Kinh Thiên Sứ
Đức Phật kể rằng với thiên nhãn, Ngài thấy chúng sinh chết đi sinh lại tùy theo nghiệp của mình. Rồi Ngài thuật lại phiên tra hỏi của vua Yāma nơi địa ngục: năm thiên sứ — đứa trẻ sơ sinh, người già, người bệnh, kẻ bị vua chúa trừng phạt và người chết — đều đã xuất hiện giữa loài người, nhưng kẻ làm ác vẫn buông thả, không chịu làm điều tốt bằng thân, lời nói và ý nghĩ, nên phải chịu các hình phạt ở Đại Địa Ngục và các địa ngục cận kề. Cuối cùng, chính vua Yāma cũng mong được sinh làm người để gặp Phật và nghe Pháp.
Điểm thực hànhMỗi khi thấy một đứa trẻ sơ sinh, một người già, một người bệnh hay một người chết, hãy xem đó là thiên sứ nhắc mình: ta cũng sẽ sinh, già, bệnh, chết — hãy làm điều tốt bằng thân, lời nói và ý nghĩ ngay từ hôm nay.
Tôi nghe kể lại như vầy: Một lần, Đức Phật ở thành Xá-vệ, trong rừng Kỳ-đà, khu vườn của ông Cấp Cô Độc. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ-kheo (vị tu sĩ khất thực): “Này các Tỷ-kheo!” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” Các vị Tỷ-kheo đáp lại Đức Phật. Đức Phật nói như sau: “Này các Tỷ-kheo, ví như có hai ngôi nhà có cửa. Một người có mắt sáng đứng ở giữa hai nhà ấy, nhìn thấy người ta đi vào nhà, đi ra khỏi nhà, đi qua, đi lại. Ta cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn mắt người thường, Ta thấy các chúng sinh chết đi rồi sinh lại: kẻ thấp hèn, người cao sang, kẻ xấu, người đẹp, kẻ sinh vào chỗ tốt, người sinh vào chỗ xấu. Ta biết rõ các chúng sinh ấy đi về đâu tùy theo nghiệp (việc làm có chủ ý của mình): ‘Những chúng sinh này đã làm việc tốt bằng thân, bằng lời nói và bằng ý nghĩ; không chê bai các bậc Thánh, có chánh kiến (cái nhìn đúng đắn), và làm theo chánh kiến ấy. Khi thân này tan rã, sau khi chết, họ được sinh vào cõi tốt, cõi trời. Hoặc những chúng sinh này đã làm việc tốt bằng thân, bằng lời nói và bằng ý nghĩ; không chê bai các bậc Thánh, có chánh kiến, và làm theo chánh kiến ấy. Khi thân này tan rã, sau khi chết, họ được sinh làm người. Còn những chúng sinh này đã làm việc xấu bằng thân, bằng lời nói và bằng ý nghĩ; chê bai các bậc Thánh, có tà kiến (cái nhìn sai lệch), và làm theo tà kiến ấy. Khi thân này tan rã, sau khi chết, họ bị sinh vào cõi ngạ quỷ. Hoặc những chúng sinh này đã làm việc xấu bằng thân, bằng lời nói và bằng ý nghĩ; chê bai các bậc Thánh, có tà kiến, và làm theo tà kiến ấy. Khi thân này tan rã, sau khi chết, họ bị sinh vào loài súc sinh. Hoặc những chúng sinh này đã làm việc xấu bằng thân, bằng lời nói và bằng ý nghĩ; chê bai các bậc Thánh, có tà kiến, và làm theo tà kiến ấy. Khi thân này tan rã, sau khi chết, họ bị sinh vào cõi dữ, chỗ khổ, nơi đọa lạc, địa ngục.’”
Này các Tỷ-kheo, những người canh giữ địa ngục nắm hai tay người ấy, dẫn đến trước vua Yāma và thưa: “Thưa Đại vương, người này không hiếu thảo với mẹ, không hiếu thảo với cha, không tôn kính các bậc tu hành, không tôn kính các Bà-la-môn, không kính trọng những người lớn tuổi trong gia đình. Xin Đại vương hãy trừng phạt người này!” Này các Tỷ-kheo, vua Yāma tra hỏi, cật vấn người ấy về thiên sứ thứ nhất (dấu hiệu cảnh tỉnh thứ nhất): “Này người kia, ngươi có thấy thiên sứ thứ nhất xuất hiện giữa loài người không?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi không thấy.” Vua Yāma nói với người ấy: “Này người kia, ngươi có thấy giữa loài người một đứa trẻ nhỏ, còn yếu ớt, nằm ngửa, nằm lăn lóc trong phân và nước tiểu của chính nó không?”
Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi có thấy.” Vua Yāma nói với người ấy: “Này người kia, lúc ấy ngươi đã có trí khôn, đã là người lớn, sao ngươi không nghĩ — “Chính ta cũng phải sinh ra, ta không thoát khỏi sự sinh. “Vậy ta hãy làm điều tốt bằng thân, bằng lời nói, bằng ý nghĩ”?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi không làm được, vì tôi đã buông thả, lơ là.” Vua Yāma nói với người ấy: “Này người kia, vì buông thả lơ là nên ngươi đã không làm điều tốt bằng thân, lời nói và ý nghĩ. Vậy thì, này người kia, họ sẽ đối xử với ngươi đúng như cách xứng với sự buông thả ấy của ngươi. Ác nghiệp này của ngươi không phải do mẹ làm, không phải do cha làm, không phải do anh làm, không phải do chị làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do bà con họ hàng làm, không phải do các bậc tu hành hay Bà-la-môn làm, cũng không phải do chư thiên làm. Ác nghiệp ấy chính do ngươi làm, và chính ngươi phải nhận lấy kết quả của nó.”
Này các Tỷ-kheo, sau khi tra hỏi, cật vấn người ấy về thiên sứ thứ nhất, vua Yāma lại tra hỏi, cật vấn người ấy về thiên sứ thứ hai: “Này người kia, ngươi có thấy thiên sứ thứ hai xuất hiện giữa loài người không?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi không thấy.” Vua Yāma nói với người ấy: “Này người kia, ngươi có thấy giữa loài người một người đàn bà hay một người đàn ông tám mươi tuổi, hay chín mươi tuổi, hay một trăm tuổi, già yếu, lưng cong như mái nhà, lưng còng, phải chống gậy, vừa đi vừa run rẩy, bệnh hoạn, tuổi xuân đã qua, răng gãy rụng, tóc bạc thưa thớt, đầu hói trọc, da nhăn nheo, tay chân nổi đồi mồi không?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi có thấy.”
Vua Yāma nói với người ấy: “Này người kia, lúc ấy ngươi đã có trí khôn, đã là người lớn, sao ngươi không nghĩ — “Chính ta cũng phải già đi, ta không thoát khỏi sự già. “Vậy ta hãy làm điều tốt bằng thân, bằng lời nói, bằng ý nghĩ”?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi không làm được, vì tôi đã buông thả, lơ là.” Vua Yāma nói với người ấy: “Này người kia, vì buông thả lơ là nên ngươi đã không làm điều tốt bằng thân, lời nói và ý nghĩ. Vậy thì, này người kia, họ sẽ đối xử với ngươi đúng như cách xứng với sự buông thả ấy của ngươi. Ác nghiệp này của ngươi không phải do mẹ làm, không phải do cha làm, không phải do anh làm, không phải do chị làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do bà con họ hàng làm, không phải do các bậc tu hành hay Bà-la-môn làm, cũng không phải do chư thiên làm. Ác nghiệp ấy chính do ngươi làm, và chính ngươi phải nhận lấy kết quả của nó.”
Này các Tỷ-kheo, sau khi tra hỏi, cật vấn người ấy về thiên sứ thứ hai, vua Yāma lại tra hỏi, cật vấn người ấy về thiên sứ thứ ba: “Này người kia, ngươi có thấy thiên sứ thứ ba xuất hiện giữa loài người không?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi không thấy.” Vua Yāma nói với người ấy: “Này người kia, ngươi có thấy giữa loài người một người đàn bà hay một người đàn ông bị bệnh, đau đớn, bệnh nặng trầm trọng, nằm lăn lóc trong phân và nước tiểu của chính mình, phải nhờ người khác nâng dậy, nhờ người khác đặt nằm xuống không?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi có thấy.” Vua Yāma nói với người ấy: “Này người kia, lúc ấy ngươi đã có trí khôn, đã là người lớn, sao ngươi không nghĩ — “Chính ta cũng phải bệnh, ta không thoát khỏi bệnh.
“Vậy ta hãy làm điều tốt bằng thân, bằng lời nói, bằng ý nghĩ”?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi không làm được, vì tôi đã buông thả, lơ là.” Vua Yāma nói với người ấy: “Này người kia, vì buông thả lơ là nên ngươi đã không làm điều tốt bằng thân, lời nói và ý nghĩ. Vậy thì, này người kia, họ sẽ đối xử với ngươi đúng như cách xứng với sự buông thả ấy của ngươi. Ác nghiệp này của ngươi không phải do mẹ làm, không phải do cha làm, không phải do anh làm, không phải do chị làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do bà con họ hàng làm, không phải do các bậc tu hành hay Bà-la-môn làm, cũng không phải do chư thiên làm. Ác nghiệp ấy chính do ngươi làm, và chính ngươi phải nhận lấy kết quả của nó.”
Này các Tỷ-kheo, sau khi tra hỏi, cật vấn người ấy về thiên sứ thứ ba, vua Yāma lại tra hỏi, cật vấn người ấy về thiên sứ thứ tư: “Này người kia, ngươi có thấy thiên sứ thứ tư xuất hiện giữa loài người không?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi không thấy.” Vua Yāma nói với người ấy: “Này người kia, ngươi có thấy giữa loài người, khi các vua bắt được một tên trộm, một kẻ phạm tội, liền bắt chịu đủ thứ hình phạt — đánh bằng roi, đánh bằng gậy, đánh bằng gậy ngắn; chặt tay, chặt chân, chặt cả tay lẫn chân; cắt tai, cắt mũi, cắt cả tai lẫn mũi; hình phạt ‘nồi cháo’, ‘cạo đầu như vỏ sò’, ‘miệng La-hầu’, ‘vòng lửa’, ‘tay cháy’, ‘xoắn cỏ tranh’, ‘áo vỏ cây’, ‘con nai’, ‘móc thịt’, ‘đồng xu’, ‘ngâm nước ăn da’, ‘xoay thanh sắt’, ‘chiếu rơm’; tạt dầu sôi, thả cho chó xé ăn, xiên sống lên cọc, lấy gươm chặt đầu không?”
Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi có thấy.” Vua Yāma nói với người ấy: “Này người kia, lúc ấy ngươi đã có trí khôn, đã là người lớn, sao ngươi không nghĩ — “Nghe nói những ai làm điều ác thì ngay trong đời này đã phải chịu đủ thứ hình phạt như vậy, huống chi là ở đời sau. “Vậy ta hãy làm điều tốt bằng thân, bằng lời nói, bằng ý nghĩ”?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi không làm được, vì tôi đã buông thả, lơ là.” Vua Yāma nói với người ấy: “Này người kia, vì buông thả lơ là nên ngươi đã không làm điều tốt bằng thân, lời nói và ý nghĩ. Vậy thì, này người kia, họ sẽ đối xử với ngươi đúng như cách xứng với sự buông thả ấy của ngươi. Ác nghiệp này của ngươi không phải do mẹ làm, không phải do cha làm, không phải do anh làm, không phải do chị làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do bà con họ hàng làm, không phải do các bậc tu hành hay Bà-la-môn làm, cũng không phải do chư thiên làm. Ác nghiệp ấy chính do ngươi làm, và chính ngươi phải nhận lấy kết quả của nó.”
Này các Tỷ-kheo, sau khi tra hỏi, cật vấn người ấy về thiên sứ thứ tư, vua Yāma lại tra hỏi, cật vấn người ấy về thiên sứ thứ năm: “Này người kia, ngươi có thấy thiên sứ thứ năm xuất hiện giữa loài người không?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi không thấy.” Vua Yāma nói với người ấy: “Này người kia, ngươi có thấy giữa loài người một người đàn bà hay một người đàn ông đã chết được một ngày, hay hai ngày, hay ba ngày, trương phình lên, xanh xám lại, thối rữa ra không?” Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi có thấy.” Vua Yāma nói với người ấy: “Này người kia, lúc ấy ngươi đã có trí khôn, đã là người lớn, sao ngươi không nghĩ — “Chính ta cũng phải chết, ta không thoát khỏi cái chết. “Vậy ta hãy làm điều tốt bằng thân, bằng lời nói, bằng ý nghĩ”?”
Người ấy đáp: “Thưa Ngài, tôi không làm được, vì tôi đã buông thả, lơ là.” Vua Yāma nói với người ấy: “Này người kia, vì buông thả lơ là nên ngươi đã không làm điều tốt bằng thân, lời nói và ý nghĩ. Vậy thì, này người kia, họ sẽ đối xử với ngươi đúng như cách xứng với sự buông thả ấy của ngươi. Ác nghiệp này của ngươi không phải do mẹ làm, không phải do cha làm, không phải do anh làm, không phải do chị làm, không phải do bạn bè thân hữu làm, không phải do bà con họ hàng làm, không phải do các bậc tu hành hay Bà-la-môn làm, cũng không phải do chư thiên làm. Ác nghiệp ấy chính do ngươi làm, và chính ngươi phải nhận lấy kết quả của nó.” Này các Tỷ-kheo, sau khi tra hỏi, cật vấn người ấy về thiên sứ thứ năm, vua Yāma im lặng.
Này các Tỷ-kheo, những người canh giữ địa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là năm cọc: họ đóng một cọc sắt nung đỏ vào một bàn tay, đóng một cọc sắt nung đỏ vào bàn tay thứ hai, đóng một cọc sắt nung đỏ vào một bàn chân, đóng một cọc sắt nung đỏ vào bàn chân thứ hai, đóng một cọc sắt nung đỏ vào giữa ngực. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết. Này các Tỷ-kheo, những người canh giữ địa ngục bắt người ấy nằm xuống, lấy rìu chặt vào người ấy. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết.
Này các Tỷ-kheo, những người canh giữ địa ngục nắm người ấy treo ngược, chân lên trên, đầu xuống dưới, rồi lấy dao rựa chặt vào người ấy. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết. Này các Tỷ-kheo, những người canh giữ địa ngục buộc người ấy vào một cỗ xe, bắt chạy tới chạy lui trên mặt đất đang cháy đỏ, bốc lửa, rực sáng. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết. Này các Tỷ-kheo, những người canh giữ địa ngục bắt người ấy leo lên, leo xuống một ngọn núi than hồng lớn đang cháy đỏ, bốc lửa, rực sáng. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết.
Này các Tỷ-kheo, những người canh giữ địa ngục nắm người ấy treo ngược, chân lên trên, đầu xuống dưới, rồi ném vào một cái vạc đồng nung đỏ, cháy đỏ, bốc lửa, rực sáng. Người ấy bị nấu chín trong đó giữa đám bọt sôi sùng sục. Khi bị nấu như vậy, lúc thì người ấy nổi lên trên, lúc thì chìm xuống dưới, lúc thì trôi dạt ngang. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết. Này các Tỷ-kheo, những người canh giữ địa ngục ném người ấy vào Đại Địa Ngục. Này các Tỷ-kheo, Đại Địa Ngục ấy là như vầy:
chia thành phần bằng nhau,
xung quanh có tường sắt,
mái sắt lợp lên trên.
Nền Ðịa ngục bằng sắt
nung đỏ, chảy đỏ rực,
rộng một trăm do tuần.
đứng thẳng, luôn có mặt,
Nghĩa là
Địa ngục lớn ấy có bốn góc và bốn cửa, được chia thành từng phần đều nhau, quanh nó là tường sắt bao bọc, trên mái cũng lợp bằng sắt. Nền của nó cũng làm bằng sắt, bị lửa nung cháy đỏ rực, sức nóng lan ra khắp một trăm do-tuần (đơn vị đo dài thời xưa) xung quanh. cứ đứng sừng sững mãi như vậy, không lúc nào tắt.
Này các Tỷ-kheo, trong Đại Địa Ngục ấy, ngọn lửa từ vách phía đông bùng lên đập vào vách phía tây; ngọn lửa từ vách phía tây bùng lên đập vào vách phía đông; ngọn lửa từ vách phía bắc bùng lên đập vào vách phía nam; ngọn lửa từ vách phía nam bùng lên đập vào vách phía bắc; ngọn lửa từ phía dưới bùng lên đập lên phía trên; ngọn lửa từ phía trên bùng lên đập xuống phía dưới. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết. Này các Tỷ-kheo, có lúc, sau một thời gian rất dài trôi qua, cửa phía đông của Đại Địa Ngục được mở ra. Người ấy liền chạy về phía cửa ấy thật nhanh.
Khi chạy thật nhanh như vậy, lớp da ngoài của người ấy bị cháy, lớp da trong bị cháy, thịt bị cháy, gân bị cháy, xương cũng bốc khói đen. Cách thoát ra của người ấy là như vậy; Nhưng khi người ấy đã cố gắng gần ra được tới nơi, thì cửa lại đóng sập. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết. Này các Tỷ-kheo, có lúc, sau một thời gian rất dài trôi qua, cửa phía tây của Đại Địa Ngục được mở ra. Người ấy liền chạy về phía cửa ấy thật nhanh. Khi chạy thật nhanh như vậy, lớp da ngoài của người ấy bị cháy, lớp da trong bị cháy, thịt bị cháy, gân bị cháy, xương cũng bốc khói đen. Cách thoát ra của người ấy là như vậy; nhưng khi người ấy đã gần ra được tới nơi, thì cửa lại đóng sập. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết.
Này các Tỷ-kheo, có lúc, sau một thời gian rất dài trôi qua, cửa phía bắc của Đại Địa Ngục được mở ra. Người ấy liền chạy về phía cửa ấy thật nhanh. Khi chạy thật nhanh như vậy, lớp da ngoài của người ấy bị cháy, lớp da trong bị cháy, thịt bị cháy, gân bị cháy, xương cũng bốc khói đen. Cách thoát ra của người ấy là như vậy; nhưng khi người ấy đã gần ra được tới nơi, thì cửa lại đóng sập. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết. Này các Tỷ-kheo, có lúc, sau một thời gian rất dài trôi qua, cửa phía nam của Đại Địa Ngục được mở ra. Người ấy liền chạy về phía cửa ấy thật nhanh.
Khi chạy thật nhanh như vậy, lớp da ngoài của người ấy bị cháy, lớp da trong bị cháy, thịt bị cháy, gân bị cháy, xương cũng bốc khói đen. Cách thoát ra của người ấy là như vậy; Nhưng khi người ấy đã cố gắng gần ra được tới nơi, thì cửa lại đóng sập. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết. Này các Tỷ-kheo, có lúc, sau một thời gian rất dài trôi qua, cửa phía đông của Đại Địa Ngục được mở ra. Người ấy liền chạy về phía cửa ấy thật nhanh. Khi chạy thật nhanh như vậy, lớp da ngoài của người ấy bị cháy, lớp da trong bị cháy, thịt bị cháy, gân bị cháy, xương cũng bốc khói đen. Cách thoát ra của người ấy là như vậy; và người ấy thoát ra được qua cửa ấy.
Này các Tỷ-kheo, ngay sát cạnh Đại Địa Ngục ấy là một địa ngục phân rất lớn. Người ấy rơi vào trong đó. Này các Tỷ-kheo, trong địa ngục phân ấy, những sinh vật có miệng như mũi kim cắt xuyên lớp da ngoài; cắt xuyên da ngoài rồi, chúng cắt xuyên lớp da trong; cắt xuyên da trong rồi, chúng cắt xuyên thịt; cắt xuyên thịt rồi, chúng cắt xuyên gân; cắt xuyên gân rồi, chúng cắt xuyên xương; cắt xuyên xương rồi, chúng ăn đến tận tủy xương. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết. Này các Tỷ-kheo, ngay sát cạnh địa ngục phân ấy là một địa ngục tro nóng rất lớn.
Người ấy rơi vào trong đó. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết. Này các Tỷ-kheo, ngay sát cạnh địa ngục tro nóng ấy là một khu rừng cây bông gòn rất lớn, cao một do-tuần, đầy những gai dài mười sáu ngón tay, đang cháy đỏ, bốc lửa, rực sáng. Ở đó, họ bắt người ấy leo lên, leo xuống. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết. Này các Tỷ-kheo, ngay sát cạnh rừng cây bông gòn ấy là một khu rừng lá gươm rất lớn. Người ấy đi vào trong đó.
Ở đó, những chiếc lá bị gió thổi rơi xuống cắt đứt tay người ấy, cắt đứt chân, cắt đứt cả tay lẫn chân, cắt đứt tai, cắt đứt mũi, cắt đứt cả tai lẫn mũi. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết. Này các Tỷ-kheo, ngay sát cạnh rừng lá gươm ấy là một con sông nước ăn da rất lớn. Người ấy rơi vào trong đó. Ở đó, người ấy bị cuốn xuôi theo dòng, bị cuốn ngược dòng, bị cuốn cả xuôi lẫn ngược. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết. Này các Tỷ-kheo, những người canh giữ địa ngục dùng móc câu kéo người ấy lên, đặt lên mặt đất, rồi hỏi:
“Này người kia, ngươi muốn gì?” Người ấy đáp: “Thưa các Ngài, tôi đói.” Này các Tỷ-kheo, những người canh giữ địa ngục lấy một cọc sắt nung đỏ — đang cháy đỏ, bốc lửa, rực sáng — cạy miệng người ấy ra, rồi nhét vào miệng người ấy một viên đồng nung đỏ, cháy đỏ, bốc lửa, rực sáng. Viên đồng ấy đốt cháy môi người ấy, đốt cháy miệng, đốt cháy cổ họng, đốt cháy ngực, rồi kéo theo cả ruột lớn, ruột nhỏ mà ra ngoài ở phía dưới. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết. Này các Tỷ-kheo, những người canh giữ địa ngục lại hỏi người ấy: “Này người kia, ngươi muốn gì?”
Người ấy đáp: “Thưa các Ngài, tôi khát.” Này các Tỷ-kheo, những người canh giữ địa ngục lấy một cọc sắt nung đỏ — đang cháy đỏ, bốc lửa, rực sáng — cạy miệng người ấy ra, rồi đổ vào miệng người ấy đồng nấu chảy, cháy đỏ, bốc lửa, rực sáng. Đồng nấu chảy ấy đốt cháy môi người ấy, đốt cháy miệng, đốt cháy cổ họng, đốt cháy ngực, rồi kéo theo cả ruột lớn, ruột nhỏ mà ra ngoài ở phía dưới. Ở đó, người ấy phải chịu những cảm giác đau đớn, dữ dội, gay gắt, khốc liệt; nhưng người ấy không chết được cho đến khi ác nghiệp ấy chưa tiêu hết. Này các Tỷ-kheo, những người canh giữ địa ngục lại ném người ấy trở vào Đại Địa Ngục. Này các Tỷ-kheo, ngày xưa, vua Yāma đã có lần nghĩ như vầy:
“Những ai ở đời làm các ác nghiệp, những việc xấu xa, thì phải chịu đủ thứ hình phạt khác nhau như vậy. Ôi, mong sao ta được sinh làm người! Và mong sao một vị Như Lai (bậc đã thấy sự thật như nó là), bậc A-la-hán (bậc đã hết mọi ô nhiễm, xứng đáng được kính trọng), bậc Chánh Đẳng Giác (bậc tự mình giác ngộ trọn vẹn) xuất hiện ở đời! Và mong sao ta được đến hầu vị Thế Tôn ấy! Mong sao vị Thế Tôn ấy thuyết Pháp (giáo pháp, lời dạy về sự thật) cho ta, và ta hiểu được Pháp mà Ngài thuyết!” Này các Tỷ-kheo, điều Ta nói ở đây, Ta không nghe từ một bậc tu hành hay một Bà-la-môn nào khác. Ta chỉ nói những gì chính Ta đã tự biết, tự thấy, tự hiểu mà thôi.”
Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, lại nói thêm như sau:
Thanh niên vẫn phóng dật,
Họ ưu buồn lâu dài,
Sanh làm người hạ liệt.
Ðược Thiên sứ báo động,
Ở đây bậc Chân nhân,
Không bao giờ phóng dật,
Trong diệu pháp bậc Thánh.
Thấy sợ trong chấp thủ,
Trong hiện hữu sanh tử.
Ðược giải thoát chấp thủ,
Sanh tử được đoạn trừ,
Ðược yên ổn an lạc,
Ngay hiện tại tịch tịnh,
Mọi oán hận sợ hãi, Các vị ấy vượt qua,
Mọi đau đớn sầu khổ, Họ đều được siêu thoát.
Nghĩa là
Dù thiên sứ đã cảnh báo, những người trẻ vẫn buông thả, lơ là, họ phải buồn khổ lâu dài, khi bị sinh vào thân phận thấp hèn. Được thiên sứ cảnh báo, những bậc Chân nhân (những người chân thật) ở đời này, không bao giờ buông thả, lơ là, đối với Pháp cao quý của các bậc Thánh. Thấy rõ mối nguy trong sự nắm giữ, bám víu, là nguồn gốc của sinh và chết, không còn nắm giữ gì nữa nên được giải thoát, khi sinh và chết đã chấm dứt. Họ được yên ổn, an vui, ngay trong đời này đã lặng yên, mát mẻ, đã vượt qua mọi oán hận và sợ hãi, và vượt lên trên mọi đau đớn, buồn khổ.
Kinh Thiên Sứ, bài thứ 10, đến đây là hết. Phẩm Không, phẩm thứ ba, đến đây là hết.
Phần tóm tắt của phẩm này như sau:
Tính Không có hai bài kinh, Điều Chưa Từng Có và Bakkula; Aciravatī và bài Đất, Anuruddha và Các Phiền Não; Kẻ Ngu Người Trí và Thiên Sứ — đó là mười bài kinh.