Lịch Sử Đức Phật Maṅgala
Chương kể về đức Phật Maṅgala, vị Phật có hào quang vô song chiếu khắp mười ngàn thế giới: Ngài thọ ký cho Bồ-tát (khi ấy là Bà-la-môn Suruci), thành phố Uttara, cha là vua Uttara, mẹ là Uttarā, cây Bồ Đề là cây Nāga, tuổi thọ chín mươi ngàn năm, và tháp cao ba mươi do-tuần tại công viên Vessara.
Điểm thực hànhĐức Maṅgala được nhớ đến vì hào quang xua tan bóng tối — khi tâm mình tối tăm vì phiền não, hãy chủ động quay về ánh sáng của Pháp bằng cách nghe lại một bài pháp và xét lại tâm mình.
Phật Sử Lịch Sử Đức Phật Maṅgala
tên là Maṅgala
đã hủy diệt bóng tối ở thế gian
và nâng cao ngọn đuốc Chánh Pháp.
Hào quang của vị ấy là vô song,
vượt trội các đấng Chiến Thắng khác,
tiêu diệt ánh sáng mặt trăng mặt trời,
và rọi sáng mười ngàn thế giới.
Đức Phật ấy cũng đã giảng giải
về bốn Chân Lý cao quý tối thượng.
Những ai đã uống chất tinh túy của Chân Lý,
những vị ấy xua tan bóng tối mịt mùng.
Sau khi đạt đến quả vị Giác Ngộ vô song,
trong buổi thuyết giảng Giáo Pháp lần đầu tiên,
đã có sự lãnh hội lần thứ nhất
của một trăm ngàn koṭi vị.
Đức Phật đã thuyết giảng Giáo Pháp
ở cung điện của vị Chúa Trời.
Khi ấy đã có sự lãnh hội lần thứ nhì
của chín trăm ngàn koṭi vị.
Khi đức Chuyển Luân Vương Sunanda
đi đến gặp đấng Toàn Giác,
khi ấy đấng Toàn Giác đã gióng tiếng trống
cao quý tối thượng của Giáo Pháp.
Và khi ấy, những người tùy tùng của (đức vua) Sunanda
gồm có chín mươi koṭi vị.
Tất cả những người ấy không thiếu sót ai
đã trở thành tỳ khưu theo hình thức gọi đến.
Vị Đại Ẩn Sĩ Maṅgala
đã có ba lần tụ hội.
Cuộc hội tụ thứ nhất
gồm có một trăm ngàn koṭi vị.
Lần thứ nhì gồm có một ngàn koṭi vị.
Lần thứ ba gồm có chín mươi koṭi vị.
Khi ấy, là cuộc hội tụ
của các bậc Lậu Tận không còn ô nhiễm.
Vào lúc bấy giờ, ta là Bà-la-môn
tên Suruci,
là vị trì tụng, nắm vững chú thuật,
thành thạo ba bộ Vệ Đà.
Ta đã đi đến gặp
và đã quy y bậc Đạo Sư ấy.
Ta đã cúng dường hương thơm và tràng hoa
đến hội chúng có bậc Toàn Giác đứng đầu.
Sau khi cúng dường hương thơm và tràng hoa,
ta đã làm hài lòng (các vị) với món gavapāna.
Vị Phật ấy, đấng Tối Thượng Nhân Maṅgala,
cũng đã chú nguyện cho ta rằng:
“Trong vô lượng kiếp tính từ thời điểm này,
người này sẽ trở thành vị Phật.
đức Như Lai ra sức nỗ lực
Nghĩa là
Sau đức Phật Koṇḍañña, vị Lãnh Đạo tên là Maṅgala, đã diệt bóng tối trong thế gian và giương cao ngọn đuốc Pháp. Hào quang của Ngài là vô song, vượt trội các đấng Chiến Thắng khác, che khuất ánh sáng mặt trăng, mặt trời, và rọi sáng mười ngàn thế giới. Đức Phật ấy cũng giảng giải về bốn Chân Lý cao quý tối thượng. Những ai đã uống tinh túy của Chân Lý, những vị ấy xua tan bóng tối lớn. Sau khi đạt quả Giác Ngộ vô song, trong buổi thuyết Pháp đầu tiên, của một trăm ngàn koṭi vị. đã có lần lãnh hội thứ nhất ở cung điện của vị Chúa Trời. Đức Phật đã thuyết giảng Giáo Pháp Khi ấy, của chín trăm ngàn koṭi vị. đã có lần lãnh hội thứ nhì Khi đức Chuyển Luân Vương Sunanda đi đến gặp đấng Toàn Giác, khi ấy đấng Toàn Giác gióng tiếng trống cao quý tối thượng của Giáo Pháp. Và khi ấy, những người tùy tùng của (đức vua) Sunanda gồm có chín mươi koṭi vị. Tất cả những người ấy, không thiếu một ai, đều trở thành Tỷ-kheo qua lời gọi “Hãy đến, Tỷ-kheo”. Có ba lần tụ hội, của vị Đại Ẩn Sĩ Maṅgala. gồm có một trăm ngàn koṭi vị. Lần tụ hội thứ nhất Lần thứ nhì gồm có một trăm ngàn koṭi vị. Lần thứ ba gồm có chín mươi koṭi vị. của các bậc đã hết lậu hoặc, không còn ô nhiễm. Khi ấy, là cuộc tụ hội Vào lúc bấy giờ, ta là Bà-la-môn tên Suruci, là vị trì tụng, nắm vững chú thuật, thành thạo ba bộ Vệ Đà. Ta đã đi đến gặp và đã quy y bậc Đạo Sư ấy. đến hội chúng có bậc Toàn Giác đứng đầu. Ta đã cúng dường hương thơm và tràng hoa Sau khi cúng dường hương thơm và tràng hoa, ta đã làm hài lòng (các vị) bằng món gavapāna (đồ uống bằng sữa). cũng thọ ký cho ta rằng: Vị Phật ấy, đấng Tối Thượng Nhân Maṅgala, “Trong vô lượng kiếp kể từ nay, người này sẽ trở thành vị Phật. Sau khi đã nỗ lực tinh tấn,
(Bản Pāli rút gọn đoạn này bằng dấu lược; nội dung đầy đủ là phần còn lại của lời thọ ký quen thuộc: Ngài sẽ giác ngộ tại cây Assattha, mẹ tên Māyā, cha tên Suddhodana, hai vị Thanh Văn đứng đầu là Kolita và Upatissa, vị thị giả là Ānanda, hai vị nữ Thanh Văn đứng đầu là Khemā và Uppalavaṇṇā, hai nam thí chủ hộ độ đứng đầu là Citta và Haṭṭhāḷavaka, hai nữ thí chủ hộ độ đứng đầu là Nandamātā và Uttarā, tuổi thọ là một trăm năm. Nghe lời thọ ký ấy, chư thiên và nhân loại hoan hỷ, ví như người qua sông hụt bến trên thì nắm lấy bến dưới mà sang được sông lớn.)
Nghe được lời nói của vị ấy,
ta đã tăng thêm niềm tín tâm.
Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng
để làm tròn đủ sự toàn hảo về mười pháp.
Khi ấy, trong lúc đang tăng trưởng niềm hoan hỷ
đối với việc đạt đến quả vị Toàn Giác cao quý,
ta đã cúng dường ngôi nhà của ta đến đức Phật
và đã xuất gia trong sự chứng minh của vị ấy.
Sau khi học tập toàn bộ Kinh và luôn cả Luật
tức là Giáo Pháp của bậc Đạo Sư
gồm chín thể loại,
ta đã làm rạng rỡ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.
Trong khi sống không xao lãng trong Giáo Pháp ấy,
sau khi tu tập pháp hành của Phạm Thiên
và làm toàn hảo các thắng trí,
ta đã đi đến thế giới của Phạm Thiên.
Thành phố có tên là Uttara,
vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Uttara,
người mẹ của vị Đại Ẩn Sĩ Maṅgala
tên là Uttarā.
Vị ấy đã sống ở giữa gia đình
trong chín ngàn năm.
Có ba tòa lâu đài tuyệt vời
là Yasavā, Sucimā, và Sirimā.
Có đầy đủ ba mươi ngàn phụ nữ
được trang điểm.
Nữ nhân ấy (người vợ) tên là Yasavatī.
Con trai tên là Sīvala.
Sau khi nhìn thấy bốn điều báo hiệu,
đấng Chiến Thắng đã ra đi bằng phương tiện ngựa
và đã ra sức nỗ lực
tám tháng không thiếu sót.
Được đấng Phạm Thiên thỉnh cầu,
vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng Maṅgala,
đã chuyển vận bánh xe (Chánh Pháp)
ở khu rừng Siri cao quý tối thượng.
Sudeva và Dhammasena
đã là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu.
Vị thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ Maṅgala
tên là Pālita.
Sīvalā và Asokā
đã là (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu.
Cội cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy
được gọi là “Cây Nāga.”
Nanda và luôn cả Visākha
đã là (hai) thí chủ hộ độ hàng đầu.
Anulā và luôn cả Sutanā
đã là (hai) nữ thí chủ hộ độ hàng đầu.
Bậc Đại Hiền Triết
cao tám mươi tám ratana.
Từ thân vị ấy phát ra
hàng trăm ngàn ánh hào quang.
Tuổi thọ được biết
là kéo dài đến chín mươi ngàn năm.
Trong khi tồn tại đến chừng ấy,
vị ấy đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
Cũng giống như sóng ở biển,
không thể nào tính đếm chúng được;
tương tợ y như thế, các Thinh Văn của Ngài
không thể nào tính đếm các vị ấy được.
Trong khi bậc Toàn Giác, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Maṅgala
còn hiện tiền,
vào khi ấy không có cái chết vẫn còn phiền não
ở trong Giáo Pháp của vị ấy.
Sau khi đã nâng đỡ ngọn đuốc Chánh Pháp,
sau khi đã giúp cho đại chúng vượt qua,
sau khi rực cháy như là cây cột khói,
vị có danh tiếng lớn lao ấy đã Niết Bàn.
Sau khi đã chỉ cho thế gian luôn cả chư thiên
thấy được bản chất cơ bản của các hành,
(vị ấy) đã phát cháy như là khối lửa,
tương tợ như mặt trời đã lặn.
Đức Phật Maṅgala đã Niết Bàn
tại công viên tên là Vessara.
Ngôi bảo tháp của đấng Chiến Thắng dành cho vị ấy
đã được dựng lên cao ba mươi do-tuần ở ngay tại nơi ấy.
Nghĩa là
chúng tôi sẽ gặp mặt vị kia.” Nghe lời nói của vị ấy, ta càng thêm niềm tin trong sáng. Ta đã quyết định sự thực hành tối thắng để làm trọn đủ mười pháp toàn hảo. Khi ấy, trong lúc nuôi lớn niềm hoan hỷ hướng đến quả Toàn Giác cao quý, ta đã dâng ngôi nhà của ta cho đức Phật và xuất gia trước mặt vị ấy. Kinh và luôn cả Luật, gồm chín thể loại, tức Giáo Pháp của bậc Đạo Sư; Sau khi học trọn toàn bộ, ta đã làm rạng rỡ Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Sống không buông lung trong Pháp ấy, sau khi tu tập pháp hành Phạm Thiên (tứ vô lượng tâm) và làm trọn các thắng trí, ta đã đi đến thế giới Phạm Thiên. Thành phố tên là Uttara, vị vua dòng Sát-đế-lỵ tên là Uttara, Người mẹ tên là Uttarā của vị Đại Ẩn Sĩ Maṅgala. trong chín ngàn năm. Vị ấy đã sống giữa gia đình Yasavā, Sucimā và Sirimā, là ba tòa lâu đài tuyệt vời. Có ba mươi ngàn phụ nữ được trang điểm. Người vợ tên là Yasavatī. Con trai tên là Sīvala. Thấy bốn điềm báo, đấng Chiến Thắng ra đi bằng ngựa trọn tám tháng. và nỗ lực tinh tấn Được Phạm Thiên thỉnh mời, vị Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng Maṅgala, đã chuyển bánh xe Pháp ở khu rừng Siri cao quý tối thượng. Sudeva và Dhammasena là hai vị Thanh Văn đứng đầu. Vị thị giả tên là Pālita của bậc Đại Ẩn Sĩ Maṅgala. Sīvalā và Asokā là hai vị nữ Thanh Văn đứng đầu. Cây Bồ Đề của đức Thế Tôn ấy được gọi là “Cây Nāga.” Nanda và Visākha là hai thí chủ hộ độ đứng đầu. Anulā và Sutanā là hai nữ thí chủ hộ độ đứng đầu. cao tám mươi tám ratana (khuỷu tay), Bậc Đại Hiền Triết Từ thân vị ấy phát ra hàng trăm ngàn tia hào quang. là chín mươi ngàn năm. Tuổi thọ được biết Sống đến chừng ấy, vị ấy đưa nhiều chúng sinh vượt qua (bờ mê). Như sóng ở biển cả, không thể nào đếm được chúng; cũng vậy, các Thanh Văn của Ngài không thể nào đếm được các vị ấy. Chừng nào bậc Toàn Giác còn hiện tiền, tức Maṅgala, đấng Lãnh Đạo Thế Gian, trong Giáo Pháp của vị ấy, không có cái chết còn mang phiền não khi ấy. Sau khi đã nâng đỡ ngọn đuốc Chánh Pháp, sau khi đã đưa đại chúng vượt qua, rực cháy như sao chổi (dhūmaketu), vị có danh tiếng lớn lao ấy nhập Niết-bàn. thấy được bản chất của các hành, Sau khi chỉ cho thế gian cùng chư thiên (vị ấy) cháy rực như khối lửa, như mặt trời đã lặn. Tại công viên tên là Vessara (Pāli: Vassara), Đức Phật Maṅgala nhập Niết-bàn Ngôi tháp của đấng Chiến Thắng dành cho vị ấy được dựng cao ba mươi do-tuần ngay tại nơi ấy.”
Hết phần thứ ba: lịch sử đức Phật Maṅgala.