Kinh Tiểu Khổ Uẩn
Ông Mahānāma, một đệ tử tại gia thuộc dòng họ Thích-ca, thưa với Đức Phật rằng ông hiểu tham, sân, si là những thứ làm dơ bẩn tâm, nhưng thỉnh thoảng tâm vẫn bị chúng chiếm giữ. Đức Phật giải thích: chỉ thấy rõ mặt nguy hại của vui thú giác quan thì chưa đủ; chừng nào chưa nếm được niềm hỷ và sự an lạc tách biệt hẳn với giác quan, người ta vẫn còn quay lại. Rồi Ngài kể chuyện đối thoại với các du sĩ Ni-kiền-tử khổ hạnh ở tảng đá Đen, kết bằng việc Ngài có thể ngồi yên, cảm nhận an lạc trọn vẹn suốt bảy ngày bảy đêm.
Điểm thực hànhĐừng chỉ tự trách mình mỗi khi tham, sân, si nổi lên; hãy nuôi một niềm an lạc sâu hơn, không dựa vào giác quan — có chỗ nương tựa yên tĩnh hơn thì tâm mới hết quay lại với vui thú giác quan.
Tôi nghe kể lại như vầy: Một lần, Đức Phật ở tại xứ của dòng họ Thích-ca, gần thành Ca-tỳ-la-vệ, trong khu vườn Nigrodha. Bấy giờ, ông Mahānāma thuộc dòng họ Thích-ca đến chỗ Đức Phật, cúi lạy Ngài, rồi ngồi xuống một bên và thưa: “Bạch Thế Tôn, từ lâu con đã hiểu lời dạy của Thế Tôn như thế này: ‘Tham là thứ làm dơ bẩn tâm, sân là thứ làm dơ bẩn tâm, si là thứ làm dơ bẩn tâm.’ Bạch Thế Tôn, con hiểu lời dạy của Thế Tôn là: ‘Tham là thứ làm dơ bẩn tâm, sân là thứ làm dơ bẩn tâm, si là thứ làm dơ bẩn tâm.’ Thế nhưng, dù hiểu như vậy, thỉnh thoảng tâm con vẫn bị những ý nghĩ tham chiếm giữ, bị những ý nghĩ sân chiếm giữ, bị những ý nghĩ si chiếm giữ.
Bạch Thế Tôn, lúc ấy con tự hỏi: ‘Còn điều gì trong ta chưa dứt bỏ, khiến thỉnh thoảng tâm ta bị những ý nghĩ tham chiếm giữ, bị những ý nghĩ sân chiếm giữ, bị những ý nghĩ si chiếm giữ?’” Đức Phật dạy: — Này Mahānāma, đúng là có một điều trong ông chưa dứt bỏ, khiến thỉnh thoảng tâm ông bị những ý nghĩ tham chiếm giữ, bị những ý nghĩ sân chiếm giữ, bị những ý nghĩ si chiếm giữ. Này Mahānāma, nếu ông đã dứt bỏ được điều ấy, ông đã không còn sống ở nhà, không còn hưởng các vui thú giác quan nữa. Chính vì ông chưa dứt bỏ được điều ấy, nên ông vẫn còn sống ở nhà và hưởng các vui thú giác quan. — ‘Vui thú giác quan cho vị ngọt rất ít, khổ nhiều, phiền não nhiều, mặt nguy hại trong đó còn nhiều hơn’ — này Mahānāma, dù một đệ tử bậc thánh đã thấy rõ điều này đúng như thật bằng tuệ đúng đắn, nhưng nếu người ấy chưa đạt được niềm hỷ và sự an lạc tách biệt hẳn với các vui thú giác quan, tách biệt hẳn với các điều không lành, hay một trạng thái nào còn yên tĩnh hơn thế, thì người ấy vẫn còn có thể quay lại với các vui thú giác quan.
Nhưng khi nào, này Mahānāma, đệ tử bậc thánh ấy — với tuệ đúng đắn — đã thấy rõ đúng như thật rằng ‘vui thú giác quan cho vị ngọt rất ít, khổ nhiều, phiền não nhiều, mặt nguy hại trong đó còn nhiều hơn’, và đã đạt được niềm hỷ và sự an lạc ấy, hay một trạng thái nào còn yên tĩnh hơn thế, thì người ấy không còn quay lại với các vui thú giác quan nữa. Này Mahānāma, trước khi giác ngộ, khi Ta còn chưa giác ngộ, còn là một vị Bồ-tát đang hướng đến giác ngộ, Ta cũng đã thấy rõ bằng tuệ đúng đắn, đúng như thật, rằng: ‘Vui thú giác quan cho vị ngọt rất ít, khổ nhiều, phiền não nhiều, mặt nguy hại trong đó còn nhiều hơn’ — Ta đã thấy rõ điều này đúng như thật; nhưng chừng nào Ta chưa đạt được niềm hỷ và sự an lạc tách biệt hẳn với các vui thú giác quan, tách biệt hẳn với các điều không lành, hay một trạng thái nào còn yên tĩnh hơn thế, thì Ta vẫn chưa tuyên bố rằng mình không còn quay lại với các vui thú giác quan.
Nhưng khi nào, này Mahānāma, Ta đã thấy rõ bằng tuệ đúng đắn, đúng như thật, rằng ‘vui thú giác quan cho vị ngọt rất ít, khổ nhiều, phiền não nhiều, mặt nguy hại trong đó còn nhiều hơn’, và đã đạt được niềm hỷ và sự an lạc ấy, hay một trạng thái nào còn yên tĩnh hơn thế, thì Ta mới tuyên bố rằng mình không còn quay lại với các vui thú giác quan nữa. — Vậy vị ngọt của vui thú giác quan là gì, này Mahānāma? Có năm thứ vui thú của giác quan. Năm thứ nào? Những hình sắc mà mắt nhận biết được, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, đáng yêu, gợi ham muốn và khơi lòng tham đắm; những âm thanh mà tai nhận biết được, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, đáng yêu, gợi ham muốn và khơi lòng tham đắm; những mùi hương mà mũi nhận biết được, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, đáng yêu, gợi ham muốn và khơi lòng tham đắm; những vị mà lưỡi nhận biết được, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, đáng yêu, gợi ham muốn và khơi lòng tham đắm; những xúc chạm mà thân nhận biết được, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, đáng yêu, gợi ham muốn và khơi lòng tham đắm — đó là năm thứ vui thú của giác quan, này Mahānāma.
Này Mahānāma, cái vui và niềm hạnh phúc sinh ra từ năm thứ vui thú giác quan ấy — đó là vị ngọt của vui thú giác quan. — Vậy mặt nguy hại của vui thú giác quan là gì, này Mahānāma? Ở đây, này Mahānāma, một người con nhà tử tế kiếm sống bằng một nghề nào đó — nghề tính toán, nghề kế toán, nghề tính sổ, nghề làm ruộng, nghề buôn bán, nghề chăn bò, nghề bắn cung, nghề phục vụ nhà vua, hay một nghề nào khác; người ấy phải chịu lạnh, chịu nóng, bị ruồi muỗi, gió, nắng và các loài bò sát đốt chạm làm đau, có khi chết vì đói khát. Này Mahānāma, đây cũng là một mặt nguy hại của vui thú giác quan, thấy ngay trong đời này: một khối khổ do vui thú giác quan gây ra, vì vui thú giác quan, từ vui thú giác quan mà đến.
Này Mahānāma, giả sử người con nhà tử tế ấy cố gắng, nỗ lực, phấn đấu như vậy mà tài sản vẫn không làm ra được, người ấy buồn rầu, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực khóc lóc, rơi vào mê muội, nói rằng: ‘Ôi, công sức của ta đổ sông đổ biển! Nỗ lực của ta chẳng được gì!’ Này Mahānāma, đây cũng là một mặt nguy hại của vui thú giác quan, thấy ngay trong đời này: một khối khổ do vui thú giác quan gây ra, vì vui thú giác quan, từ vui thú giác quan mà đến. Này Mahānāma, giả sử người con nhà tử tế ấy cố gắng, nỗ lực, phấn đấu như vậy và tài sản làm ra được. Người ấy phải chịu khổ và buồn phiền để gìn giữ những tài sản đó, tự nghĩ: ‘Làm sao để tài sản của ta không bị nhà vua lấy mất, không bị kẻ trộm cướp mất, không bị lửa cháy, không bị nước cuốn trôi, không bị những người thừa kế không thương mình lấy mất?’ Dù người ấy canh giữ, bảo vệ như vậy, tài sản vẫn bị nhà vua lấy mất, hay bị kẻ trộm cướp mất, hay bị lửa cháy, hay bị nước cuốn trôi, hay bị những người thừa kế không thương mình lấy mất.
Người ấy buồn rầu, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực khóc lóc, rơi vào mê muội, nói rằng: ‘Cái từng là của ta, nay không còn nữa!’ Này Mahānāma, đây cũng là một mặt nguy hại của vui thú giác quan, thấy ngay trong đời này: một khối khổ do vui thú giác quan gây ra, vì vui thú giác quan, từ vui thú giác quan mà đến. Lại nữa, này Mahānāma, vì vui thú giác quan, do vui thú giác quan, từ vui thú giác quan mà đến, vua cãi nhau với vua, quý tộc cãi nhau với quý tộc, bà-la-môn cãi nhau với bà-la-môn, người gia chủ cãi nhau với người gia chủ; mẹ cãi nhau với con, con cãi nhau với mẹ; cha cãi nhau với con, con cãi nhau với cha; anh cãi nhau với anh, anh cãi nhau với em gái, em gái cãi nhau với anh; bạn bè cãi nhau với bạn bè.
Khi đã sa vào cãi vã, tranh chấp, xung đột như vậy, họ đánh nhau bằng tay, ném nhau bằng đá, đánh nhau bằng gậy, chém nhau bằng gươm, đi đến chỗ chết, hay chịu nỗi đau gần như chết. Này Mahānāma, đây cũng là một mặt nguy hại của vui thú giác quan, thấy ngay trong đời này: một khối khổ do vui thú giác quan gây ra, vì vui thú giác quan, từ vui thú giác quan mà đến. Lại nữa, này Mahānāma, vì vui thú giác quan, do vui thú giác quan, từ vui thú giác quan mà đến, người ta mang gươm và khiên, đeo cung và tên, lao vào trận đánh dàn quân hai phía, trong khi tên và giáo bay vun vút, gươm kiếm loang loáng. Ở đó, họ bị tên bắn trúng, bị giáo đâm trúng, bị gươm chém đứt đầu, đi đến chỗ chết, hay chịu nỗi đau gần như chết.
Này Mahānāma, đây cũng là một mặt nguy hại của vui thú giác quan, thấy ngay trong đời này: một khối khổ do vui thú giác quan gây ra, vì vui thú giác quan, từ vui thú giác quan mà đến. Lại nữa, này Mahānāma, vì vui thú giác quan, do vui thú giác quan, từ vui thú giác quan mà đến, người ta mang gươm và khiên, đeo cung và tên, lao vào những bức thành vừa trát vữa còn ướt, trong khi tên và giáo bay vun vút, gươm kiếm loang loáng. Ở đó, họ bị tên bắn trúng, bị giáo đâm trúng, bị tạt phân lên người, bị quân mạnh hơn nghiền nát, bị gươm chém đứt đầu, đi đến chỗ chết, hay chịu nỗi đau gần như chết. Này Mahānāma, đây cũng là một mặt nguy hại của vui thú giác quan, thấy ngay trong đời này: một khối khổ do vui thú giác quan gây ra, vì vui thú giác quan, từ vui thú giác quan mà đến.
Lại nữa, này Mahānāma, vì vui thú giác quan, do vui thú giác quan, từ vui thú giác quan mà đến, người ta phá nhà đột nhập, cướp đoạt tài sản, trộm cắp ở những ngôi nhà vắng, chặn đường cướp bóc, và ngoại tình với vợ người khác. Nhà vua bắt được họ và bắt họ chịu đủ thứ hình phạt — đánh bằng roi, đánh bằng gậy tre, đánh bằng gậy ngắn; chặt tay, chặt chân, chặt cả tay lẫn chân; cắt tai, cắt mũi, cắt cả tai lẫn mũi; hình phạt ‘nồi cháo’, hình phạt ‘cạo trọc bằng vỏ sò’, hình phạt ‘miệng La-hầu’, hình phạt ‘vòng hoa lửa’, hình phạt ‘tay làm đuốc’, hình phạt ‘xoắn cỏ tranh’, hình phạt ‘áo vỏ cây’, hình phạt ‘con nai’, hình phạt ‘móc thịt’, hình phạt ‘đồng xu’, hình phạt ‘ngâm nước xút’, hình phạt ‘xoay quanh cọc’, hình phạt ‘chiếu rơm’; bị dội dầu nóng sôi lên người, bị thả cho chó ăn thịt, bị xiên sống lên cọc, bị chém đầu bằng gươm.
Những hình phạt ấy đưa đến cái chết và nỗi đau gần như chết. Này Mahānāma, đây cũng là một mặt nguy hại của vui thú giác quan, thấy ngay trong đời này: một khối khổ do vui thú giác quan gây ra, vì vui thú giác quan, từ vui thú giác quan mà đến. Lại nữa, này Mahānāma, vì vui thú giác quan, do vui thú giác quan, từ vui thú giác quan mà đến, người ta làm điều xấu bằng thân, làm điều xấu bằng lời nói, làm điều xấu bằng ý nghĩ. Sau khi đã làm điều xấu bằng thân, bằng lời nói, bằng ý nghĩ như vậy, khi thân hoại, sau khi chết, họ bị sinh vào cõi dữ, đường dữ, chỗ sa đọa, địa ngục. Này Mahānāma, đây là mặt nguy hại của vui thú giác quan thuộc về đời sau: một khối khổ do vui thú giác quan gây ra, vì vui thú giác quan, từ vui thú giác quan mà đến.
— Này Mahānāma, một lần Ta ở gần thành Vương Xá, trên núi Linh Thứu. Lúc ấy, trên sườn núi Isigili, tại tảng đá Đen, có nhiều du sĩ Ni-kiền-tử (đạo Ni-kiền) đứng liên tục, từ chối không ngồi, và vì gắng sức như vậy, họ cảm nhận những cảm thọ đau đớn, nhói buốt, dữ dội, gay gắt. Rồi một buổi chiều, Ta rời khỏi chỗ yên tĩnh, đến tảng đá Đen trên sườn núi Isigili, đến chỗ các du sĩ Ni-kiền-tử ấy và hỏi họ: ‘Thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử, vì sao các vị đứng liên tục, từ chối không ngồi, để rồi phải cảm nhận những cảm thọ đau đớn, nhói buốt, dữ dội, gay gắt vì gắng sức như vậy?’ Khi Ta hỏi vậy, này Mahānāma, các du sĩ Ni-kiền-tử ấy trả lời Ta: ‘Thưa Hiền giả, vị Ni-kiền Nāṭaputta tự cho mình là người biết tất cả, thấy tất cả, nhận rằng mình biết và thấy mọi thứ không sót điều gì, nói rằng:
“Tri kiến của ta luôn luôn có mặt, liên tục không ngừng, dù khi ta đi, khi ta đứng, khi ta ngủ, hay khi ta thức.” Vị ấy nói: “Này các Ni-kiền-tử, các ông đã làm điều xấu trong đời trước. Hãy dùng những khổ hạnh khốc liệt và gian nan này mà làm cho nó mòn hết đi. Còn ngay bây giờ, khi các ông giữ gìn thân, giữ gìn lời nói, giữ gìn ý nghĩ, thì đó là không tạo thêm việc xấu cho tương lai. Như vậy, nhờ làm cho nghiệp cũ mòn hết bằng khổ hạnh nhiệt thành, và không tạo thêm nghiệp mới, thì tương lai không còn hệ quả nào chảy đến nữa; khi tương lai không còn hệ quả, nghiệp chấm dứt; nghiệp chấm dứt thì khổ chấm dứt; khổ chấm dứt thì cảm thọ chấm dứt; cảm thọ chấm dứt thì mọi khổ sẽ được làm cho mòn hết.”
Điều ấy chúng tôi tán thành và chấp nhận, và chúng tôi hài lòng với điều đó.’ Khi họ nói vậy, này Mahānāma, Ta nói với các du sĩ Ni-kiền-tử ấy: ‘Nhưng thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử, các vị có biết — rằng chắc chắn các vị đã từng có mặt trong đời trước, chứ không phải là chưa từng có mặt, không?’ ‘Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết.’ ‘Nhưng thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử, các vị có biết — rằng chắc chắn các vị đã làm điều xấu trong đời trước, chứ không phải là chưa làm, không?’ ‘Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết.’ ‘Nhưng thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử, các vị có biết — rằng các vị đã làm những điều xấu thuộc loại này hay loại kia, không?’ ‘Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết.’ ‘Nhưng thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử, các vị có biết — rằng bao nhiêu khổ đã mòn hết rồi, bao nhiêu khổ còn phải làm cho mòn hết, và khi bao nhiêu khổ được làm cho mòn hết thì mọi khổ sẽ mòn hết, không?’ ‘Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết.’ ‘Nhưng thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử, các vị có biết — về việc dứt bỏ các điều không lành ngay trong đời này, và đạt được các điều lành, không?’ ‘Thưa Hiền giả, chúng tôi không biết.’ ‘Như vậy xem ra, thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử, các vị không biết — rằng chắc chắn các vị đã từng có mặt trong đời trước, chứ không phải là chưa từng có mặt; các vị không biết — rằng chắc chắn các vị đã làm điều xấu trong đời trước, chứ không phải là chưa làm; các vị không biết — rằng các vị đã làm những điều xấu thuộc loại này hay loại kia; các vị không biết rằng bao nhiêu khổ đã mòn hết rồi, bao nhiêu khổ còn phải làm cho mòn hết, và khi bao nhiêu khổ được làm cho mòn hết thì mọi khổ sẽ mòn hết.
Các vị cũng không biết — về việc dứt bỏ các điều không lành ngay trong đời này, và đạt được các điều lành. Đã như vậy, thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử, những kẻ hung bạo, tay đẫm máu, sống bằng nghề tàn ác ở đời này, khi được sinh lại làm người, họ sẽ xuất gia làm du sĩ Ni-kiền-tử.’ Họ đáp: ‘Thưa Hiền giả Gotama, an lạc không đạt được bằng an lạc; an lạc đạt được bằng khổ đau. Thưa Hiền giả Gotama, nếu an lạc mà đạt được bằng an lạc, thì vua Seniya Bimbisāra của xứ Ma-kiệt-đà đã đạt được an lạc, vì vua Seniya Bimbisāra của xứ Ma-kiệt-đà sống an lạc hơn Tôn giả Gotama.’ Ta nói: ‘Rõ ràng các Tôn giả Ni-kiền-tử đã nói vội vàng, không suy xét, rằng: “Thưa Hiền giả Gotama, an lạc không đạt được bằng an lạc; an lạc đạt được bằng khổ đau.
Thưa Hiền giả Gotama, nếu an lạc mà đạt được bằng an lạc, thì vua Seniya Bimbisāra của xứ Ma-kiệt-đà đã đạt được an lạc, vì vua Seniya Bimbisāra của xứ Ma-kiệt-đà sống an lạc hơn Tôn giả Gotama.” Thật ra, chính Ta mới là người nên được hỏi về chuyện này: “Theo các Tôn giả, ai sống an lạc hơn: vua Seniya Bimbisāra của xứ Ma-kiệt-đà, hay Tôn giả Gotama?”’ Họ nói: ‘Rõ ràng chúng tôi đã nói vội vàng và không suy xét rằng: “Thưa Hiền giả Gotama, an lạc không đạt được bằng an lạc; an lạc đạt được bằng khổ đau; thưa Hiền giả Gotama, nếu an lạc mà đạt được bằng an lạc, thì vua Seniya Bimbisāra của xứ Ma-kiệt-đà đã đạt được an lạc, vì vua Seniya Bimbisāra của xứ Ma-kiệt-đà sống an lạc hơn Tôn giả Gotama.”
Nhưng thôi hãy để chuyện đó sang một bên. Bây giờ chúng tôi xin hỏi Tôn giả Gotama: “Ai sống an lạc hơn: vua Seniya Bimbisāra của xứ Ma-kiệt-đà, hay Tôn giả Gotama?”’ Ta nói: ‘Vậy thì, thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử, về chuyện này Ta sẽ hỏi lại các vị, các vị cứ trả lời theo ý mình. Các vị nghĩ sao, thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử: vua Seniya Bimbisāra của xứ Ma-kiệt-đà có làm được việc này không — không động đậy thân, không nói một lời, mà vẫn cảm nhận an lạc trọn vẹn suốt bảy ngày bảy đêm?’ ‘Thưa Hiền giả, không làm được.’ ‘Các vị nghĩ sao, thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử: vua Seniya Bimbisāra của xứ Ma-kiệt-đà có làm được việc này không — không động đậy thân, không nói một lời, mà vẫn cảm nhận an lạc trọn vẹn suốt sáu ngày sáu đêm?’ ‘Các vị nghĩ sao, thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử: vua Seniya Bimbisāra của xứ Ma-kiệt-đà có làm được việc này không — không động đậy thân, không nói một lời, mà vẫn cảm nhận an lạc trọn vẹn suốt năm ngày năm đêm?’ ‘Các vị nghĩ sao, thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử: vua Seniya Bimbisāra của xứ Ma-kiệt-đà có làm được việc này không — không động đậy thân, không nói một lời, mà vẫn cảm nhận an lạc trọn vẹn suốt bốn ngày bốn đêm?’ ‘Các vị nghĩ sao, thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử: vua Seniya Bimbisāra của xứ Ma-kiệt-đà có làm được việc này không — không động đậy thân, không nói một lời, mà vẫn cảm nhận an lạc trọn vẹn suốt ba ngày ba đêm?’ ‘Các vị nghĩ sao, thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử: vua Seniya Bimbisāra của xứ Ma-kiệt-đà có làm được việc này không — không động đậy thân, không nói một lời, mà vẫn cảm nhận an lạc trọn vẹn suốt hai ngày hai đêm?’ ‘Các vị nghĩ sao, thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử: vua Seniya Bimbisāra của xứ Ma-kiệt-đà có làm được việc này không — không động đậy thân, không nói một lời, mà vẫn cảm nhận an lạc trọn vẹn suốt một ngày một đêm?’ ‘Thưa Hiền giả, không làm được.’ ‘Còn Ta, thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử, Ta làm được việc này: không động đậy thân, không nói một lời, mà vẫn cảm nhận an lạc trọn vẹn suốt một ngày một đêm.
Ta làm được việc này: không động đậy thân, không nói một lời, mà vẫn cảm nhận an lạc trọn vẹn suốt hai ngày hai đêm. Ta làm được việc này: không động đậy thân, không nói một lời, mà vẫn cảm nhận an lạc trọn vẹn suốt ba ngày ba đêm. Ta làm được việc này: không động đậy thân, không nói một lời, mà vẫn cảm nhận an lạc trọn vẹn suốt bốn ngày bốn đêm. Ta làm được việc này: không động đậy thân, không nói một lời, mà vẫn cảm nhận an lạc trọn vẹn suốt năm ngày năm đêm. Ta làm được việc này: không động đậy thân, không nói một lời, mà vẫn cảm nhận an lạc trọn vẹn suốt sáu ngày sáu đêm. Ta làm được việc này: không động đậy thân, không nói một lời, mà vẫn cảm nhận an lạc trọn vẹn suốt bảy ngày bảy đêm.
Các vị nghĩ sao, thưa các Hiền giả Ni-kiền-tử: đã như vậy, ai sống an lạc hơn — vua Seniya Bimbisāra của xứ Ma-kiệt-đà, hay là Ta?’ ‘Đã như vậy, Tôn giả Gotama sống an lạc hơn vua Seniya Bimbisāra của xứ Ma-kiệt-đà.’” Đức Phật đã dạy như vậy. Ông Mahānāma thuộc dòng họ Thích-ca hoan hỷ, vui lòng đón nhận lời dạy của Đức Phật. Kinh Tiểu Khổ Uẩn (hết).