nói cho chúng con biết. Ta sẽ trả lời cho hai ông, Đức Phật nói với Vāseṭṭha: theo thứ tự và đúng như thật, về cách phân loại các loài hữu tình theo đường sinh đẻ, vì mỗi loài sinh ra một khác, do đường sinh mà có các loài khác nhau. Hãy nhìn cỏ và cây, dù chúng không tự nhận biết, chúng có dấu hiệu riêng do đường sinh, vì mỗi loài sinh ra một khác. Tiếp đến là các loài côn trùng, bướm đêm cho đến các loại kiến, chúng có dấu hiệu riêng do đường sinh, vì mỗi loài sinh ra một khác. Hãy nhìn các loài bốn chân, loài nhỏ và loài lớn, chúng có dấu hiệu riêng do đường sinh, vì mỗi loài sinh ra một khác. Hãy nhìn loài bò sát, loài rắn, loài lưng dài bò bằng bụng, chúng có dấu hiệu riêng do đường sinh, vì mỗi loài sinh ra một khác. Hãy nhìn các loài cá, loài sinh sống trong nước, chúng có dấu hiệu riêng do đường sinh, vì mỗi loài sinh ra một khác. Hãy nhìn các loài chim, loài có cánh bay trên trời, chúng có dấu hiệu riêng do đường sinh, vì mỗi loài sinh ra một khác. Như ở các loài ấy, các dấu hiệu khác nhau đều do đường sinh mà có, thì trong loài người, không có nhiều dấu hiệu do đường sinh như vậy. Không ở tóc, không ở đầu, không ở tai, không ở mắt, không ở miệng, không ở mũi, không ở môi, không ở mày, không ở cổ, không ở vai, không ở bụng, không ở lưng, không ở hông, không ở ngực, không ở chỗ kín, không ở bộ phận sinh dục. Không ở tay, không ở chân, không ở ngón tay ngón chân, không ở móng, không ở cẳng chân, không ở đùi, không ở màu da, không ở giọng nói. Không có dấu hiệu do đường sinh như vậy, như ở các loài khác. Trên chính thân thể con người, không tìm thấy những khác biệt ấy. Sự phân biệt giữa người với người chỉ do tên gọi quy ước mà thành. Bất cứ ai trong loài người sống bằng nghề chăn bò, lo ruộng đất, này Vāseṭṭha, hãy biết: người ấy là nông phu, không phải Bà-la-môn. Bất cứ ai sống bằng các nghề nghiệp, này Vāseṭṭha, hãy biết: người ấy là người thợ, không phải Bà-la-môn. Bất cứ ai sống bằng nghề buôn bán, này Vāseṭṭha, hãy biết: người ấy là thương nhân, không phải Bà-la-môn. Bất cứ ai sống bằng việc hầu hạ người khác, này Vāseṭṭha, hãy biết: người ấy là người hầu, không phải Bà-la-môn. Bất cứ ai sống bằng cách lấy của người khác (trộm cắp), này Vāseṭṭha, hãy biết: người ấy là kẻ trộm, không phải Bà-la-môn. Bất cứ ai sống bằng nghề cung tên (nghề binh), này Vāseṭṭha, hãy biết: người ấy là nhà binh, không phải Bà-la-môn. Bất cứ ai sống bằng nghề tế lễ, này Vāseṭṭha, hãy biết: người ấy là người tế lễ, không phải Bà-la-môn. Bất cứ ai trong loài người thụ hưởng làng mạc và quốc độ (làm vua cai trị), này Vāseṭṭha, hãy biết: người ấy là vua chúa, không phải Bà-la-môn. Ta không gọi một người là Bà-la-môn chỉ vì người ấy sinh ra từ bụng mẹ (do dòng dõi sinh ra). Dù người ấy cao sang, dù giàu có, cũng chỉ là người được xưng bằng tiếng “thưa ngài”, nếu người ấy còn tham đắm, còn chấp giữ. Người không còn tham đắm, không chấp giữ gì cả — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người đã cắt đứt mọi trói buộc (kiết sử), không còn run sợ, lo lắng, vượt qua mọi chấp trước, thoát khỏi mọi ràng buộc — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người đã cắt dây da và dây thừng buộc, dây cương cùng dây trói (mọi thứ trói buộc), đã nhấc bỏ cây chắn ngang, đã giác ngộ — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Sự nhiếc mắng, đánh đập, trói buộc — người không có lỗi lầm, chịu đựng tất cả mà không giận, lấy sức nhẫn nhịn làm đạo quân của mình — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người không phẫn nộ, giữ đúng các phận sự, có giới hạnh, không kiêu mạn, đã tự chế ngự, mang thân cuối cùng (không còn tái sinh) — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Như nước trên lá sen (không dính lại), như hột cải trên đầu mũi kim nhọn (không bám lại), người không đắm nhiễm các dục vọng — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người tự mình biết rõ, ngay trong đời này, sự chấm dứt khổ đau của chính mình, đã đặt gánh nặng xuống, thoát mọi ràng buộc — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người có trí tuệ sâu xa, thông minh, giỏi phân biệt đâu là đường đi, đâu không phải đường đi, đã đạt đến đích cao nhất — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người không còn ràng buộc giao thiệp với người tại gia, cũng không với người xuất gia — cả hai phía, không chỗ ở cố định, ít ham muốn — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người đã buông cây gậy (không dùng bạo lực) đối với chúng sinh, kẻ yếu cũng như kẻ mạnh, không giết, không khiến người khác giết — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Giữa những kẻ chống đối, người không chống đối, giữa những kẻ cầm vũ khí gây hại, người đã an tịnh, giữa những kẻ chấp giữ, người không chấp giữ — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Tham, sân (và những ô nhiễm như vậy), kiêu mạn và khinh miệt — ai đã buông bỏ hết những thứ ấy, như hột cải rơi khỏi đầu mũi kim nhọn (không còn bám lại chút nào) — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người nói lời êm dịu, khiến người nghe hiểu rõ, nói lên lời chân thật, không làm ai phật ý — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Vật dài hay ngắn, nhỏ hay lớn, đẹp hay xấu, người không lấy của không cho ở đời — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người không còn mong cầu gì cho đời này hay đời sau, không còn mong cầu, thoát mọi ràng buộc — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người không còn chỗ bám víu (không còn tham đắm), nhờ trí tuệ mà đã hết nghi ngờ, đã chạm đến sự bất tử (Niết-bàn) — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người ở đời đã vượt qua mọi ràng buộc của thiện và ác, không sầu, không bụi bẩn, thanh tịnh — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người trong sạch, không vết nhơ, trong sáng, không chút vẩn đục như vầng trăng, đã chấm dứt niềm vui thích trong sự tái sinh — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người đã vượt qua con đường lầy lội khó đi này, vượt qua luân hồi và si mê, đã sang bờ bên kia, thiền định vững vàng, không dao động, đã hết nghi ngờ, đã tắt lặng vì không còn chấp thủ — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người ở đời đã từ bỏ các dục vọng, không nhà, sống đời xuất gia, đã chấm dứt dục và sự tái sinh gắn với dục — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người ở đời đã từ bỏ khát ái, không nhà, sống đời xuất gia, đã chấm dứt khát ái và sự tái sinh gắn với khát ái — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người đã bỏ cái ách của cõi người, vượt qua cả cái ách của cõi trời, thoát khỏi mọi ách, mọi ràng buộc — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người đã bỏ cả sự ưa thích lẫn không ưa thích, tâm mát lạnh, không còn gì bám vào, bậc anh hùng chiến thắng mọi thế giới — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người biết trọn vẹn sự sinh và diệt của chúng sinh, không tham đắm, bậc Thiện Thệ, bậc Giác Ngộ — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người mà chỗ đi đến của họ, không ai biết được — chư Thiên, Càn-thát-bà và loài người đều không biết, các lậu hoặc (ô nhiễm sâu trong tâm) đã dứt sạch, bậc A-la-hán — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người không có gì thuộc về mình ở đời trước, đời sau và đời này — ở giữa cũng không có gì, không có gì, không chấp giữ — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Bậc dẫn đầu như bò đầu đàn, bậc cao quý, bậc anh hùng, bậc đại sĩ, bậc chiến thắng, không dao động, đã tắm sạch, bậc Giác Ngộ — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Người biết được các đời trước của mình, thấy được cõi trời và các cõi khổ, đã đạt đến sự chấm dứt sinh tử — Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn chân chính. Cái mà thế gian gọi là “tên” và “gia tộc” — chỉ là cách đặt ra theo quy ước trong đời. Chúng sinh ra từ sự thỏa thuận chung, được đặt ra ở từng nơi, từng trường hợp. Đã từ lâu, điều này bám sâu thành kiến chấp nơi những người không hiểu biết. Những người không hiểu, tuyên bố rằng: “Người ta là Bà-la-môn do sinh ra”. Không phải do sinh ra mà thành Bà-la-môn, cũng không phải do sinh ra mà thành không phải Bà-la-môn. Chính do hành động mà thành Bà-la-môn, chính do hành động mà thành không phải Bà-la-môn. Do hành động mà thành nông phu, do hành động mà thành người thợ, do hành động mà thành thương nhân, do hành động mà thành người hầu, do hành động mà thành kẻ trộm, do hành động mà thành người lính. Do hành động mà thành người tế lễ, do hành động mà thành vua chúa. Như vậy đó, những người có trí nhìn hành động đúng như thật. Họ thấy rõ lý duyên sinh (mọi sự do các điều kiện hợp lại mà sinh), giỏi về nghiệp và kết quả của nghiệp. Do nghiệp mà đời vận hành, do nghiệp mà con người vận hành. Chúng sinh bị nghiệp trói buộc, như bánh xe lăn theo chốt trục của xe. Nhờ khổ hạnh và đời sống phạm hạnh (đời sống thanh tịnh), nhờ sự tiết chế và tự chế ngự — nhờ vậy mà thành Bà-la-môn, đó là Bà-la-môn cao quý nhất. Người thành tựu ba minh (biết các đời trước, thấy sự sinh tử của chúng sinh, dứt sạch lậu hoặc), an tịnh, đã chấm dứt tái sinh — này Vāseṭṭha, hãy biết: người ấy được Phạm thiên và Thiên chủ Sakka biết đến một cách tường tận.
Khi Đức Phật nói xong, hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja bạch Đức Phật: “Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại vật bị lật úp, mở ra vật bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay thắp ngọn đèn trong bóng tối để những ai có mắt thấy được hình sắc — cũng vậy, Pháp đã được Tôn giả Gotama trình bày, làm rõ bằng nhiều cách. Chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng đoàn (đoàn thể các Tỷ-kheo, tức các vị tu sĩ khất thực). Mong Tôn giả Gotama ghi nhớ chúng con là những cư sĩ đã quy y, từ nay cho đến trọn đời.” Hết Kinh Vāseṭṭha — bài thứ 8.