Kinh A-nan Nhất Dạ Hiền Giả
Tôn giả Ānanda giảng cho các Tỷ-kheo bài kệ Nhất Dạ Hiền Giả cùng phần phân tích của bài kệ: không chạy theo quá khứ, không mong ngóng tương lai bằng cách tìm niềm vui thích trong năm uẩn đã qua hay sẽ tới, và không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại bằng cách quán năm uẩn là tự ngã. Đức Phật đến, khen Ānanda giảng đúng, rồi tự mình giảng lại toàn bộ bài kệ và phần phân tích cho Ānanda nghe.
Điểm thực hànhKhi tâm chạy về quá khứ hay mơ sang tương lai, hãy quay về nhìn rõ những gì đang có mặt ngay lúc này; việc cần làm thì làm ngay hôm nay, vì không ai biết ngày mai mình còn sống hay đã chết.
Tôi nghe kể lại như vầy: Một lần, Đức Phật ở thành Xá-vệ, trong rừng Kỳ-đà, khu vườn của ông Cấp Cô Độc. Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đang ở trong giảng đường, dùng một bài thuyết Pháp để chỉ dạy, khích lệ, làm phấn khởi và làm hoan hỷ các Tỷ-kheo (vị tu sĩ khất thực); Tôn giả giảng phần tóm tắt và phần phân tích của Nhất Dạ Hiền Giả (người có được một đêm an lành). Rồi vào buổi chiều, Đức Phật từ chỗ yên tĩnh đứng dậy, đi đến giảng đường; sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ ngồi đã trải sẵn. Sau khi ngồi, Đức Phật gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo, ai vừa ở trong giảng đường dùng bài thuyết Pháp chỉ dạy, khích lệ, làm phấn khởi và làm hoan hỷ các Tỷ-kheo? Ai đã giảng phần tóm tắt và phần phân tích của Nhất Dạ Hiền Giả?”
“Bạch Thế Tôn, Tôn giả Ānanda vừa ở trong giảng đường dùng bài thuyết Pháp chỉ dạy, khích lệ, làm phấn khởi và làm hoan hỷ các Tỷ-kheo. Tôn giả đã giảng phần tóm tắt và phần phân tích của Nhất Dạ Hiền Giả.” Rồi Đức Phật bảo Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, Ông đã dùng bài thuyết Pháp chỉ dạy, khích lệ, làm phấn khởi và làm hoan hỷ các Tỷ-kheo như thế nào? Ông đã giảng phần tóm tắt và phần phân tích của Nhất Dạ Hiền Giả ra sao?” “Bạch Thế Tôn, con đã chỉ dạy, khích lệ, làm phấn khởi và làm hoan hỷ các Tỷ-kheo bằng bài thuyết Pháp như vầy; con đã giảng phần tóm tắt và phần phân tích của Nhất Dạ Hiền Giả như sau —
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
Nghĩa là
Đừng chạy theo, níu kéo những gì đã qua, cũng đừng mong ngóng những gì chưa tới. Những gì đã qua thì đã qua rồi, những gì chưa đến thì vẫn chưa đến; chỉ có những gì đang có mặt ngay lúc này là cần nhìn cho thật rõ, ngay tại đây. Nhìn rõ như vậy, tâm không bị lôi cuốn, không rung chuyển; ai biết được như thế thì hãy nuôi lớn sự hiểu biết ấy. Việc cần làm, hãy gắng sức làm ngay hôm nay — ai biết được ngày mai mình còn sống hay đã chết? Không ai thương lượng, mặc cả được với thần chết và đội quân lớn của thần chết. Người sống như vậy, tinh tấn (siêng năng, chăm chỉ tu tập), ngày đêm không lười biếng — người ấy xứng được gọi là Nhất Dạ Hiền (người có được một đêm an lành), như bậc ẩn sĩ an tịnh đã chỉ dạy.
“Và này các Hiền giả, thế nào là chạy theo quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Trong quá khứ, sắc của tôi là như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Trong quá khứ, cảm thọ của tôi là như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Trong quá khứ, tưởng của tôi là như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Trong quá khứ, hành của tôi là như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Trong quá khứ, thức của tôi là như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó. Như vậy, này các Hiền giả, là chạy theo quá khứ. Và này các Hiền giả, thế nào là không chạy theo quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Trong quá khứ, sắc của tôi là như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Trong quá khứ, cảm thọ của tôi là như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Trong quá khứ, tưởng của tôi là như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Trong quá khứ, hành của tôi là như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Trong quá khứ, thức của tôi là như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó.
Như vậy, này các Hiền giả, là không chạy theo quá khứ. Và này các Hiền giả, thế nào là mong ngóng tương lai? Vị ấy nghĩ: “Mong rằng trong tương lai, sắc của tôi sẽ như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Mong rằng trong tương lai, cảm thọ của tôi sẽ như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Mong rằng trong tương lai, tưởng của tôi sẽ như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Mong rằng trong tương lai, hành của tôi sẽ như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Mong rằng trong tương lai, thức của tôi sẽ như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó — Như vậy, này các Hiền giả, là mong ngóng tương lai. Và này các Hiền giả, thế nào là không mong ngóng tương lai?
Vị ấy nghĩ: “Mong rằng trong tương lai, sắc của tôi sẽ như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Mong rằng trong tương lai, cảm thọ của tôi sẽ như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Mong rằng trong tương lai, tưởng của tôi sẽ như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Mong rằng trong tương lai, hành của tôi sẽ như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Mong rằng trong tương lai, thức của tôi sẽ như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó — Như vậy, này các Hiền giả, là không mong ngóng tương lai. Và này các Hiền giả, thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại (những gì đang diễn ra ngay lúc này)?
Ở đây, này các Hiền giả, một người phàm thường chưa từng được nghe Pháp, không đến gặp các bậc Thánh (những bậc cao quý), không thông thạo Pháp của các bậc Thánh, không được rèn luyện trong Pháp của các bậc Thánh; không đến gặp các bậc Chân nhân (những người chân thật), không thông thạo Pháp của các bậc Chân nhân, không được rèn luyện trong Pháp của các bậc Chân nhân; vị ấy quán sắc là tự ngã (cái “ta” riêng, cố định), hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong sắc; vị ấy quán cảm thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có cảm thọ, hay quán cảm thọ ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong cảm thọ; vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay quán tưởng ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong tưởng; vị ấy quán hành là tự ngã, hay quán tự ngã là có hành, hay quán hành ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong hành; vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong thức — Như vậy, này các Hiền giả, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
Và này các Hiền giả, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Hiền giả, một vị đệ tử của các bậc Thánh đã được nghe Pháp nhiều, có đến gặp các bậc Thánh, thông thạo Pháp của các bậc Thánh, được rèn luyện khéo trong Pháp của các bậc Thánh; có đến gặp các bậc Chân nhân, thông thạo Pháp của các bậc Chân nhân, được rèn luyện khéo trong Pháp của các bậc Chân nhân; vị ấy không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong sắc; vị ấy không quán cảm thọ là tự ngã, không quán tự ngã là có cảm thọ, không quán cảm thọ ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong cảm thọ; vị ấy không quán tưởng là tự ngã, không quán tự ngã là có tưởng, không quán tưởng ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong tưởng; vị ấy không quán hành là tự ngã, không quán tự ngã là có hành, không quán hành ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong hành; vị ấy không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong thức — Như vậy, này các Hiền giả, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
Nghĩa là
Đừng chạy theo, níu kéo những gì đã qua, cũng đừng mong ngóng những gì chưa tới. Những gì đã qua thì đã qua rồi, những gì chưa đến thì vẫn chưa đến; chỉ có những gì đang có mặt ngay lúc này là cần nhìn cho thật rõ, ngay tại đây. Nhìn rõ như vậy, tâm không bị lôi cuốn, không rung chuyển; ai biết được như thế thì hãy nuôi lớn sự hiểu biết ấy. Việc cần làm, hãy gắng sức làm ngay hôm nay — ai biết được ngày mai mình còn sống hay đã chết? Không ai thương lượng, mặc cả được với thần chết và đội quân lớn của thần chết. Người sống như vậy, tinh tấn (siêng năng, chăm chỉ tu tập), ngày đêm không lười biếng — người ấy xứng được gọi là Nhất Dạ Hiền (người có được một đêm an lành), như bậc ẩn sĩ an tịnh đã chỉ dạy.
“Như vậy, bạch Thế Tôn, con đã chỉ dạy, khích lệ, làm phấn khởi và làm hoan hỷ các Tỷ-kheo bằng bài thuyết Pháp; con đã giảng phần tóm tắt và phần phân tích của Nhất Dạ Hiền Giả.” “Lành thay, lành thay, này Ānanda! Lành thay, này Ānanda, Ông đã dùng bài thuyết Pháp chỉ dạy, khích lệ, làm phấn khởi và làm hoan hỷ các Tỷ-kheo; Ông đã giảng phần tóm tắt và phần phân tích của Nhất Dạ Hiền Giả:
Tương lai không ước vọng. Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến, Chỉ có pháp hiện tại Tuệ quán chính ở đây. Không động, không rung chuyển Biết vậy, nên tu tập, Hôm nay nhiệt tâm làm, Ai biết chết ngày mai? Không ai điều đình được, Với đại quân thần chết, Trú như vậy nhiệt tâm, Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
Nghĩa là
Đừng chạy theo, níu kéo những gì đã qua, Toàn bộ phần kệ ở giữa — từ câu không mong ngóng tương lai cho đến câu ngày đêm không mệt mỏi — được nhắc lại nguyên vẹn như lần đọc trước. người ấy xứng được gọi là Nhất Dạ Hiền (người có được một đêm an lành), như bậc ẩn sĩ an tịnh đã chỉ dạy.
“Và này Ānanda, thế nào là chạy theo quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Trong quá khứ, sắc của tôi là như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Trong quá khứ, cảm thọ của tôi là như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Trong quá khứ, tưởng của tôi là như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Trong quá khứ, hành của tôi là như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Trong quá khứ, thức của tôi là như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó. Như vậy, này Ānanda, là chạy theo quá khứ. Và này Ānanda, thế nào là không chạy theo quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Trong quá khứ, sắc của tôi là như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Trong quá khứ, cảm thọ của tôi là như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Trong quá khứ, tưởng của tôi là như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Trong quá khứ, hành của tôi là như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Trong quá khứ, thức của tôi là như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó.
Như vậy, này Ānanda, là không chạy theo quá khứ. Và này Ānanda, thế nào là mong ngóng tương lai? Vị ấy nghĩ: “Mong rằng trong tương lai, sắc của tôi sẽ như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Mong rằng trong tương lai, cảm thọ của tôi sẽ như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Mong rằng trong tương lai, tưởng của tôi sẽ như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Mong rằng trong tương lai, hành của tôi sẽ như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Mong rằng trong tương lai, thức của tôi sẽ như vậy”, và tìm thấy niềm vui thích trong đó. Như vậy, này Ānanda, là mong ngóng tương lai. Và này Ānanda, thế nào là không mong ngóng tương lai? Vị ấy nghĩ: “Mong rằng trong tương lai, sắc của tôi sẽ như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Mong rằng trong tương lai, cảm thọ của tôi sẽ như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Mong rằng trong tương lai, tưởng của tôi sẽ như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Mong rằng trong tương lai, hành của tôi sẽ như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó; “Mong rằng trong tương lai, thức của tôi sẽ như vậy”, và không tìm thấy niềm vui thích trong đó.
Như vậy, này Ānanda, là không mong ngóng tương lai. Và này Ānanda, thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này Ānanda, một người phàm thường chưa từng được nghe Pháp, không đến gặp các bậc Thánh, không thông thạo Pháp của các bậc Thánh, không được rèn luyện trong Pháp của các bậc Thánh; không đến gặp các bậc Chân nhân, không thông thạo Pháp của các bậc Chân nhân, không được rèn luyện trong Pháp của các bậc Chân nhân; vị ấy quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong sắc; vị ấy quán cảm thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có cảm thọ, hay quán cảm thọ ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong cảm thọ; vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay quán tưởng ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong tưởng; vị ấy quán hành là tự ngã, hay quán tự ngã là có hành, hay quán hành ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong hành; vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong thức.
Như vậy, này Ānanda, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Và này Ānanda, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này Ānanda, một vị đệ tử của các bậc Thánh đã được nghe Pháp nhiều, có đến gặp các bậc Thánh, thông thạo Pháp của các bậc Thánh, được rèn luyện khéo trong Pháp của các bậc Thánh; có đến gặp các bậc Chân nhân, thông thạo Pháp của các bậc Chân nhân, được rèn luyện khéo trong Pháp của các bậc Chân nhân; vị ấy không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong sắc; vị ấy không quán cảm thọ là tự ngã, không quán tự ngã là có cảm thọ, không quán cảm thọ ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong cảm thọ; vị ấy không quán tưởng là tự ngã, không quán tự ngã là có tưởng, không quán tưởng ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong tưởng; vị ấy không quán hành là tự ngã, không quán tự ngã là có hành, không quán hành ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong hành; vị ấy không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong thức.
Như vậy, này Ānanda, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
Tương lai không ước vọng. Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến, Chỉ có pháp hiện tại Tuệ quán chính ở đây. Không động, không rung chuyển Biết vậy, nên tu tập, Hôm nay nhiệt tâm làm, Ai biết chết ngày mai? Không ai điều đình được, Với đại quân thần chết, Trú như vậy nhiệt tâm, Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
Nghĩa là
Đừng chạy theo, níu kéo những gì đã qua, Toàn bộ phần kệ ở giữa — từ câu không mong ngóng tương lai cho đến câu ngày đêm không mệt mỏi — được nhắc lại nguyên vẹn như lần đọc trước. người ấy xứng được gọi là Nhất Dạ Hiền (người có được một đêm an lành), như bậc ẩn sĩ an tịnh đã chỉ dạy.
Thế Tôn nói như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ, đón nhận lời Thế Tôn dạy. Kinh Ānanda Nhất Dạ Hiền Giả, bài thứ 2, đến đây là hết.