Kinh Ái Sanh
Một vị gia chủ mất đứa con một, đau khổ đến mức không thiết làm việc, không thiết ăn uống, cứ ra bãi tha ma than khóc. Đức Phật nói với ông rằng buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu; ông không chịu tin, trong khi những người đánh bạc lại đồng ý với ông. Câu chuyện lan đến nội cung, hoàng hậu Mallikā cho Bà-la-môn Nāḷijaṅgha đến hỏi lại Đức Phật và nghe Ngài kể những người phát điên vì mất người thân; rồi chính bà lần lượt hỏi vua Pasenadi về công chúa, hoàng hậu, tướng quân, về chính bà và về hai xứ Kāsi, Kosala, khiến nhà vua tự nhận ra lời Đức Phật nói là đúng.
Điểm thực hànhKhi người thân đổi thay hay mất đi mà buồn khổ sinh khởi, hãy nhớ lời kinh này: nỗi khổ ấy sinh ra chính từ chỗ mình thương yêu, để nhìn thẳng vào sự đổi thay vô thường thay vì để nó cuốn mình đi.
Tôi nghe kể lại như vầy: Một lần, Đức Phật ở thành Xá-vệ, trong rừng Kỳ-đà, khu vườn của ông Cấp Cô Độc. Lúc ấy, đứa con một yêu quý, đáng thương của một vị gia chủ qua đời. Từ khi con mất, ông không còn thiết làm việc, cũng không còn thiết ăn uống. Ông đi đến bãi tha ma và than khóc: “Con một của ta ở đâu? Con một của ta ở đâu?” Rồi vị gia chủ ấy đến chỗ Đức Phật. Đến nơi, ông đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Khi ông đã ngồi một bên, Đức Phật nói với ông: “Này gia chủ, các căn của ông không còn như của một người có tâm yên định; các căn của ông đã đổi khác.” “Bạch Thế Tôn, làm sao các căn của con lại không đổi khác được? Bạch Thế Tôn, đứa con một yêu quý, đáng thương của con đã qua đời.
Từ khi con mất, con không còn thiết làm việc, cũng không còn thiết ăn uống. Con đi đến bãi tha ma và than khóc: ‘Con một của ta ở đâu? Con một của ta ở đâu?’” “Đúng như vậy, này gia chủ! Đúng như vậy, này gia chủ! Này gia chủ, buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu.” “Bạch Thế Tôn, ai trên đời lại có thể nghĩ như vậy: ‘Buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu’? Bạch Thế Tôn, chính niềm vui mừng và hạnh phúc mới sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu.” Rồi vị gia chủ ấy không vui với lời Đức Phật nói, phản đối lại, đứng dậy khỏi chỗ ngồi và bỏ đi.
Lúc ấy, mấy người đánh bạc đang chơi xúc xắc không xa Đức Phật. Vị gia chủ ấy đến chỗ những người đánh bạc ấy. Đến nơi, ông nói với họ: “Này quý vị, tôi đã đến chỗ Sa-môn Gotama. Đến nơi, tôi đảnh lễ Sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một bên. Khi tôi đã ngồi một bên, Sa-môn Gotama nói với tôi: ‘Này gia chủ, các căn của ông không còn như của một người có tâm yên định; các căn của ông đã thay đổi.’ Nghe vậy, này quý vị, tôi thưa với Sa-môn Gotama: ‘Bạch Thế Tôn, làm sao các căn của con lại không thay đổi được? Bạch Thế Tôn, đứa con một yêu quý, đáng thương của con đã qua đời. Từ khi con mất, con không còn thiết làm việc, cũng không còn thiết ăn uống.
Con đi đến bãi tha ma và than khóc — ‘Con một của ta ở đâu? Con một của ta ở đâu?’ ‘Đúng như vậy, này gia chủ! Đúng như vậy, này gia chủ! Này gia chủ, buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu.’ ‘Bạch Thế Tôn, ai trên đời lại có thể nghĩ như vậy — buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu? Bạch Thế Tôn, chính niềm vui mừng và hạnh phúc mới sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu.’ Rồi tôi, này quý vị, không vui với lời Sa-môn Gotama nói, phản đối lại, đứng dậy khỏi chỗ ngồi và bỏ đi.” “Đúng như vậy, này gia chủ! Đúng như vậy, này gia chủ!
Chính niềm vui mừng và hạnh phúc mới sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu.” Vị gia chủ ấy nghĩ: “Những người đánh bạc đồng ý với ta”, rồi bỏ đi. Dần dần, câu chuyện ấy lan đến tận nội cung nhà vua. Rồi vua Pasenadi xứ Kosala gọi hoàng hậu Mallikā và nói: “Này Mallikā, Sa-môn Gotama của nàng đã nói điều này: ‘Buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu.’” “Tâu Đại vương, nếu Đức Phật đã nói như vậy, thì sự việc đúng là như vậy.” “Mallikā này, bất cứ điều gì Sa-môn Gotama nói, nàng cũng đều tán thành như vậy: ‘Tâu Đại vương, nếu Đức Phật đã nói như vậy, thì sự việc đúng là như vậy.’ Giống như thầy nói điều gì, người học trò cũng tán thành điều ấy:
‘Đúng như vậy, thưa thầy! Đúng như vậy, thưa thầy!’ Cũng vậy, này Mallikā, bất cứ điều gì Sa-môn Gotama nói, nàng cũng tán thành như vậy: ‘Tâu Đại vương, nếu Đức Phật đã nói như vậy, thì sự việc đúng là như vậy.’ Thôi đi đi, này Mallikā, hãy đi khỏi đây!” Rồi hoàng hậu Mallikā gọi Bà-la-môn Nāḷijaṅgha và nói: “Này Bà-la-môn, ông hãy đến chỗ Đức Phật. Đến nơi, nhân danh ta, hãy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Phật, và hỏi thăm Ngài có khỏe mạnh, ít bệnh, nhẹ nhàng, sung sức, sống thoải mái không: ‘Bạch Thế Tôn, hoàng hậu Mallikā cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, và hỏi thăm Ngài có khỏe mạnh, ít bệnh, nhẹ nhàng, sung sức, sống thoải mái không.’ Rồi hãy thưa như sau:
‘Bạch Thế Tôn, có phải Đức Phật đã nói lời này — buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu?’ Đức Phật trả lời thế nào, ông hãy ghi nhớ cho kỹ rồi về thưa lại với ta. Vì các bậc Như Lai không nói điều gì sai sự thật.” “Thưa vâng, thưa bà.” Bà-la-môn Nāḷijaṅgha vâng lời hoàng hậu Mallikā, đến chỗ Đức Phật. Đến nơi, ông trao đổi những lời chào hỏi với Đức Phật. Sau những lời chào hỏi thân mật, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Nāḷijaṅgha thưa với Đức Phật: “Thưa Tôn giả Gotama, hoàng hậu Mallikā cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tôn giả, và hỏi thăm Tôn giả có khỏe mạnh, ít bệnh, nhẹ nhàng, sung sức, sống thoải mái không.
Bà ấy còn thưa như sau: ‘Bạch Thế Tôn, có phải Đức Phật đã nói lời này — buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu?’” “Đúng như vậy, này Bà-la-môn! Đúng như vậy, này Bà-la-môn! Này Bà-la-môn, buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu.” “Này Bà-la-môn, cũng bằng cách này, ông nên hiểu vì sao buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu. Ngày xưa, ngay tại thành Xá-vệ này, có một người phụ nữ có mẹ qua đời. Từ khi mẹ mất, bà phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, và nói:
‘Có ai thấy mẹ tôi không? Có ai thấy mẹ tôi không?’ Này Bà-la-môn, cũng bằng cách này, ông nên hiểu vì sao buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu. Ngày xưa, ngay tại thành Xá-vệ này, có một người phụ nữ có cha qua đời. Ngày xưa, ngay tại thành Xá-vệ này, có một người phụ nữ có anh qua đời. Ngày xưa, ngay tại thành Xá-vệ này, có một người phụ nữ có chị qua đời. Ngày xưa, ngay tại thành Xá-vệ này, có một người phụ nữ có con trai qua đời. Ngày xưa, ngay tại thành Xá-vệ này, có một người phụ nữ có con gái qua đời. Ngày xưa, ngay tại thành Xá-vệ này, có một người phụ nữ có chồng qua đời.
Từ khi chồng mất, bà phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, và nói: ‘Có ai thấy chồng tôi không? Có ai thấy chồng tôi không?’ Này Bà-la-môn, cũng bằng cách này, ông nên hiểu vì sao buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu. Ngày xưa, ngay tại thành Xá-vệ này, có một người đàn ông có mẹ qua đời. Từ khi mẹ mất, ông phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, và nói: ‘Có ai thấy mẹ tôi không? Có ai thấy mẹ tôi không?’ Này Bà-la-môn, cũng bằng cách này, ông nên hiểu vì sao buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu.
Ngày xưa, ngay tại thành Xá-vệ này, có một người đàn ông có cha qua đời. Ngày xưa, ngay tại thành Xá-vệ này, có một người đàn ông có anh qua đời. Ngày xưa, ngay tại thành Xá-vệ này, có một người đàn ông có chị qua đời. Ngày xưa, ngay tại thành Xá-vệ này, có một người đàn ông có con trai qua đời. Ngày xưa, ngay tại thành Xá-vệ này, có một người đàn ông có con gái qua đời. Ngày xưa, ngay tại thành Xá-vệ này, có một người đàn ông có vợ qua đời. Từ khi vợ mất, ông phát điên, tâm trí rối loạn, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, và nói: ‘Có ai thấy vợ tôi không? Có ai thấy vợ tôi không?’ Này Bà-la-môn, cũng bằng cách này, ông nên hiểu vì sao buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu.
Ngày xưa, ngay tại thành Xá-vệ này, có một người phụ nữ về sống với gia đình họ hàng. Họ hàng của bà muốn bắt bà rời bỏ chồng mình và gả cho một người đàn ông khác, mà bà không muốn. Rồi người phụ nữ ấy nói với chồng mình: ‘Anh à, họ hàng của em muốn tách em ra khỏi anh và gả em cho một người đàn ông khác. Em không muốn như vậy.’ Rồi người chồng chặt vợ mình làm hai khúc, rồi tự mổ bụng mình, nghĩ rằng: ‘Hai chúng ta sẽ ở bên nhau sau khi chết.’ Này Bà-la-môn, cũng bằng cách này, ông nên hiểu vì sao buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu.” Rồi Bà-la-môn Nāḷijaṅgha vui mừng, tán thành lời Đức Phật nói, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đến chỗ hoàng hậu Mallikā. Đến nơi, ông kể lại cho hoàng hậu Mallikā toàn bộ cuộc nói chuyện giữa ông với Đức Phật. Rồi hoàng hậu Mallikā đến chỗ vua Pasenadi xứ Kosala. Đến nơi, bà thưa với vua Pasenadi xứ Kosala:
“Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào, Đại vương có thương công chúa Vajirī không?” “Đúng vậy, này Mallikā, ta thương công chúa Vajirī.” “Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào, nếu công chúa Vajirī của Đại vương đổi thay và mất đi, thì buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng có sinh khởi nơi Đại vương không?” “Này Mallikā, nếu công chúa Vajirī của ta đổi thay và mất đi, thì đời sống của ta cũng sẽ thay đổi; làm sao buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng lại không sinh khởi nơi ta?” “Tâu Đại vương, chính điều này là điều Đức Phật — bậc biết rõ, thấy rõ, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác — đã nhắm đến khi Ngài nói: ‘Buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu.’ Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào, Đại vương có thương hoàng hậu Vāsabhā không?”
“Đúng vậy, này Mallikā, ta thương hoàng hậu Vāsabhā.” “Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào, nếu hoàng hậu Vāsabhā của Đại vương đổi thay và mất đi, thì buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng có sinh khởi nơi Đại vương không?” “Này Mallikā, nếu hoàng hậu Vāsabhā của ta đổi thay và mất đi, thì đời sống của ta cũng sẽ thay đổi; làm sao buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng lại không sinh khởi nơi ta?” “Tâu Đại vương, chính điều này là điều Đức Phật — bậc biết rõ, thấy rõ, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác — đã nhắm đến khi Ngài nói: ‘Buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu.’ Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào, Đại vương có thương tướng quân Viḍūḍabha không?”
“Đúng vậy, này Mallikā, ta thương tướng quân Viḍūḍabha.” “Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào, nếu tướng quân Viḍūḍabha của Đại vương đổi thay và mất đi, thì buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng có sinh khởi nơi Đại vương không?” “Này Mallikā, nếu tướng quân Viḍūḍabha của ta đổi thay và mất đi, thì đời sống của ta cũng sẽ thay đổi; làm sao buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng lại không sinh khởi nơi ta?” “Tâu Đại vương, chính điều này là điều Đức Phật — bậc biết rõ, thấy rõ, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác — đã nhắm đến khi Ngài nói: ‘Buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu.’ Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào, Đại vương có thương thiếp không?”
“Đúng vậy, này Mallikā, nàng là người ta thương yêu.” “Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào, nếu thiếp đổi thay và mất đi, thì buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng có sinh khởi nơi Đại vương không?” “Này Mallikā, nếu nàng đổi thay và mất đi, thì đời sống của ta cũng sẽ thay đổi; làm sao buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng lại không sinh khởi nơi ta?” “Tâu Đại vương, chính điều này là điều Đức Phật — bậc biết rõ, thấy rõ, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác — đã nhắm đến khi Ngài nói: ‘Buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu.’ “Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào, Đại vương có yêu quý xứ Kāsi và xứ Kosala không?”
“Đúng vậy, này Mallikā, ta yêu quý xứ Kāsi và xứ Kosala. Này Mallikā, nhờ sự giàu có của xứ Kāsi và xứ Kosala, chúng ta mới được dùng gỗ chiên-đàn của xứ Kāsi và dùng vòng hoa, hương thơm, phấn sáp.” “Tâu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào, nếu xứ Kāsi và xứ Kosala của Đại vương đổi thay và mất đi, thì buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng có sinh khởi nơi Đại vương không?” “Này Mallikā, nếu xứ Kāsi và xứ Kosala đổi thay và mất đi, thì đời sống của ta cũng sẽ thay đổi; làm sao buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng lại không sinh khởi nơi ta?” “Tâu Đại vương, chính điều này là điều Đức Phật — bậc biết rõ, thấy rõ, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác — đã nhắm đến khi Ngài nói:
‘Buồn thương, than khóc, khổ đau, ưu sầu, tuyệt vọng sinh ra từ người thương yêu, bắt nguồn từ người thương yêu.’” “Thật lạ thay, này Mallikā! Thật kỳ diệu thay, này Mallikā! Đức Phật ấy nhìn thấy thấu suốt bằng trí tuệ đến như vậy, theo ta thấy. Lại đây, này Mallikā, hãy lấy nước cho ta rửa.” Rồi vua Pasenadi xứ Kosala đứng dậy khỏi chỗ ngồi, sắp y lại cho lệch qua một bên vai, chắp tay hướng về phía Đức Phật, và nói lên lời cảm khái ba lần: “Con kính lễ Đức Phật, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác! Con kính lễ Đức Phật, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác! Con kính lễ Đức Phật, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác!” Hết Kinh Ái Sanh, bài thứ 7.