Nikaya Ngôn Ngữ Hiện Đại
Trang chủ › Trung Bộ › Kinh Sáu Sáu

Kinh Sáu Sáu

Chachakkasutta · MN148 · 227 đoạn

Đức Phật giảng sáu bộ sáu: sáu xứ bên trong, sáu xứ bên ngoài, sáu nhóm thức, sáu nhóm xúc, sáu nhóm cảm thọ và sáu nhóm khát ái. Ngài chỉ rõ không yếu tố nào trong các bộ sáu ấy có thể là tự ngã, vì tất cả đều có sinh khởi và diệt mất; xem chúng là “của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi” là con đường sinh khởi thân kiến, xem ngược lại là con đường chấm dứt thân kiến. Bài kinh khép lại bằng cách buông bỏ tùy miên tham, sân và vô minh nơi ba loại cảm thọ — và sáu mươi vị Tỷ-kheo được giải thoát ngay trong lúc nghe giảng.

Điểm thực hành

Khi cảm thọ vui khởi lên, đừng hoan hỷ bám chặt lấy nó; khi cảm thọ khổ khởi lên, đừng buồn sầu chống cự; khi cảm thọ không khổ không vui khởi lên, hãy biết rõ nó sinh khởi và tan biến như thế nào — đó là cách không để tùy miên tham, sân, vô minh bám theo.

Tôi nghe kể lại như vầy: Một lần, Đức Phật ở thành Xá-vệ, trong rừng Kỳ-đà, khu vườn của ông Cấp Cô Độc. Ở đó, Đức Phật gọi các Tỷ-kheo (vị tu sĩ khất thực): — Này các Tỷ-kheo! — Bạch Thế Tôn. Các vị ấy đáp lại Đức Phật. Đức Phật nói như sau: — Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các ông bài Pháp tốt đẹp ở đầu, tốt đẹp ở giữa, tốt đẹp ở cuối, đầy đủ ý nghĩa, lời lẽ rõ ràng; Ta sẽ chỉ ra đời sống Phạm hạnh trọn vẹn và trong sạch, đó là: sáu bộ sáu. Hãy nghe và để tâm cho kỹ, Ta sẽ nói. — Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Các Tỷ-kheo đáp lại Đức Phật. Đức Phật nói như sau: — Cần phải hiểu rõ sáu xứ bên trong. Cần phải hiểu rõ sáu xứ bên ngoài. Cần phải hiểu rõ sáu nhóm thức. Cần phải hiểu rõ sáu nhóm xúc (sự tiếp xúc). Cần phải hiểu rõ sáu nhóm cảm thọ (cảm giác dễ chịu, khó chịu hay trung tính sinh ra khi tiếp xúc). Cần phải hiểu rõ sáu nhóm khát ái.

— 'Cần phải hiểu rõ sáu xứ bên trong' — lời ấy Ta đã nói như vậy. Nhưng vì sao Ta nói như vậy? Đó là: xứ mắt, xứ tai, xứ mũi, xứ lưỡi, xứ thân, xứ ý. 'Cần phải hiểu rõ sáu xứ bên trong' — lời Ta đã nói như vậy, chính là dựa vào điều này. Đây là bộ sáu thứ nhất. — 'Cần phải hiểu rõ sáu xứ bên ngoài' — lời ấy Ta đã nói như vậy. Nhưng vì sao Ta nói như vậy? Đó là: xứ hình sắc, xứ tiếng, xứ mùi, xứ vị, xứ vật chạm, xứ pháp. 'Cần phải hiểu rõ sáu xứ bên ngoài' — lời Ta đã nói như vậy, chính là dựa vào điều này. Đây là bộ sáu thứ hai. — 'Cần phải hiểu rõ sáu nhóm thức' — lời ấy Ta đã nói như vậy. Nhưng vì sao Ta nói như vậy? Do nương vào mắt và các sắc, nhãn thức (cái biết của mắt) sinh khởi, Do nương vào tai và các tiếng, nhĩ thức sinh khởi, Do nương vào mũi và các mùi, tỷ thức sinh khởi, Do nương vào lưỡi và các vị, thiệt thức sinh khởi, Do nương vào thân và các vật chạm, thân thức sinh khởi, Do nương vào ý và các pháp, ý thức sinh khởi.

'Cần phải hiểu rõ sáu nhóm thức' — lời Ta đã nói như vậy, chính là dựa vào điều này. Đây là bộ sáu thứ ba. — 'Cần phải hiểu rõ sáu nhóm xúc' — lời ấy Ta đã nói như vậy. Nhưng vì sao Ta nói như vậy? Do nương vào mắt và các sắc, nhãn thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; Do nương vào tai và các tiếng, nhĩ thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; Do nương vào mũi và các mùi, tỷ thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; Do nương vào lưỡi và các vị, thiệt thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; Do nương vào thân và các vật chạm, thân thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; Do nương vào ý và các pháp, ý thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc.

'Cần phải hiểu rõ sáu nhóm xúc' — lời Ta đã nói như vậy, chính là dựa vào điều này. Đây là bộ sáu thứ tư. — 'Cần phải hiểu rõ sáu nhóm cảm thọ' — lời ấy Ta đã nói như vậy. Nhưng vì sao Ta nói như vậy? Do nương vào mắt và các sắc, nhãn thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc mà có cảm thọ; Do nương vào tai và các tiếng, nhĩ thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc mà có cảm thọ; Do nương vào mũi và các mùi, tỷ thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc mà có cảm thọ; Do nương vào lưỡi và các vị, thiệt thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc mà có cảm thọ; Do nương vào thân và các vật chạm, thân thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc mà có cảm thọ; Do nương vào ý và các pháp, ý thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc mà có cảm thọ.

'Cần phải hiểu rõ sáu nhóm cảm thọ' — lời Ta đã nói như vậy, chính là dựa vào điều này. Đây là bộ sáu thứ năm. — 'Cần phải hiểu rõ sáu nhóm khát ái' — lời ấy Ta đã nói như vậy. Nhưng vì sao Ta nói như vậy? Do nương vào mắt và các sắc, nhãn thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc mà có cảm thọ; do duyên cảm thọ mà có khát ái; Do nương vào tai và các tiếng, nhĩ thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc mà có cảm thọ; do duyên cảm thọ mà có khát ái; Do nương vào mũi và các mùi, tỷ thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc mà có cảm thọ; do duyên cảm thọ mà có khát ái; Do nương vào lưỡi và các vị, thiệt thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc mà có cảm thọ; do duyên cảm thọ mà có khát ái; Do nương vào thân và các vật chạm, thân thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc mà có cảm thọ; do duyên cảm thọ mà có khát ái; Do nương vào ý và các pháp, ý thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc mà có cảm thọ; do duyên cảm thọ mà có khát ái.

'Cần phải hiểu rõ sáu nhóm khát ái' — lời Ta đã nói như vậy, chính là dựa vào điều này. Đây là bộ sáu thứ sáu. Ai nói: 'Con mắt là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của con mắt thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'con mắt là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên con mắt không phải là tự ngã. Ai nói: 'Các sắc là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của các sắc thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'.

Vì vậy, ai nói rằng 'các sắc là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên con mắt và các sắc đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Nhãn thức là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của nhãn thức thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'nhãn thức là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên con mắt, các sắc và nhãn thức đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Nhãn xúc là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của nhãn xúc thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'.

Vì vậy, ai nói rằng 'nhãn xúc là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên con mắt, các sắc, nhãn thức và nhãn xúc đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Cảm thọ là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của cảm thọ thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'cảm thọ là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên con mắt, các sắc, nhãn thức, nhãn xúc và cảm thọ đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Khát ái là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của khát ái thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'.

Vì vậy, ai nói rằng 'khát ái là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên con mắt, các sắc, nhãn thức, nhãn xúc, cảm thọ và khát ái đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Tai là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của tai thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'tai là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên tai không phải là tự ngã. Ai nói: 'Các tiếng là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của các tiếng thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'các tiếng là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên tai và các tiếng đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Nhĩ thức là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của nhĩ thức thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'nhĩ thức là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên tai, các tiếng và nhĩ thức đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Nhĩ xúc là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của nhĩ xúc thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'nhĩ xúc là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên tai, các tiếng, nhĩ thức và nhĩ xúc đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Cảm thọ là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của cảm thọ thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'cảm thọ là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên tai, các tiếng, nhĩ thức, nhĩ xúc và cảm thọ đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Khát ái là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của khát ái thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'khát ái là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên tai, các tiếng, nhĩ thức, nhĩ xúc, cảm thọ và khát ái đều không phải là tự ngã.

Ai nói: 'Mũi là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của mũi thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'mũi là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên mũi không phải là tự ngã. Ai nói: 'Các mùi là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của các mùi thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'các mùi là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên mũi và các mùi đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Tỷ thức là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của tỷ thức thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'tỷ thức là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên mũi, các mùi và tỷ thức đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Tỷ xúc là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của tỷ xúc thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'tỷ xúc là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên mũi, các mùi, tỷ thức và tỷ xúc đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Cảm thọ là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của cảm thọ thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'cảm thọ là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên mũi, các mùi, tỷ thức, tỷ xúc và cảm thọ đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Khát ái là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của khát ái thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'khát ái là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên mũi, các mùi, tỷ thức, tỷ xúc, cảm thọ và khát ái đều không phải là tự ngã.

Ai nói: 'Lưỡi là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của lưỡi thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'lưỡi là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên lưỡi không phải là tự ngã. Ai nói: 'Các vị là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của các vị thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'các vị là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên lưỡi và các vị đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Thiệt thức là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của thiệt thức thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'thiệt thức là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên lưỡi, các vị và thiệt thức đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Thiệt xúc là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của thiệt xúc thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'thiệt xúc là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên lưỡi, các vị, thiệt thức và thiệt xúc đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Cảm thọ là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của cảm thọ thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'cảm thọ là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên lưỡi, các vị, thiệt thức, thiệt xúc và cảm thọ đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Khát ái là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của khát ái thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'khát ái là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên lưỡi, các vị, thiệt thức, thiệt xúc, cảm thọ và khát ái đều không phải là tự ngã.

Ai nói: 'Thân là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của thân thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'thân là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên thân không phải là tự ngã. Ai nói: 'Các vật chạm là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của các vật chạm thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'các vật chạm là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên thân và các vật chạm đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Thân thức là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của thân thức thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'thân thức là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên thân, các vật chạm và thân thức đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Thân xúc là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của thân xúc thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'thân xúc là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên thân, các vật chạm, thân thức và thân xúc đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Cảm thọ là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của cảm thọ thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'cảm thọ là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên thân, các vật chạm, thân thức, thân xúc và cảm thọ đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Khát ái là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của khát ái thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'khát ái là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên thân, các vật chạm, thân thức, thân xúc, cảm thọ và khát ái đều không phải là tự ngã.

Ai nói: 'Ý là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của ý thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'ý là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên ý không phải là tự ngã. Ai nói: 'Các pháp là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của các pháp thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'các pháp là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên ý và các pháp đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Ý thức là tự ngã' — nói vậy không đứng vững.

Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của ý thức thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'ý thức là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên ý, các pháp và ý thức đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Ý xúc là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của ý xúc thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'ý xúc là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên ý, các pháp, ý thức và ý xúc đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Cảm thọ là tự ngã' — nói vậy không đứng vững.

Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của cảm thọ thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'cảm thọ là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên ý, các pháp, ý thức, ý xúc và cảm thọ đều không phải là tự ngã. Ai nói: 'Khát ái là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vì sự sinh khởi và sự diệt mất của khát ái thấy rõ được; cái gì có sự sinh khởi và diệt mất thấy rõ, thì buộc phải đi đến kết luận: 'Tự ngã của tôi sinh ra rồi diệt mất'. Vì vậy, ai nói rằng 'khát ái là tự ngã' — nói vậy không đứng vững. Vậy nên ý, các pháp, ý thức, ý xúc, cảm thọ và khát ái đều không phải là tự ngã.

— Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến sự sinh khởi của thân kiến (cái nhìn cho rằng có một cái 'ta' thật ở trong thân này): Người ấy xem con mắt như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem các sắc như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem nhãn thức như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem nhãn xúc như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem cảm thọ như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem khát ái như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem tai như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem các tiếng như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem nhĩ thức như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem nhĩ xúc như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem cảm thọ như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem khát ái như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'.

Người ấy xem mũi như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem các mùi như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem tỷ thức như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem tỷ xúc như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem cảm thọ như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem khát ái như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'. Người ấy xem lưỡi như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem các vị như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem thiệt thức như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem thiệt xúc như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem cảm thọ như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem khát ái như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'.

Người ấy xem thân như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem các vật chạm như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem thân thức như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem thân xúc như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem cảm thọ như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem khát ái như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'. Người ấy xem ý như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem các pháp như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem ý thức như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem ý xúc như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem cảm thọ như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'; Người ấy xem khát ái như thế này: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'.

— Nhưng này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến sự chấm dứt của thân kiến: Người ấy xem con mắt như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'. Người ấy xem các sắc như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem nhãn thức như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem nhãn xúc như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem cảm thọ như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem khát ái như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem tai như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem các tiếng như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem nhĩ thức như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem nhĩ xúc như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem cảm thọ như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem khát ái như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'.

Người ấy xem mũi như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem các mùi như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem tỷ thức như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem tỷ xúc như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem cảm thọ như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem khát ái như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'.

Người ấy xem lưỡi như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem các vị như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem thiệt thức như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem thiệt xúc như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem cảm thọ như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem khát ái như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'.

Người ấy xem thân như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem các vật chạm như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem thân thức như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem thân xúc như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem cảm thọ như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem khát ái như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'.

Người ấy xem ý như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem các pháp như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem ý thức như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem ý xúc như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem cảm thọ như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'; Người ấy xem khát ái như thế này: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi'.

Do nương vào mắt và các sắc, nhãn thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc, cái được cảm nhận là vui, là khổ, hay không khổ không vui sinh khởi. Khi cảm nhận một cảm thọ vui, nếu vị ấy hoan hỷ với nó, tán dương nó, bám chặt lấy nó mà ở lại, thì tùy miên tham (khuynh hướng tham ngấm ngầm trong tâm) bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ khổ, nếu vị ấy buồn sầu, mệt mỏi, than khóc, đập ngực than van, rơi vào mê loạn, thì tùy miên sân bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ không khổ không vui, nếu vị ấy không biết rõ như thật sự sinh khởi, sự tan biến, vị ngọt, mặt nguy hại và lối thoát của cảm thọ ấy, thì tùy miên vô minh bám theo vị ấy.

Này các Tỷ-kheo, nếu không từ bỏ tùy miên tham đối với cảm thọ vui, không trừ khử tùy miên sân đối với cảm thọ khổ, không nhổ sạch tùy miên vô minh đối với cảm thọ không khổ không vui, không từ bỏ vô minh và không làm sinh khởi trí tuệ, thì không thể nào chấm dứt khổ ngay trong đời này được. Do nương vào tai và các tiếng, nhĩ thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc, cái được cảm nhận là vui, là khổ, hay không khổ không vui sinh khởi. Khi cảm nhận một cảm thọ vui, nếu vị ấy hoan hỷ với nó, tán dương nó, bám chặt lấy nó mà ở lại, thì tùy miên tham bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ khổ, nếu vị ấy buồn sầu, mệt mỏi, than khóc, đập ngực than van, rơi vào mê loạn, thì tùy miên sân bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ không khổ không vui, nếu vị ấy không biết rõ như thật sự sinh khởi, sự tan biến, vị ngọt, mặt nguy hại và lối thoát của cảm thọ ấy, thì tùy miên vô minh bám theo vị ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu không từ bỏ tùy miên tham đối với cảm thọ vui, không trừ khử tùy miên sân đối với cảm thọ khổ, không nhổ sạch tùy miên vô minh đối với cảm thọ không khổ không vui, không từ bỏ vô minh và không làm sinh khởi trí tuệ, thì không thể nào chấm dứt khổ ngay trong đời này được.

Do nương vào mũi và các mùi, tỷ thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc, cái được cảm nhận là vui, là khổ, hay không khổ không vui sinh khởi. Khi cảm nhận một cảm thọ vui, nếu vị ấy hoan hỷ với nó, tán dương nó, bám chặt lấy nó mà ở lại, thì tùy miên tham bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ khổ, nếu vị ấy buồn sầu, mệt mỏi, than khóc, đập ngực than van, rơi vào mê loạn, thì tùy miên sân bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ không khổ không vui, nếu vị ấy không biết rõ như thật sự sinh khởi, sự tan biến, vị ngọt, mặt nguy hại và lối thoát của cảm thọ ấy, thì tùy miên vô minh bám theo vị ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu không từ bỏ tùy miên tham đối với cảm thọ vui, không trừ khử tùy miên sân đối với cảm thọ khổ, không nhổ sạch tùy miên vô minh đối với cảm thọ không khổ không vui, không từ bỏ vô minh và không làm sinh khởi trí tuệ, thì không thể nào chấm dứt khổ ngay trong đời này được.

Do nương vào lưỡi và các vị, thiệt thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc, cái được cảm nhận là vui, là khổ, hay không khổ không vui sinh khởi. Khi cảm nhận một cảm thọ vui, nếu vị ấy hoan hỷ với nó, tán dương nó, bám chặt lấy nó mà ở lại, thì tùy miên tham bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ khổ, nếu vị ấy buồn sầu, mệt mỏi, than khóc, đập ngực than van, rơi vào mê loạn, thì tùy miên sân bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ không khổ không vui, nếu vị ấy không biết rõ như thật sự sinh khởi, sự tan biến, vị ngọt, mặt nguy hại và lối thoát của cảm thọ ấy, thì tùy miên vô minh bám theo vị ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu không từ bỏ tùy miên tham đối với cảm thọ vui, không trừ khử tùy miên sân đối với cảm thọ khổ, không nhổ sạch tùy miên vô minh đối với cảm thọ không khổ không vui, không từ bỏ vô minh và không làm sinh khởi trí tuệ, thì không thể nào chấm dứt khổ ngay trong đời này được.

Do nương vào thân và các vật chạm, thân thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc, cái được cảm nhận là vui, là khổ, hay không khổ không vui sinh khởi. Khi cảm nhận một cảm thọ vui, nếu vị ấy hoan hỷ với nó, tán dương nó, bám chặt lấy nó mà ở lại, thì tùy miên tham bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ khổ, nếu vị ấy buồn sầu, mệt mỏi, than khóc, đập ngực than van, rơi vào mê loạn, thì tùy miên sân bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ không khổ không vui, nếu vị ấy không biết rõ như thật sự sinh khởi, sự tan biến, vị ngọt, mặt nguy hại và lối thoát của cảm thọ ấy, thì tùy miên vô minh bám theo vị ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu không từ bỏ tùy miên tham đối với cảm thọ vui, không trừ khử tùy miên sân đối với cảm thọ khổ, không nhổ sạch tùy miên vô minh đối với cảm thọ không khổ không vui, không từ bỏ vô minh và không làm sinh khởi trí tuệ, thì không thể nào chấm dứt khổ ngay trong đời này được.

Do nương vào ý và các pháp, ý thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc, cái được cảm nhận là vui, là khổ, hay không khổ không vui sinh khởi. Khi cảm nhận một cảm thọ vui, nếu vị ấy hoan hỷ với nó, tán dương nó, bám chặt lấy nó mà ở lại, thì tùy miên tham bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ khổ, nếu vị ấy buồn sầu, mệt mỏi, than khóc, đập ngực than van, rơi vào mê loạn, thì tùy miên sân bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ không khổ không vui, nếu vị ấy không biết rõ như thật sự sinh khởi, sự tan biến, vị ngọt, mặt nguy hại và lối thoát của cảm thọ ấy, thì tùy miên vô minh bám theo vị ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu không từ bỏ tùy miên tham đối với cảm thọ vui, không trừ khử tùy miên sân đối với cảm thọ khổ, không nhổ sạch tùy miên vô minh đối với cảm thọ không khổ không vui, không từ bỏ vô minh và không làm sinh khởi trí tuệ, thì không thể nào chấm dứt khổ ngay trong đời này được.

Do nương vào mắt và các sắc, nhãn thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc, cái được cảm nhận là vui, là khổ, hay không khổ không vui sinh khởi. Khi cảm nhận một cảm thọ vui, nếu vị ấy không hoan hỷ với nó, không tán dương nó, không bám chặt lấy nó mà ở lại, thì tùy miên tham không bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ khổ, nếu vị ấy không buồn sầu, không mệt mỏi, không than khóc, không đập ngực than van, không rơi vào mê loạn, thì tùy miên sân không bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ không khổ không vui, nếu vị ấy biết rõ như thật sự sinh khởi, sự tan biến, vị ngọt, mặt nguy hại và lối thoát của cảm thọ ấy, thì tùy miên vô minh không bám theo vị ấy.

Này các Tỷ-kheo, nếu đã từ bỏ tùy miên tham đối với cảm thọ vui, đã trừ khử tùy miên sân đối với cảm thọ khổ, đã nhổ sạch tùy miên vô minh đối với cảm thọ không khổ không vui, đã từ bỏ vô minh và làm sinh khởi trí tuệ, thì có thể chấm dứt khổ ngay trong đời này. Do nương vào tai và các tiếng, nhĩ thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc, cái được cảm nhận là vui, là khổ, hay không khổ không vui sinh khởi. Khi cảm nhận một cảm thọ vui, nếu vị ấy không hoan hỷ với nó, không tán dương nó, không bám chặt lấy nó mà ở lại, thì tùy miên tham không bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ khổ, nếu vị ấy không buồn sầu, không mệt mỏi, không than khóc, không đập ngực than van, không rơi vào mê loạn, thì tùy miên sân không bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ không khổ không vui, nếu vị ấy biết rõ như thật sự sinh khởi, sự tan biến, vị ngọt, mặt nguy hại và lối thoát của cảm thọ ấy, thì tùy miên vô minh không bám theo vị ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu đã từ bỏ tùy miên tham đối với cảm thọ vui, đã trừ khử tùy miên sân đối với cảm thọ khổ, đã nhổ sạch tùy miên vô minh đối với cảm thọ không khổ không vui, đã từ bỏ vô minh và làm sinh khởi trí tuệ, thì có thể chấm dứt khổ ngay trong đời này.

Do nương vào mũi và các mùi, tỷ thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc, cái được cảm nhận là vui, là khổ, hay không khổ không vui sinh khởi. Khi cảm nhận một cảm thọ vui, nếu vị ấy không hoan hỷ với nó, không tán dương nó, không bám chặt lấy nó mà ở lại, thì tùy miên tham không bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ khổ, nếu vị ấy không buồn sầu, không mệt mỏi, không than khóc, không đập ngực than van, không rơi vào mê loạn, thì tùy miên sân không bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ không khổ không vui, nếu vị ấy biết rõ như thật sự sinh khởi, sự tan biến, vị ngọt, mặt nguy hại và lối thoát của cảm thọ ấy, thì tùy miên vô minh không bám theo vị ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu đã từ bỏ tùy miên tham đối với cảm thọ vui, đã trừ khử tùy miên sân đối với cảm thọ khổ, đã nhổ sạch tùy miên vô minh đối với cảm thọ không khổ không vui, đã từ bỏ vô minh và làm sinh khởi trí tuệ, thì có thể chấm dứt khổ ngay trong đời này.

Do nương vào lưỡi và các vị, thiệt thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc, cái được cảm nhận là vui, là khổ, hay không khổ không vui sinh khởi. Khi cảm nhận một cảm thọ vui, nếu vị ấy không hoan hỷ với nó, không tán dương nó, không bám chặt lấy nó mà ở lại, thì tùy miên tham không bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ khổ, nếu vị ấy không buồn sầu, không mệt mỏi, không than khóc, không đập ngực than van, không rơi vào mê loạn, thì tùy miên sân không bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ không khổ không vui, nếu vị ấy biết rõ như thật sự sinh khởi, sự tan biến, vị ngọt, mặt nguy hại và lối thoát của cảm thọ ấy, thì tùy miên vô minh không bám theo vị ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu đã từ bỏ tùy miên tham đối với cảm thọ vui, đã trừ khử tùy miên sân đối với cảm thọ khổ, đã nhổ sạch tùy miên vô minh đối với cảm thọ không khổ không vui, đã từ bỏ vô minh và làm sinh khởi trí tuệ, thì có thể chấm dứt khổ ngay trong đời này.

Do nương vào thân và các vật chạm, thân thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc, cái được cảm nhận là vui, là khổ, hay không khổ không vui sinh khởi. Khi cảm nhận một cảm thọ vui, nếu vị ấy không hoan hỷ với nó, không tán dương nó, không bám chặt lấy nó mà ở lại, thì tùy miên tham không bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ khổ, nếu vị ấy không buồn sầu, không mệt mỏi, không than khóc, không đập ngực than van, không rơi vào mê loạn, thì tùy miên sân không bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ không khổ không vui, nếu vị ấy biết rõ như thật sự sinh khởi, sự tan biến, vị ngọt, mặt nguy hại và lối thoát của cảm thọ ấy, thì tùy miên vô minh không bám theo vị ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu đã từ bỏ tùy miên tham đối với cảm thọ vui, đã trừ khử tùy miên sân đối với cảm thọ khổ, đã nhổ sạch tùy miên vô minh đối với cảm thọ không khổ không vui, đã từ bỏ vô minh và làm sinh khởi trí tuệ, thì có thể chấm dứt khổ ngay trong đời này.

Do nương vào ý và các pháp, ý thức sinh khởi; ba yếu tố ấy gặp nhau là xúc; do duyên xúc, cái được cảm nhận là vui, là khổ, hay không khổ không vui sinh khởi. Khi cảm nhận một cảm thọ vui, nếu vị ấy không hoan hỷ với nó, không tán dương nó, không bám chặt lấy nó mà ở lại, thì tùy miên tham không bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ khổ, nếu vị ấy không buồn sầu, không mệt mỏi, không than khóc, không đập ngực than van, không rơi vào mê loạn, thì tùy miên sân không bám theo vị ấy. Khi cảm nhận một cảm thọ không khổ không vui, nếu vị ấy biết rõ như thật sự sinh khởi, sự tan biến, vị ngọt, mặt nguy hại và lối thoát của cảm thọ ấy, thì tùy miên vô minh không bám theo vị ấy.

Này các Tỷ-kheo, nếu đã từ bỏ tùy miên tham đối với cảm thọ vui, đã trừ khử tùy miên sân đối với cảm thọ khổ, đã nhổ sạch tùy miên vô minh đối với cảm thọ không khổ không vui, đã từ bỏ vô minh và làm sinh khởi trí tuệ, thì có thể chấm dứt khổ ngay trong đời này. Thấy như vậy, này các Tỷ-kheo, vị đệ tử bậc Thánh có học nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc, nhàm chán đối với cảm thọ, nhàm chán đối với khát ái. Vị ấy nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với nhĩ thức, nhàm chán đối với nhĩ xúc, nhàm chán đối với cảm thọ, nhàm chán đối với khát ái. Vị ấy nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với tỷ thức, nhàm chán đối với tỷ xúc, nhàm chán đối với cảm thọ, nhàm chán đối với khát ái.

Vị ấy nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với thiệt thức, nhàm chán đối với thiệt xúc, nhàm chán đối với cảm thọ, nhàm chán đối với khát ái. Vị ấy nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với các vật chạm, nhàm chán đối với thân thức, nhàm chán đối với thân xúc, nhàm chán đối với cảm thọ, nhàm chán đối với khát ái. Vị ấy nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc, nhàm chán đối với cảm thọ, nhàm chán đối với khát ái. Khi đã nhàm chán, vị ấy hết tham đắm; do hết tham đắm, vị ấy được giải thoát. Khi đã được giải thoát, vị ấy biết: 'Ta đã được giải thoát'. Vị ấy hiểu rõ: 'Sự tái sinh đã chấm dứt, đời sống Phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui đời sống này nữa'.

Đức Phật nói như vậy. Các Tỷ-kheo vui mừng đón nhận lời Đức Phật dạy. Và trong lúc bài giảng này đang được nói, tâm của sáu mươi vị Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc (những ô nhiễm sâu trong tâm), không còn bám chấp. Kinh Sáu Sáu đến đây là hết, bài thứ 6.