Hạnh của Bồ-tát Vessantara
Tiền thân Vessantara — bài dài nhất Hạnh Tạng: vị hoàng tử nổi tiếng bố thí từ thuở nhỏ, cho đi con voi chúa trắng nên bị dân xứ Sivi trục xuất lên núi Vaṅka. Trên đường đi và nơi rừng sâu, ngài cho tiếp cỗ xe, rồi cho cả hai con Jāli và Kaṇhājinā cho Bà-la-môn Jūjaka, cho cả hoàng hậu Maddī cho Sakka giả dạng đến xin. Bảy lần trái đất rúng động vì sức bố thí ấy — ngài cho đi những người thân yêu nhất, không phải vì ghét bỏ họ, mà vì quả vị Toàn Tri quý hơn tất cả. Bài thuộc ba-la-mật bố thí.
Điểm thực hànhCho đi điều mình yêu quý nhất mà tâm không đổi thay: không phải vì chán ghét, mà vì thấy rõ mục đích cao hơn.
Hạnh Tạng Phẩm Akitti Ba-la-mật bố thí 9 Hạnh của Bồ-tát Vessantara
là nữ nhân dòng Sát-đế-lỵ tên Phusatī.
Bà ấy là hoàng hậu yêu quý của (Chúa Trời) Sakka
vào những kiếp sống trước.
Nhìn thấy sự dứt tuổi thọ của bà ấy,
vị Chúa Trời đã nói điều này:
“Này quý phi, trẫm ban cho khanh mười điều ân huệ,
hãy chọn lựa theo như ý thích.”
Và khi được nói như vậy,
bà hoàng hậu ấy đã đáp lại (Chúa Trời) Sakka điều này:
“Thiếp có lỗi lầm gì vậy?
Phải chăng thiếp bị ngài ghét bỏ
khiến ngài lưu đày thiếp khỏi chốn bồng lai
như là ngọn gió thổi trốc gốc cây vậy?”
Và khi được nói như vậy,
vị (Chúa Trời) Sakka ấy đã đáp lại bà ta điều này:
“Chẳng phải khanh đã làm điều sai trái
và cũng chẳng phải là ta không yêu quý khanh.
Sở dĩ như thế ấy chính là vì tuổi thọ của khanh,
thời điểm tử vong sắp đến.
Hãy tiếp nhận mười điều ân huệ quý báu tối cao
đã được trẫm ban thưởng.”
Với mười điều ân huệ được (Chúa Trời) Sakka ban thưởng,
bà Phusatī ấy, hớn hở, mừng rỡ, vui sướng,
đã lựa chọn mười điều ân huệ
sau khi đã tính gộp luôn cả ta (vào các điều ân huệ ấy).
Mệnh chung từ nơi đó,
bà Phusatī ấy đã sanh vào dòng dõi Sát-đế-lỵ
ở thành phố Jetuttara
và đã kết hôn với Sañjaya.
Khi ấy, ta đã hạ sanh vào lòng bà Phusatī,
người mẹ yêu quý.
Do nhờ oai lực của ta,
người mẹ của ta đã luôn luôn hứng thú trong việc bố thí.
Bà bố thí cho những người không có tài sản, người không có của cải, người bệnh hoạn, người già cả,
người ăn xin, người đi đường,
các vị Sa-môn, các Bà-la-môn,
và những người bị khánh tận.
Sau khi mang thai ta được mười tháng,
bà Phusatī trong lúc đang đi quanh thành phố
đã sanh ta
ở giữa đường phố của những người thương buôn.
Tên của ta không liên quan đến họ mẹ,
cũng không xuất phát từ họ cha.
Ta đã được sanh ra ở đường phố của những người thương buôn,
vì thế ta đã là Vessantara.
Đến khi ta đã trở thành đứa bé trai
được tám tuổi tính từ lúc sanh,
khi ấy ta đã ngồi ở tòa lâu đài
và đã suy nghĩ về việc bố thí tặng vật.
Ta có thể bố thí tim, mắt,
luôn cả thịt và máu của mình.
Ta đã thông báo là ta có thể bố thí xác thân của mình
nếu có người van xin.
Trong khi ta đang suy xét về bản tánh
không dao động không hẹp hòi,
tại nơi ấy trái đất
với tràng hoa là khu rừng ở núi Sineru đã rúng động.
Mỗi nửa tháng,
vào ngày mười lăm và ngày cuối tháng là ngày trai giới,
ta đã cưỡi lên con voi Paccaya
và đã đi đến để bố thí tặng phẩm.
Những người Bà-la-môn từ lãnh thổ vương quốc Kaliṅga
đã đi đến gặp ta.
Họ đã cầu xin ta con long tượng
được xem là biểu hiện của sự thịnh vượng và may mắn:
“Xứ sở chúng tôi không có mưa, thức ăn hiếm hoi, đói kém trầm trọng.
Xin ngài hãy ban cho con long tượng cao quý,
toàn màu trắng,
tối thắng của loài voi.”
Ta bố thí điều mà những người Bà-la-môn yêu cầu ta;
ta không rung động.
Ta không thu giấu vật đang sở hữu.
Tâm ý của ta hoan hỉ trong việc bố thí.
(Nghĩ rằng): “Đối với ta, khi có được người cầu xin
thì sự từ chối là điều không đúng đắn.
Sự thọ trì của ta chớ có bị đổ vỡ.
Ta sẽ bố thí con voi vĩ đại.”
Sau khi nắm lấy con voi ở chiếc ngà
và rưới nước từ chiếc bình làm bằng ngọc quý
lên bàn tay,
ta đã cho con voi đến các vị Bà-la-môn.
Lại một lần nữa,
trong khi ta đang bố thí con voi tối thắng toàn màu trắng,
khi ấy trái đất
với tràng hoa là khu rừng ở núi Sineru cũng đã rúng động.
Do việc bố thí con voi ấy,
những người dân xứ Sivi giận dữ đã tụ họp lại
và đã trục xuất (ta) ra khỏi vương quốc của ta (nói rằng):
“Hãy cho ông ta đi đến ngọn núi Vaṅka.”
Trong khi bọn họ xua đuổi,
ta đã yêu cầu một ân huệ để tiến hành cuộc đại thí,
không dao động,
không hẹp hòi.
Khi được yêu cầu,
tất cả những người dân xứ Sivi đã ban cho ta một ân huệ.
Sau khi cho vỗ kêu hai chiếc trống lớn,
ta đã trao tặng món quà vĩ đại.
Lúc bấy giờ, tại nơi ấy có âm thanh ầm ĩ, ồn ào, ghê rợn vang lên.
Bởi sự bố thí (này),
họ đã lôi kéo ta đi;
một lần nữa ta đã trao tặng món quà vĩ đại.
Sau khi đã bố thí voi, ngựa, xe cộ,
tôi trai, tớ gái, trâu bò, của cải,
và đã ban phát cuộc đại thí,
vào khi ấy ta đã rời khỏi thành phố.
Sau khi rời khỏi thành phố,
ta đã quay người lại quan sát,
khi ấy trái đất
với tràng hoa là khu rừng ở núi Sineru cũng đã rúng động.
Sau khi bố thí cỗ xe bốn ngựa kéo,
ta đứng ở ngã tư đường,
chỉ một mình không người hầu cận,
và ta đã nói với Hoàng Hậu Maddī điều này:
“Này Maddī,
nàng hãy ẵm Kaṇhā(jinā),
con bé nhẹ và là em gái.
Ta sẽ ẵm Jāli bởi vì nó nặng và là anh trai.”
Maddī đã ôm lấy Kaṇhājinā
như thể ôm lấy đóa sen xanh hoặc đóa sen trắng.
Ta đã ôm lấy vị Sát-đế-lỵ Jāli
như thể ôm lấy bầu đựng nước bằng vàng.
Bốn người Sát-đế-lỵ,
dòng dõi quý tộc,
có vóc dáng mảnh mai,
tiến bước trên mặt đất lúc gồ ghề lúc bằng phẳng đi về hướng ngọn núi Vaṅka.
Chúng tôi đã hỏi những người đi cùng đường
hoặc theo hướng ngược lại
về lộ trình:
“Ngọn núi Vaṅka ở nơi nào?”
Nhìn thấy chúng tôi ở nơi ấy,
họ đã thốt lên lời thương xót.
Họ bày tỏ nỗi đau xót (nói rằng):
“Ngọn núi Vaṅka ở xa lắm.”
Nếu hai đứa trẻ nhìn thấy những cây có trái
ở trong khu rừng,
hai đứa trẻ bật khóc
vì nguyên nhân của những trái cây ấy.
Trông thấy hai đứa trẻ khóc lóc,
những cội cây cao lớn xum xuê
tự động khom mình xuống
đến gần hai đứa trẻ.
Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu phi thường khiến lông tóc rởn ốc này,
(hoàng hậu) Maddī,
với sự rạng rỡ ở toàn thân,
đã thốt lên lời tán thán (rằng):
“Quả thật là điều kỳ diệu phi thường ở thế gian
khiến lông tóc rởn ốc.
Những cội cây đã tự động khom mình xuống
bởi vì oai lực của Vessantara.”
Vì lòng thương xót hai đứa trẻ,
các hàng Dạ-xoa đã thâu ngắn đường đi;
chỉ nội trong ngày khởi hành
họ đã đi đến vương quốc Ceta.
Lúc bấy giờ có sáu mươi ngàn vị vua
cư ngụ ở Mātulā.
Tất cả đã chắp tay lên, than khóc,
và đã đi đến gần.
Ở tại nơi ấy,
sau khi trao đổi trò chuyện cùng với các vị vương tử xứ Ceta ấy,
rồi từ đó
bốn người đã đi đến ngọn núi Vaṅka.
Chúa Trời đã triệu tập vị Vissakamma
có đại thần lực (ra lệnh rằng):
“Khanh hãy khéo biến hóa ra một khu ẩn cư được xây dựng tốt đẹp
có gian nhà lá xinh xắn.”
Nghe theo lời của (Chúa Trời) Sakka,
vị Vissakamma có đại thần lực
đã khéo biến hóa ra một khu ẩn cư được xây dựng tốt đẹp
có gian nhà lá xinh xắn.
Sau khi đã đi sâu vào khu rừng
có ít tiếng động không có xáo trộn,
bốn người chúng tôi đã sống ở tại nơi ấy,
phía bên trong ngọn núi.
Khi ấy,
ta và Hoàng Hậu Maddī cùng với hai con là Jāli và Kaṇhājinā
đã sống ở khu ẩn cư
giúp nhau xóa tan nỗi niềm sầu muộn.
Trong khi chăm nom hai đứa trẻ,
ta không có đơn độc ở khu ẩn cư.
Nàng Maddī mang về trái cây;
nàng ấy nuôi dưỡng ba người.
Khi ta đang sống ở trong khu rừng,
có người khách đi đường đã đến gặp ta
và đã cầu xin cả hai người con của ta
là Jāli và Kaṇhājinā.
Khi trông thấy người cầu xin đi đến gần,
sự mừng rỡ đã sanh khởi ở ta.
Khi ấy, ta đã dắt cả hai người con
và đã trao tặng cho vị Bà-la-môn.
Khi ta dứt bỏ hai người con của chính bản thân
cho vị Bà-la-môn Jūjaka,
khi ấy trái đất
với tràng hoa là khu rừng ở núi Sineru cũng đã rúng động.
Hơn thế nữa,
(Chúa Trời) Sakka,
sau khi ngự xuống với dáng vóc vị Bà-la-môn,
đã cầu xin ta Hoàng Hậu Maddī là người vợ có giới hạnh và chung thủy.
Sau khi nắm lấy nàng Maddī ở cánh tay
và làm đầy hai bàn tay bụm lại với nước,
ta đã ban bố nàng Maddī cho vị ấy
với tâm ý và tư duy hoan hỷ.
Khi nàng Maddī đang được bố thí,
chư thiên ở cõi trời đã mừng rỡ.
Khi ấy,
trái đất với tràng hoa là khu rừng ở núi Sineru cũng đã rúng động.
Trong khi dứt bỏ (người con trai) Jāli,
người con gái Kaṇhājinā,
và Hoàng Hậu Maddī người vợ chung thủy,
ta đã không phải nghĩ ngợi với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
Cả hai người con không có bị ta ghét bỏ,
Hoàng Hậu Maddī không có bị ta ghét bỏ,
đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý;
vì thế ta đã bố thí những người thân yêu.
Vào một dịp khác nữa,
khi hội ngộ cùng cha mẹ ở tại khu rừng bao la,
trong khi bọn họ đang than khóc bi thảm
nói về nỗi niềm hạnh phúc và khổ đau.
Do sự tôn kính,
ta đã đến gặp song thân với sự hổ thẹn và ái ngại.
Khi ấy trái đất
với tràng hoa là khu rừng ở núi Sineru cũng đã rúng động.
Vào một dịp khác nữa,
ta cùng với thân quyến đã lìa khỏi khu rừng bao la
và đi vào thành phố tráng lệ
là kinh thành Jetuttara.
Khi ấy, bảy loại châu báu đã đổ xuống cơn mưa,
có đám mây lớn đã đổ tuôn mưa.
Lúc bấy giờ, trái đất
với tràng hoa là khu rừng ở núi Sineru cũng đã rúng động.
Ngay cả trái đất vô tư này
không nhận thức được nỗi niềm hạnh phúc và khổ đau,
nó cũng đã rung chuyển bảy lần
bởi vì năng lực bố thí của ta.
Nghĩa là
Người mẹ ruột của ta là bà Phussatī, thuộc dòng vua chúa. Bà, trong những kiếp sống trước, là hoàng hậu được Sakka yêu quý. Biết bà sắp hết tuổi thọ, chúa của chư thiên nói: 'Ta ban cho nàng mười điều ân huệ, hãy chọn theo ý thích.' Nghe nói vậy, hoàng hậu đáp lại Sakka: 'Thiếp có lỗi lầm gì? Phải chăng thiếp bị ngài ghét bỏ, nên ngài đuổi thiếp khỏi chốn tươi đẹp này, như ngọn gió thổi trốc gốc cây vậy?' Nghe vậy, Sakka đáp lại bà: 'Nàng không làm điều gì sai trái, và ta cũng không phải không yêu quý nàng. Chỉ vì tuổi thọ của nàng chỉ đến thế, lúc ra đi sắp đến. Hãy nhận mười điều ân huệ cao quý nhất mà trẫm ban cho.' Nhận mười điều ân huệ Sakka ban, bà Phussatī hớn hở, mừng rỡ, vui sướng, sau khi đã tính gộp cả ta vào trong đó, bà Phussatī đã chọn mười điều ân huệ. Ra đi từ nơi đó, bà Phussatī tái sinh vào dòng vua chúa ở thành Jetuttara và kết hôn với Sañjaya. Khi ta vào trong bụng bà Phussatī, người mẹ yêu quý. Nhờ oai lực của ta, mẹ ta luôn vui thích việc bố thí. Bà bố thí cho người không tài sản, không của cải, người bệnh, người già, người ăn xin, người đi đường, các vị Sa-môn, các Bà-la-môn, và những người khánh tận, không còn gì. Mang thai ta mười tháng, bà Phussatī đang đi quanh thành phố ở giữa đường phố của những người buôn bán, bà Phussatī đã sinh ta. Tên ta không theo họ mẹ, cũng không xuất phát từ họ cha. Ta sinh ra ở đường phố của giới thương buôn, vì thế ta tên là Vessantara. Khi ta là đứa bé trai, mới tám tuổi, ngồi trong tòa lâu đài, ta suy nghĩ về việc bố thí. 'Ta có thể cho tim, mắt, cả thịt và máu của mình. Ta tuyên bố có thể cho cả thân mình nếu có ai xin.' Khi ta suy xét về tánh mình — không dao động, không hẹp hòi — ngay tại nơi ấy, trái đất cùng núi Sineru với rừng cây bao quanh đã rúng động. Mỗi nửa tháng, vào ngày rằm và ngày trai giới cuối tháng, ta cưỡi con voi Paccaya và đi đến để bố thí. Các Bà-la-môn từ vương quốc Kaliṅga đến gặp ta. Họ xin ta con voi chúa được xem là điềm thịnh vượng và may mắn: 'Xứ chúng tôi không có mưa, thức ăn khan hiếm, đói kém trầm trọng. Xin ngài ban cho con voi chúa cao quý, toàn màu trắng, bậc nhất của loài voi.' 'Ta cho, không hề do dự, những gì các Bà-la-môn xin ta; Ta không giấu giữ vật mình có. Tâm ta hoan hỉ trong việc bố thí.' Ta nghĩ: 'Khi có người đến xin ta, từ chối là điều không nên. Nguyện giữ của ta không thể bị đổ vỡ. Ta sẽ cho con voi lớn.' Nắm lấy vòi con voi, dùng chiếc bình bằng ngọc quý rưới nước lên bàn tay, ta trao con voi cho các vị Bà-la-môn. Lại một lần nữa, khi ta bố thí con voi trắng bậc nhất, khi ấy trái đất cùng núi Sineru với rừng cây bao quanh cũng rúng động. Vì việc bố thí con voi ấy, dân xứ Sivi giận dữ tụ họp lại và trục xuất ta khỏi vương quốc, nói: 'Hãy đuổi ông ta đến núi Vaṅka.' Trong khi họ xua đuổi, lòng không dao động, không hẹp hòi, để tiến hành cuộc bố thí lớn, ta xin một ân huệ. Khi được ta yêu cầu, tất cả dân xứ Sivi ban cho ta một ân huệ. Cho đánh vang hai chiếc trống lớn rồi, ta trao tặng món quà lớn. Bấy giờ, nơi ấy vang lên tiếng ồn ào, ghê rợn lớn; Vì việc bố thí này, họ lôi kéo ta đi; một lần nữa ta lại trao tặng món quà lớn. Cho voi, ngựa, xe cộ, tôi trai, tớ gái, trâu bò, của cải, ban phát cuộc bố thí lớn xong, khi ấy ta rời khỏi thành phố. Rời thành phố rồi, ta quay người lại nhìn, khi ấy trái đất cùng núi Sineru cũng rúng động. Cho cỗ xe bốn ngựa rồi, ta đứng ở ngã tư đường, một mình, không người hầu cận, và nói với hoàng hậu Maddī: 'Này Maddī, nàng hãy ẵm Kaṇhājinā, con bé nhẹ cân và là em gái; Ta sẽ ẵm Jāli, vì nó nặng hơn và là anh trai.’ Như ôm đóa sen hồng hay sen trắng, Maddī ôm lấy Kaṇhājinā. Như ôm tượng vàng, ta ôm lấy Jāli, vị thuộc dòng vua chúa. Dòng dõi quý tộc, vóc dáng mảnh mai, bốn người thuộc dòng vua chúa, đi trên mặt đất khi gồ ghề khi bằng phẳng, chúng ta đi về hướng núi Vaṅka. Những người đi đường nào đến, dọc đường hay ngược chiều, chúng tôi hỏi họ về đường đi: 'Núi Vaṅka ở nơi nào?' Thấy chúng tôi ở đó, họ thốt lời thương xót. Họ bày tỏ nỗi đau xót: 'Núi Vaṅka ở xa lắm.' Nếu thấy ở trong rừng, hai đứa trẻ, những cây có trái, vì muốn những trái cây ấy, hai đứa trẻ bật khóc. Thấy hai đứa trẻ khóc, những cội cây cao lớn xum xuê tự khom mình xuống đến gần hai đứa trẻ. Thấy điều kỳ diệu phi thường, rởn cả tóc gáy này, kỳ diệu, khiến rởn cả tóc gáy, nàng thốt lên lời tán thán, hoàng hậu Maddī, toàn thân rạng rỡ. 'Thật là điều kỳ diệu phi thường trên đời, khiến rởn cả tóc gáy. Nhờ oai lực của Vessantara, những cội cây đã tự khom mình xuống.’ các vị Dạ-xoa rút ngắn đường đi; vì thương xót hai đứa trẻ, chỉ trong ngày khởi hành, họ đã đến vương quốc Ceta. Bấy giờ có sáu mươi ngàn vị vua cư ngụ ở Mātulā. Tất cả chắp tay lên, than khóc, và đi đến gần. Ở nơi ấy, sau khi trò chuyện, với dân xứ Ceta và các vương tử xứ Ceta, rồi từ đó bốn người đi đến núi Vaṅka. Vua trời cho gọi đến, Vissakamma, vị có đại thần lực: 'Hãy khéo dựng nên một khu ẩn cư tốt đẹp có gian nhà lá xinh xắn.' Nghe lời Sakka, Vissakamma có đại thần lực dựng nên khu ẩn cư tốt đẹp có gian nhà lá xinh xắn. Đi sâu vào khu rừng ít tiếng động, không xáo trộn, bốn người chúng tôi sống ở nơi ấy, bên trong ngọn núi. Ta và hoàng hậu Maddī, cùng cả Jāli và Kaṇhājinā, giúp nhau xóa tan nỗi sầu muộn, khi ấy sống ở khu ẩn cư. Trong khi chăm sóc hai đứa trẻ, ta luôn ở khu ẩn cư, không vắng mặt. Maddī mang trái cây về; nàng nuôi dưỡng ba người. Khi ta đang sống trong rừng, có người khách đi đường đến gặp ta và xin cả hai người con của ta là Jāli và Kaṇhājinā. Thấy người đến xin tiến lại gần, niềm mừng rỡ sanh khởi trong ta. Khi ấy, ta dắt cả hai con và trao tặng cho vị Bà-la-môn. Khi ta cho đi hai con của chính mình cho Bà-la-môn Jūjaka, khi ấy trái đất cùng núi Sineru cũng rúng động. Rồi Sakka lại ngự xuống, trong dáng vẻ một vị Bà-la-môn, đã xin ta hoàng hậu Maddī, người vợ có giới hạnh và chung thủy. Nắm lấy tay Maddī, làm đầy hai bàn tay chắp lại với nước, với tâm ý hoan hỷ, vững tin, ta đã trao Maddī cho vị ấy. Khi Maddī đang được trao đi, chư thiên trên trời mừng rỡ. Khi ấy, trái đất cùng núi Sineru cũng rúng động. Khi cho đi con trai Jāli, và hoàng hậu Maddī, người vợ chung thủy; khi dứt bỏ, ta không hề nghĩ ngợi, chỉ vì quả vị giác ngộ. Ta không ghét bỏ hai con, cũng không ghét bỏ hoàng hậu Maddī, đối với ta, quả vị Toàn Tri là quý nhất; vì thế ta đã cho đi những người thân yêu. Vào một dịp khác nữa, khi hội ngộ với cha mẹ trong khu rừng bao la, trong khi họ than khóc bi thảm, kể về nỗi niềm hạnh phúc và khổ đau. Với lòng tôn kính, ta đến gặp cha mẹ, lòng đầy hổ thẹn và ái ngại. Khi ấy trái đất cùng núi Sineru cũng rúng động. Vào một dịp khác nữa, ta cùng thân quyến rời khu rừng bao la và đi vào thành phố tráng lệ là kinh thành Jetuttara. Khi ấy, bảy loại châu báu đổ xuống như mưa, từ đám mây lớn tuôn mưa. Bấy giờ, trái đất cùng núi Sineru cũng rúng động. Ngay cả trái đất vô tri này, không biết hạnh phúc hay khổ đau, cũng rung chuyển bảy lần vì năng lực bố thí của ta.
Phần thứ chín — hạnh của Bồ-tát Vessantara.