Kinh Sáu Thanh Tịnh
Đức Phật dạy cách kiểm chứng một vị Tỷ-kheo tuyên bố đã chứng giác ngộ: không tán thành, không bác bỏ, mà lần lượt hỏi sáu nhóm câu hỏi — bốn cách nói, năm thủ uẩn, sáu yếu tố, sáu xứ trong-ngoài, và việc nhổ tận gốc ‘tôi làm, của tôi, kiêu mạn’. Vị A-la-hán thật sẽ trả lời đúng theo Pháp, kể cả kể lại trọn con đường mình đã đi: xuất gia, giữ giới, hộ trì các căn, tỉnh giác, trừ năm triền cái, chứng bốn thiền và lậu tận trí.
Điểm thực hànhĐừng vội tin hay vội bác một lời tuyên bố chứng đắc — kể cả của chính mình: hãy kiểm chứng bằng sáu phép quán, đặc biệt là kiểm tra xem với cái được thấy, được nghe, tâm mình còn dính vào hay đã thật độc lập, không bị trói buộc.
Tôi nghe kể lại như vầy: Một lần, Đức Phật ở thành Xá-vệ, trong rừng Kỳ-đà, khu vườn của ông Cấp Cô Độc. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ-kheo (các vị tu sĩ khất thực): “Này các Tỷ-kheo!” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các Tỷ-kheo đáp lại. Đức Phật nói như sau: “Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Tỷ-kheo tuyên bố sự hiểu biết tối thượng như sau: ‘Tôi hiểu rõ: “Sinh đã tận, đời phạm hạnh đã sống trọn, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.”’ Này các Tỷ-kheo, đối với lời nói của vị Tỷ-kheo ấy, không nên tán thành, cũng không nên bác bỏ. Không tán thành, không bác bỏ, hãy đặt câu hỏi này: ‘Này Hiền giả, có bốn cách nói này đã được Đức Thế Tôn — bậc Biết, bậc Thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác — khéo giảng nói.
Bốn cách nào? Nói về cái được thấy đúng như đã thấy, nói về cái được nghe đúng như đã nghe, nói về cái được cảm nhận đúng như đã cảm nhận, nói về cái được nhận biết đúng như đã nhận biết — bốn cách nói này, này Hiền giả, đã được Đức Thế Tôn — bậc Biết, bậc Thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác — khéo giảng nói. Nhưng Tôn giả biết như thế nào, thấy như thế nào về bốn cách nói này, mà tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc (những ô nhiễm sâu trong tâm), không còn chấp thủ?’ Này các Tỷ-kheo, với vị Tỷ-kheo đã dứt sạch lậu hoặc, đã sống trọn đời phạm hạnh, đã làm xong việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích của mình, đã dứt tận các kiết sử của sự tồn tại, đã giải thoát nhờ hiểu biết đúng đắn, thì theo Pháp, vị ấy sẽ trả lời như sau:
‘Này chư Hiền, đối với cái được thấy, tôi an trú không dính vào, không tránh né, độc lập, không bị trói buộc, đã giải thoát, không còn hệ lụy, với tâm không còn giới hạn. Đối với cái được nghe, tôi an trú không dính vào, không tránh né, độc lập, không bị trói buộc, đã giải thoát, không còn hệ lụy, với tâm không còn giới hạn. Đối với cái được cảm nhận, tôi an trú không dính vào, không tránh né, độc lập, không bị trói buộc, đã giải thoát, không còn hệ lụy, với tâm không còn giới hạn. Đối với cái được nhận biết, tôi an trú không dính vào, không tránh né, độc lập, không bị trói buộc, đã giải thoát, không còn hệ lụy, với tâm không còn giới hạn. Này chư Hiền, tôi biết như vậy, thấy như vậy về bốn cách nói này, nên tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.’ Này các Tỷ-kheo, hãy nói ‘Lành thay!’ để tán thành và tùy hỷ với lời nói của vị Tỷ-kheo ấy.
Sau khi nói ‘Lành thay!’ để tán thành và tùy hỷ, hãy đặt thêm câu hỏi: ‘Này Hiền giả, có năm thủ uẩn này đã được Đức Thế Tôn — bậc Biết, bậc Thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác — khéo giảng nói. Năm uẩn nào? Đó là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn — năm thủ uẩn này, này Hiền giả, đã được Đức Thế Tôn — bậc Biết, bậc Thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác — khéo giảng nói. Nhưng Tôn giả biết như thế nào, thấy như thế nào về năm thủ uẩn này, mà tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ?’ Này các Tỷ-kheo, với vị Tỷ-kheo đã dứt sạch lậu hoặc, đã sống trọn đời phạm hạnh, đã làm xong việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích của mình, đã dứt tận các kiết sử của sự tồn tại, đã giải thoát nhờ hiểu biết đúng đắn, thì theo Pháp, vị ấy sẽ trả lời như sau:
‘Này chư Hiền, tôi biết sắc là yếu ớt, tàn phai và không đáng tin; với những hướng tới, chấp thủ, chỗ bám chặt trong tâm, thiên chấp và tùy miên đối với sắc — khi chúng đã tận diệt, tan biến, chấm dứt, được từ bỏ và buông xả, tôi hiểu rõ: tâm tôi đã được giải thoát. Này chư Hiền, tôi biết thọ là yếu ớt, tàn phai và không đáng tin; với những hướng tới, chấp thủ, chỗ bám chặt trong tâm, thiên chấp và tùy miên đối với thọ — khi chúng đã tận diệt, tan biến, chấm dứt, được từ bỏ và buông xả, tôi hiểu rõ: tâm tôi đã được giải thoát. Này chư Hiền, tôi biết tưởng là yếu ớt, tàn phai và không đáng tin; với những hướng tới, chấp thủ, chỗ bám chặt trong tâm, thiên chấp và tùy miên đối với tưởng — khi chúng đã tận diệt, tan biến, chấm dứt, được từ bỏ và buông xả, tôi hiểu rõ: tâm tôi đã được giải thoát.
Này chư Hiền, tôi biết các hành là yếu ớt, tàn phai và không đáng tin; với những hướng tới, chấp thủ, chỗ bám chặt trong tâm, thiên chấp và tùy miên đối với các hành — khi chúng đã tận diệt, tan biến, chấm dứt, được từ bỏ và buông xả, tôi hiểu rõ: tâm tôi đã được giải thoát. Này chư Hiền, tôi biết thức là yếu ớt, tàn phai và không đáng tin; với những hướng tới, chấp thủ, chỗ bám chặt trong tâm, thiên chấp và tùy miên đối với thức — khi chúng đã tận diệt, tan biến, chấm dứt, được từ bỏ và buông xả, tôi hiểu rõ: tâm tôi đã được giải thoát. Này chư Hiền, tôi biết như vậy, thấy như vậy về năm thủ uẩn này, nên tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.’ Này các Tỷ-kheo, hãy nói ‘Lành thay!’ để tán thành và tùy hỷ với lời nói của vị Tỷ-kheo ấy, sau khi nói ‘Lành thay!’ để tán thành và tùy hỷ, hãy đặt thêm câu hỏi:
‘Này Hiền giả, có sáu yếu tố này đã được Đức Thế Tôn — bậc Biết, bậc Thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác — khéo giảng nói. Sáu yếu tố nào? Yếu tố đất, yếu tố nước, yếu tố lửa, yếu tố gió, yếu tố hư không, yếu tố thức — sáu yếu tố này, này Hiền giả, đã được Đức Thế Tôn — bậc Biết, bậc Thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác — khéo giảng nói. Nhưng Tôn giả biết như thế nào, thấy như thế nào về sáu yếu tố này, mà tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ?’ Này các Tỷ-kheo, với vị Tỷ-kheo đã dứt sạch lậu hoặc, đã sống trọn đời phạm hạnh, đã làm xong việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích của mình, đã dứt tận các kiết sử của sự tồn tại, đã giải thoát nhờ hiểu biết đúng đắn, thì theo Pháp, vị ấy sẽ trả lời như sau:
‘Này chư Hiền, tôi không xem yếu tố đất là tự ngã, cũng không xem có tự ngã nào nương tựa vào yếu tố đất. Và với những hướng tới, chấp thủ, chỗ bám chặt trong tâm, thiên chấp và tùy miên nương vào yếu tố đất — khi chúng đã tận diệt, tan biến, chấm dứt, được từ bỏ và buông xả, tôi hiểu rõ: tâm tôi đã được giải thoát. Này chư Hiền, tôi không xem yếu tố nước là tự ngã, cũng không xem có tự ngã nào nương tựa vào yếu tố nước. Và với những hướng tới, chấp thủ, chỗ bám chặt trong tâm, thiên chấp và tùy miên nương vào yếu tố nước — khi chúng đã tận diệt, tan biến, chấm dứt, được từ bỏ và buông xả, tôi hiểu rõ: tâm tôi đã được giải thoát. Này chư Hiền, tôi không xem yếu tố lửa là tự ngã, cũng không xem có tự ngã nào nương tựa vào yếu tố lửa. Và với những hướng tới, chấp thủ, chỗ bám chặt trong tâm, thiên chấp và tùy miên nương vào yếu tố lửa — khi chúng đã tận diệt, tan biến, chấm dứt, được từ bỏ và buông xả, tôi hiểu rõ: tâm tôi đã được giải thoát.
Này chư Hiền, tôi không xem yếu tố gió là tự ngã, cũng không xem có tự ngã nào nương tựa vào yếu tố gió. Và với những hướng tới, chấp thủ, chỗ bám chặt trong tâm, thiên chấp và tùy miên nương vào yếu tố gió — khi chúng đã tận diệt, tan biến, chấm dứt, được từ bỏ và buông xả, tôi hiểu rõ: tâm tôi đã được giải thoát. Này chư Hiền, tôi không xem yếu tố hư không là tự ngã, cũng không xem có tự ngã nào nương tựa vào yếu tố hư không. Và với những hướng tới, chấp thủ, chỗ bám chặt trong tâm, thiên chấp và tùy miên nương vào yếu tố hư không — khi chúng đã tận diệt, tan biến, chấm dứt, được từ bỏ và buông xả, tôi hiểu rõ: tâm tôi đã được giải thoát. Này chư Hiền, tôi không xem yếu tố thức là tự ngã, cũng không xem có tự ngã nào nương tựa vào yếu tố thức.
Và với những hướng tới, chấp thủ, chỗ bám chặt trong tâm, thiên chấp và tùy miên nương vào yếu tố thức — khi chúng đã tận diệt, tan biến, chấm dứt, được từ bỏ và buông xả, tôi hiểu rõ: tâm tôi đã được giải thoát. Này chư Hiền, tôi biết như vậy, thấy như vậy về sáu yếu tố này, nên tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.’ Này các Tỷ-kheo, hãy nói ‘Lành thay!’ để tán thành và tùy hỷ với lời nói của vị Tỷ-kheo ấy, sau khi nói ‘Lành thay!’ để tán thành và tùy hỷ, hãy đặt thêm câu hỏi: ‘Này Hiền giả, có sáu xứ gồm cả trong và ngoài này đã được Đức Thế Tôn — bậc Biết, bậc Thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác — khéo giảng nói. Sáu xứ nào?
Mắt và các sắc, tai và các tiếng, mũi và các mùi, lưỡi và các vị, thân và các xúc chạm, ý và các pháp — sáu xứ gồm cả trong và ngoài này, này Hiền giả, đã được Đức Thế Tôn — bậc Biết, bậc Thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác — khéo giảng nói. Nhưng Tôn giả biết như thế nào, thấy như thế nào về sáu xứ trong và ngoài này, mà tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ?’ Này các Tỷ-kheo, với vị Tỷ-kheo đã dứt sạch lậu hoặc, đã sống trọn đời phạm hạnh, đã làm xong việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích của mình, đã dứt tận các kiết sử của sự tồn tại, đã giải thoát nhờ hiểu biết đúng đắn, thì theo Pháp, vị ấy sẽ trả lời như sau:
‘Này chư Hiền, đối với mắt, đối với sắc, đối với nhãn thức, đối với các pháp được nhận biết bằng nhãn thức — phàm có ham muốn gì, tham gì, vui thích gì, khát ái gì, và những hướng tới, chấp thủ, chỗ bám chặt trong tâm, thiên chấp và tùy miên — khi chúng đã tận diệt, tan biến, chấm dứt, được từ bỏ và buông xả, tôi hiểu rõ: tâm tôi đã được giải thoát. Này chư Hiền, đối với tai, đối với tiếng, đối với nhĩ thức, đối với các pháp được nhận biết bằng nhĩ thức — phàm có ham muốn gì, tham gì, vui thích gì, khát ái gì, và những hướng tới, chấp thủ, chỗ bám chặt trong tâm, thiên chấp và tùy miên — khi chúng đã tận diệt, tan biến, chấm dứt, được từ bỏ và buông xả, tôi hiểu rõ: tâm tôi đã được giải thoát.
Này chư Hiền, đối với mũi, đối với mùi, đối với tỷ thức, đối với các pháp được nhận biết bằng tỷ thức — phàm có ham muốn gì, tham gì, vui thích gì, khát ái gì, và những hướng tới, chấp thủ, chỗ bám chặt trong tâm, thiên chấp và tùy miên — khi chúng đã tận diệt, tan biến, chấm dứt, được từ bỏ và buông xả, tôi hiểu rõ: tâm tôi đã được giải thoát. Này chư Hiền, đối với lưỡi, đối với vị, đối với thiệt thức, đối với các pháp được nhận biết bằng thiệt thức — phàm có ham muốn gì, tham gì, vui thích gì, khát ái gì, và những hướng tới, chấp thủ, chỗ bám chặt trong tâm, thiên chấp và tùy miên — khi chúng đã tận diệt, tan biến, chấm dứt, được từ bỏ và buông xả, tôi hiểu rõ: tâm tôi đã được giải thoát.
Này chư Hiền, đối với thân, đối với xúc chạm, đối với thân thức, đối với các pháp được nhận biết bằng thân thức — phàm có ham muốn gì, tham gì, vui thích gì, khát ái gì, và những hướng tới, chấp thủ, chỗ bám chặt trong tâm, thiên chấp và tùy miên — khi chúng đã tận diệt, tan biến, chấm dứt, được từ bỏ và buông xả, tôi hiểu rõ: tâm tôi đã được giải thoát. Này chư Hiền, đối với ý, đối với pháp, đối với ý thức, đối với các pháp được nhận biết bằng ý thức — phàm có ham muốn gì, tham gì, vui thích gì, khát ái gì, và những hướng tới, chấp thủ, chỗ bám chặt trong tâm, thiên chấp và tùy miên — khi chúng đã tận diệt, tan biến, chấm dứt, được từ bỏ và buông xả, tôi hiểu rõ: tâm tôi đã được giải thoát.
Này chư Hiền, tôi biết như vậy, thấy như vậy về sáu xứ trong và ngoài này, nên tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.’ Này các Tỷ-kheo, hãy nói ‘Lành thay!’ để tán thành và tùy hỷ với lời nói của vị Tỷ-kheo ấy; sau khi nói ‘Lành thay!’ để tán thành và tùy hỷ, hãy đặt thêm câu hỏi: ‘Nhưng Tôn giả biết như thế nào, thấy như thế nào, mà đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở bên ngoài, cái ‘tôi là người làm’, cái ‘của tôi’, và tùy miên kiêu mạn đã được nhổ tận gốc?’ Này các Tỷ-kheo, với vị Tỷ-kheo đã dứt sạch lậu hoặc, đã sống trọn đời phạm hạnh, đã làm xong việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích của mình, đã dứt tận các kiết sử của sự tồn tại, đã giải thoát nhờ hiểu biết đúng đắn, thì theo Pháp, vị ấy sẽ trả lời như sau:
‘Này chư Hiền, trước kia, khi còn là người tại gia, tôi còn thiếu hiểu biết. Như Lai, hoặc một đệ tử của Như Lai, đã thuyết Pháp cho tôi. Nghe Pháp ấy rồi, tôi khởi được lòng tin nơi Như Lai. Có được lòng tin ấy, tôi suy xét như sau: “Đời sống gia đình chật hẹp, là con đường của bụi bặm; đời sống xuất gia rộng mở như hư không. Người sống tại gia thật khó sống đời phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng sạch như vỏ ốc xà cừ đã được mài giũa. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.” Này chư Hiền, sau một thời gian, tôi từ bỏ khối tài sản nhỏ hay khối tài sản lớn, từ bỏ vòng quyến thuộc nhỏ hay vòng quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Sau khi xuất gia như vậy, tôi thọ trì học giới và nếp sống của các Tỷ-kheo. Tôi từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh, bỏ gậy, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng thương xót, sống vì lợi ích và với lòng thương xót cho mọi loài hữu tình. Tôi từ bỏ việc lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho, chỉ lấy những gì được cho, chỉ mong những gì được cho, tự sống trong sạch, không trộm cắp. Tôi từ bỏ việc không giữ phạm hạnh, sống đời phạm hạnh trong sạch, sống tách biệt, tránh xa việc dâm dục tầm thường của người đời. Tôi từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, nói lời chân thật, gắn bó với sự thật, vững chắc, đáng tin cậy, không lừa dối người đời. Tôi từ bỏ nói lời chia rẽ, tránh xa nói lời chia rẽ: nghe điều gì ở chỗ này, tôi không đem nói ở chỗ kia để gây chia rẽ những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, tôi không đem nói với những người này để gây chia rẽ những người kia. Tôi hòa giải những người đang chia rẽ, nâng đỡ những người đang hòa hợp, vui trong hòa hợp, thích hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp.
Tôi từ bỏ nói lời thô ác, tránh xa nói lời thô ác; tôi nói những lời nhẹ nhàng, dễ nghe, dễ thương, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người yêu thích, làm nhiều người hài lòng. Tôi từ bỏ nói lời phù phiếm, tránh xa nói lời phù phiếm; tôi nói đúng lúc, nói lời chân thật, nói lời có ý nghĩa, nói về Pháp, nói về Luật; tôi nói những lời đáng được giữ gìn, đúng thời, có lý do, có giới hạn rõ ràng, gắn liền với lợi ích. Tôi tránh xa việc làm tổn hại đến hạt giống và cây cỏ; tôi ăn một bữa trong ngày, không ăn ban đêm, tránh xa việc ăn không đúng thời. Tôi tránh xa việc đi xem múa, hát, nhạc và các buổi trình diễn. Tôi tránh xa việc trang điểm, làm đẹp thân bằng vòng hoa, hương thơm và phấn son.
Tôi tránh xa giường cao và giường sang trọng. Tôi tránh xa việc nhận vàng và bạc, việc nhận thóc gạo chưa nấu chín, việc nhận thịt sống; việc nhận phụ nữ và trẻ gái, việc nhận tôi trai và tớ gái, việc nhận dê và cừu, việc nhận gà và heo, việc nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái, việc nhận ruộng nương và đất đai. Tôi tránh xa việc đi đưa tin và chạy việc sai phái, việc mua bán, việc gian lận bằng cân, bằng tiền và bằng đo lường, các việc hối lộ, lừa đảo, gian trá và xảo quyệt, việc cắt xẻo, giết hại, trói bắt, cướp đường, cướp phá và bạo lực. Tôi biết đủ với y để che chở thân, với thức ăn khất thực để nuôi bụng. Đi đến đâu, tôi cũng chỉ mang theo bấy nhiêu ấy mà đi.
Như con chim, bay đến đâu cũng chỉ mang theo đôi cánh của nó; cũng vậy, này chư Hiền, tôi biết đủ với y để che chở thân, với thức ăn khất thực để nuôi bụng. Đi đến đâu, tôi cũng chỉ mang theo bấy nhiêu ấy mà đi. Khi đã thành tựu nhóm giới cao quý này, tôi cảm nhận trong tâm niềm vui không lỗi lầm. Khi mắt thấy sắc, tôi không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng; nếu căn mắt không được thu thúc mà cứ để như vậy, những pháp xấu, không lành mạnh như tham lam và ưu phiền sẽ tràn vào chế ngự — vì lý do ấy, tôi thực hành thu thúc, tôi hộ trì căn mắt, tôi đạt được sự thu thúc căn mắt. Khi tai nghe tiếng, tôi không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng; nếu căn tai không được thu thúc mà cứ để như vậy, những pháp xấu, không lành mạnh như tham lam và ưu phiền sẽ tràn vào chế ngự — vì lý do ấy, tôi thực hành thu thúc, tôi hộ trì căn tai, tôi đạt được sự thu thúc căn tai.
Khi mũi ngửi mùi, tôi không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng; nếu căn mũi không được thu thúc mà cứ để như vậy, những pháp xấu, không lành mạnh như tham lam và ưu phiền sẽ tràn vào chế ngự — vì lý do ấy, tôi thực hành thu thúc, tôi hộ trì căn mũi, tôi đạt được sự thu thúc căn mũi. Khi lưỡi nếm vị, tôi không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng; nếu căn lưỡi không được thu thúc mà cứ để như vậy, những pháp xấu, không lành mạnh như tham lam và ưu phiền sẽ tràn vào chế ngự — vì lý do ấy, tôi thực hành thu thúc, tôi hộ trì căn lưỡi, tôi đạt được sự thu thúc căn lưỡi. Khi thân chạm xúc, tôi không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng; nếu căn thân không được thu thúc mà cứ để như vậy, những pháp xấu, không lành mạnh như tham lam và ưu phiền sẽ tràn vào chế ngự — vì lý do ấy, tôi thực hành thu thúc, tôi hộ trì căn thân, tôi đạt được sự thu thúc căn thân.
Khi ý biết pháp, tôi không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng; nếu căn ý không được thu thúc mà cứ để như vậy, những pháp xấu, không lành mạnh như tham lam và ưu phiền sẽ tràn vào chế ngự — vì lý do ấy, tôi thực hành thu thúc, tôi hộ trì căn ý, tôi đạt được sự thu thúc căn ý. Khi đã thành tựu sự thu thúc các căn cao quý này, tôi cảm nhận trong tâm niềm vui không vẩn đục. Khi đi tới, khi đi lui, tôi đều có tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh, tôi tỉnh giác; khi co, khi duỗi tay chân, tôi tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát và các y, tôi tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm, tôi tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện, tôi tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng, tôi tỉnh giác.
Khi đã thành tựu nhóm giới cao quý này, sự biết đủ cao quý này, sự thu thúc các căn cao quý này, và niệm cùng tỉnh giác cao quý này, tôi tìm đến chỗ ở vắng vẻ: rừng, gốc cây, núi, thung lũng, hang núi, bãi tha ma, rừng sâu, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, tôi ngồi xếp bằng, giữ thân thẳng, đặt niệm ngay trước mặt. Từ bỏ tham lam ở đời, tôi an trú với tâm không còn tham lam, gột sạch tâm khỏi tham lam. Từ bỏ sân hận và ác ý, tôi an trú với tâm không sân hận, lòng thương xót mong mọi loài hữu tình được tốt đẹp, gột sạch tâm khỏi sân hận và ác ý. Từ bỏ uể oải và buồn ngủ, tôi an trú không còn uể oải buồn ngủ, tưởng hướng về ánh sáng, có niệm và tỉnh giác, gột sạch tâm khỏi uể oải buồn ngủ.
Từ bỏ xao động và hối tiếc, tôi an trú không xao động, nội tâm lắng yên, gột sạch tâm khỏi xao động và hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, tôi an trú đã vượt qua nghi ngờ, không còn phân vân về các pháp lành mạnh, gột sạch tâm khỏi nghi ngờ. Sau khi từ bỏ năm triền cái này — những chướng ngại làm ô nhiễm tâm và làm trí tuệ yếu đi — tôi xa lìa các dục, xa lìa các pháp không lành mạnh, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc sinh từ sự xa lìa, còn có tầm và tứ. Khi tầm và tứ đã lắng yên, nội tâm an tịnh, tâm được nhất tâm, tôi chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc sinh từ định, không tầm, không tứ. Khi hỷ cũng đã phai đi, tôi an trú với tâm xả, có niệm và tỉnh giác, thân cảm nhận niềm vui mà các bậc thánh nói về người như vậy: ‘Có xả và có niệm, vị ấy an trú trong lạc’, chứng và trú thiền thứ ba.
Khi đã từ bỏ lạc và khổ, và niềm vui nỗi buồn trước đó đã chấm dứt, tôi chứng và trú thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả và niệm thanh tịnh. Khi tâm đã định tĩnh như vậy — thanh tịnh, trong sáng, không vẩn đục, không còn cấu uế, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động — tôi hướng tâm đến tuệ biết sự chấm dứt của các lậu hoặc. Tôi biết như thật: ‘Đây là khổ’; biết như thật: ‘Đây là nguồn gốc của khổ’; biết như thật: ‘Đây là sự diệt khổ’; biết như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’; biết như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’; biết như thật: ‘Đây là nguồn gốc của các lậu hoặc’; biết như thật: ‘Đây là sự diệt của các lậu hoặc’; biết như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt của các lậu hoặc’.
Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm tôi thoát khỏi lậu hoặc của dục, thoát khỏi lậu hoặc của sự tồn tại, thoát khỏi lậu hoặc của vô minh. Khi tâm đã giải thoát, tôi biết: ‘Tâm đã được giải thoát.’ Tôi hiểu rõ: ‘Sinh đã tận, đời phạm hạnh đã sống trọn, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’ Này chư Hiền, nhờ biết như vậy, thấy như vậy, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở bên ngoài, cái ‘tôi là người làm’, cái ‘của tôi’, và tùy miên kiêu mạn của tôi đã được nhổ tận gốc.’ Này các Tỷ-kheo, hãy nói ‘Lành thay!’ để tán thành và tùy hỷ với lời nói của vị Tỷ-kheo ấy; sau khi nói ‘Lành thay!’ để tán thành và tùy hỷ, hãy nói với vị ấy:
‘Thật là lợi ích cho chúng tôi, này Hiền giả, thật là điều tốt lành cho chúng tôi, này Hiền giả, khi chúng tôi được thấy một vị đồng phạm hạnh như Tôn giả!’” Đức Phật nói như vậy. Các Tỷ-kheo hài lòng, vui mừng với lời Đức Phật dạy. Hết Kinh Sáu Thanh Tịnh — bài thứ 2.